Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 1

By | March 9, 2024

hoatieu.vn xin gửi đến thầy cô bài viết Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 1 theo quy định Thông tư 12/2019/TT-BGDĐT về chương trình bồi dưỡng thường xuyên thầy cô giáo măng non để thầy cô cùng tham khảo. Bài thu hoạch có chủ đề là Đạo đức nghề nghiệp của người thầy cô giáo măng non.

1. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 1 số 1

ĐẠO ĐỨC CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON TRONG GIAO TIẾP, ỨNG XỬ VỚI TRẺ MẦM NON

1. Nhà giáo phải có các tiêu chuẩn sau đây:

a. Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;

b. Đạt trình độ chuẩn được tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ;

c. Đủ sức khỏe theo đề xuất của nghề nghiệp;

d. Lý lịch bản thân rõ ràng.

2. Khái niệm đạo đức, đạo đức nhà giáo, đạo đức của người thầy cô giáo măng non.

+ Đạo đức nhà giáo: Đạo đức nhà giáo là phẩm giá của người thầy cô giáo được tạo nên do tu dưỡng, đoàn luyện theo các quy định, tiêu chuẩn, đề xuất….trong hoạt động nghề nghiệp của người thầy cô giáo và trong cuộc sống với nhân cách 1 nhà giáo, được thể xuất hiện bên ngoài qua nhận thức, thái độ và hành vi của họ.

+ Đạo đức của người thầy cô giáo măng non: Là những phẩm giá của người thầy cô giáo măng non được tạo nên do tu dưỡng, đoàn luyện theo các quy định, tiêu chuẩn, đề xuất…trong chăm nom và giáo dục trẻ e4m và trong cuộc sống với nhân cách 1 nhà giáo được thể xuất hiện bên ngoài qua nhận thức, thái độ, hành vi.

3. Phẩm chất đạo đức của người thầy cô giáo măng non trình bày ở những điểm sau:

a. Yêu nước, có niềm tin vào cơ chế xã hội chủ nghĩa.

– Trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

– Chấp hành tốt pháp luật Nhà nước, chủ trương, chế độ của Đảng và những qui định của ngành, của trường măng non.

– Có định hướng tốt trong đổi mới nội dung, bí quyết chăm nom, giáo dục, bảo vệ và nuôi dưỡng trẻ.

– Làm 1 công dân tốt có tinh thần bổn phận đối với xã hội, tham dự tăng trưởng văn hóa- xã hội của tập thể; mẫu mực trong hành vi giao ứng cứu xử là tấm gương cho trẻ noi theo.

b. Mến thương, tôn trọng và công bình với trẻ.

– Không phân biệt đối xử với trẻ và chất nhận sự nhiều chủng loại của trẻ;

– Tận tụy chăm nom trẻ và nhẫn nại trong giáo dục trẻ măng non.

– Xây dựng mối quan hệ thân tình, gần cận, quan tâm, chăm chút với trẻ ở các độ tuổi không giống nhau ( tuổi vườn trẻ và tuổi mẫu giáo)

– Coi trọng tính hăng hái, chủ động, thông minh tư nhân của trẻ măng non; khích lệ khuyến khích trẻ hăng hái tham dự vào hoạt động chung/nhóm;

– Xây dựng và duy trì việc phối hợp với gia đình trong việc chăm sóc-giáo dục trẻ; tuyên truyền về trẻ và bình thường thông tin về bí quyết giáo dục trẻ.

c. Yêu nghề, nhiệt huyết, gắn bó và có bổn phận cao với nghề nghiệp.

– Có tình cảm và yêu trẻ, có động cơ yêu nghề, đam mê thông minh, mau chóng thích nghi với cảnh huống mới.

– Có ý thích tự học, tự bồi dưỡng tăng lên nhận thức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ chăm nom – giáo dục trẻ trong độ tuổi.

– Có quan hệ tin tưởng thoải mái với người khác, cộng tác thiện ý, trau dồi kinh nghiệm tự hoàn thiện bản thân.

– Có nghĩ suy và ý kiến hăng hái, chấm dứt tốt các công tác được giao nhằm phục vụ với các đề xuất mới tiêu chí chăm nom – giáo dục, bảo vệ và nuôi dưỡng trẻ.

d. Có tinh thần tổ chức, có đạo đức tốt, mến thương đồng cảm với người khác, mềm mỏng, hiểu biết, thông minh, lối sống lành mạnh, thật thà, giản dị thích hợp với văn hóa dân tộc.

4. Đề nghị đạo đức tư cách của người thầy cô giáo măng non.

Dựa vào phẩm giá đạo đức trong mẫu hình tư cách của người thầy cô giáo măng non, các quy định về đạo đức người thầy cô giáo măng non, trong giai đoạn chăm nom và giáo dục trẻ, thầy cô giáo cần tuân thủ các đề xuất sau:

– Yêu nghề, nhiệt huyết với nghề, có tinh thần gìn giữ danh dự, lương tâm nhà giáo; có ý thức kết đoàn, thương mến, giúp sức đồng nghiệp trong cuộc sống và trong công việc; có lòng bác ái, bao dong, khoan dung, đối xử hòa nhã với trẻ, đồng nghiệp, chuẩn bị giúp sức, bảo vệ quyền và ích lợi hợp lí chính đáng của trẻ, đồng nghiệp và tập thể, được đồng nghiệp, người dân tín nhiệm và trẻ yêu mến.

– Mến thương, tôn trọng và công bình với trẻ.

+ Không phân biệt đối xử với trẻ và bằng lòng sự nhiều chủng loại của trẻ.

+ Tận tụy chăm nom trẻ và nhẫn nại trong giáo dục măng non.

+ Xây dựng mối quan hệ thân tình, gần cận, quan tâm, chăm chút với trẻ ở các độ tuổi không giống nhau ( tuổi vườn trẻ và tuổi mẫu giáo)

+ Coi trọng tính hăng hái, chủ động, thông minh tư nhân của trẻ măng non; khích lệ khuyến khích trẻ hăng hái tham dự vào các hoạt động chung/nhóm.

+ Xây dựng và duy trì việc phối hợp với gia đình trong việc chăm nom – giáo dục trẻ; tuyên truyền về trẻ và bình thường thông tin về bí quyết giáo dục trẻ.

– Tân tụy với công tác; tiến hành đúng điều lệ, quy chế, nội duy của đơn vị, nhà trường, của ngành, chuẩn bị giải quyết gian truân để chấm dứt nhiệm vụ.

– Tham gia đóng góp xây dựng và tiến hành nội quy hoạt động của nhà trường.

– Thực hiện các nhiệm vụ được cắt cử.

– Thực hiện phê bình và tự phê tầm thường xuyên, nghiêm chỉnh; thường xuyên học tập tăng lên trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để chấm dứt tốt nhiệm vụ được giao, phục vụ đề xuất càng ngày càng cao của giáo dục.

– Chấp hành kỉ luật lao động, chịu bổn phận về chất lượng chăm nom, giáo dục trẻ ở nhóm lớp được cắt cử.

– Không có bộc lộ thụ động trong cuốc sống, trong chăm nom, giáo dục trẻ.

– Không vi phạm các quy định về hành vi nhà giáo ko được làm.

* – Giao tiếp, xử sự với trẻ măng non với trẻ măng non là giai đoạn tương tác của thầy cô giáo măng non với trẻ, những phản ứng hành vi của thầy cô giáo phát sinh trong giai đoạn giao tiếp với trẻ do những rung cảm tư nhân kích thích nhằm lĩnh hội, truyền đạt những kiến thức, vốn kinh nghiệm của tư nhân xã hội trong những cảnh huống nhất mực.

5. Những bộc lộ đạo đức của người thầy cô giáo măng non trong giao ứng cứu xử với trẻ.

Trong lúc giao tiếp, xử sự với trẻ, thầy cô giáo nên xem xét 1 số điểm sau:

– Trong chăm nom, giáo dục trẻ, cô giáo cần phải luôn mến thương trẻ như con, khôn khéo và thỏa mãn những nhu cầu căn bản của trẻ là: được ăn, được vui chơi và học tập. thầy cô giáo cần mến thương từng trẻ, mến thương trẻ như con em mình, điều đấy yêu cầu sự tận tụy và khôn khéo dịu dàng, mẫn cảm và tinh tế trong chăm nom và giáo dục trẻ. Muốn tương tự, trong giai đoạn giáo dục, thầy cô giáo tạo bầu ko khí đầm ấm như gia đình. Cùng lúc thầy cô giáo cần để mắt phục vụ đúng khi, kịp thời những nhu cầu căn bản của trẻ, giúp cho trẻ tăng trưởng 1 cách thuận tiện.

– Giáo viên cần dành mọi nghĩ suy , hành động ưu ái cho trẻ, vì trẻ, bảo đảm cho trẻ tăng trưởng tối đa những tiềm năng vốn có theo khoa học, theo tiêu chí tập huấn của ngành giáo dục măng non.

– Giao ứng cứu xử với trẻ bằng mà cử chỉ hành vi dịu hiền, nhẹ nhõm, linh hoạt, vui mừng, tạo cho trẻ 1 cảm giác an toàn, bình an, thoải mái lúc được tới trường, nhờ có cảm giác an toàn, trẻ mới biểu hiện tính hồn nhiên, thơ ngây, trắng trong của tuổi thơ. Điều này luôn nhắc nhở thầy cô giáo lấy xúc cảm trân thực của mình lúc xúc tiếp với trẻ, cảm xúc chân thật mà thiên về tình thương, nhẹ nhõm nhưng vui mừng, linh hoạt, thích hợp với tâm sinh lý của trẻ, gieo vào lòng trẻ những sắc thái xúc cảm hăng hái của con người.

– Trước mỗi cảnh huống, thầy cô giáo cần tĩnh tâm ko nên vội vã, hot nảy, nếu thầy cô giáo hot nảy thiếu kềm chế, sẽ có những hành vi ko hợ lý với trẻ, khi mà đấy, bất kỳ hành vi nào của thầy cô giáo đều được trẻ ghi dấu lại trong tâm não trẻ. Giáo viên nên mày mò kĩ những nguyên do dẫn tới nhưỡng bộc lộ hành vi thất thường của trẻ để có hướng khắc phục cân đối nhất.

– Giáo viên xử sự công bình với tất cả trẻ, ko phân biệt so sánh trẻ này với trẻ khác dành tình yêu và sự ân cần với tất cả các trẻ y chang, thầy cô giáo ko được quá ân cần nhiều tới 1 trẻ nào đấy. Do đấy, thầy cô giáo cần phải vừa ân cần tới cả lớp vừa phải ân cần tới từng trẻ. Mỗi trẻ có những đặc điểm riêng về thể chất, về nhu cầu, về thị hiếu, hứng thú, bản lĩnh…., thầy cô giáo cần nắm bắt được các đặc điểm đấy để có cách giáo ứng cứu xử thích hợp đối với trẻ.

– Tạo ra bầu ko khí gần gũi, linh hoạt trong suốt giai đoạn chăm nom và giáo dục trẻ là điều rất quan trọng, thầy cô giáo khi nào cũng trình bày gương mặt rạng rỡ, vồ vập, trìu mến, tạo cho trẻ cảm thấy mình đang được ân cần.

– Giáo viên cần hiểu trẻ, nên tìm những điểm mạnh điểm hăng hái của trẻ, để nêu gương cổ vũ trẻ tạo cho trẻ có được sự tự tin, phấn chấn.

– Cần tôn trọng trẻ, lắng tai quan điểm của trẻ và chuẩn bị trả lời mọi thắc mắc của trẻ, ko nên lờ đi trước quan điểm của trẻ.

– Cần linh động trong cách xử lý cảnh huống với trẻ, ko nên cứng nhắc vì mỗi trẻ là 1 các thể biệt lập, 1 tính cách và thị hiếu không giống nhau. Giáo viên cần hiểu trẻ và tạo nhiều thời cơ để trẻ được trình bày trong các cảnh huống không giống nhau.

6. Những giảm thiểu trong giao tiếp, xử sự của thầy cô giáo măng non đối với trẻ và tác động của nó tới sự tăng trưởng của trẻ măng non.

– Giáo viên chưa hiểu trẻ và nhu cầu của trẻ trong các hoạt động ở trường măng non, chưa thật sự để mắt, tập hợp, thu hút trẻ, cổ vũ trẻ tham dự vào các hoạt động, chưa tạo được ko khí thật sự vui mừng và kích thích những thích thú, hứng khởi cần có ở trẻ.

– Giáo viên thỉnh thoảng ko kềm chế được xúc cảm nên tác động tới trẻ. Nhiều thầy cô giáo cho rằng giờ ăn là dễ khiến cô giáo hot giận và khó chịu và thường cô giáo trách phạt trẻ bằng nhiều bề ngoài như đánh, giam giữ trẻ vào nhà vệ sinh, ép trẻ ăn…1 số thầy cô giáo do ko kìm chế được xúc cảm của bản thân nên vẫn còn hiện tượng hot giận, bực bõ, la mắng, trách móc trẻ. Điều này sẽ tác động nhiều tới tâm lý của trẻ như: trẻ sẽ cảm thấy khiếp sợ, ko tự tin, sợ tới trường…

– Trẻ trong lớp quá đông cũng tạo nhiều sức ép cho thầy cô giáo, thầy cô giáo sẽ thường xuyên bị căng thẳng, từ đấy nhưng tâm cảnh ko tốt.

– Do khối lượng công tác qáu hiều, sức ép của công tác khiến thầy cô giáo cảm thấy mỏi mệt cũng tác động nhiều tới giao tiếp với trẻ.

– Giáo viên có quan niệm sai trái lúc cho rằng trẻ tuổi này rất ngang bướng, lì lợm và phải giáo dục nghiêm khắc, phải trách phạt, la mắng cho trẻ biết sợ, biết chừa, thường cấm đoán và chỉ mong trẻ biết nghe lời.

* Nguyên nhân:

Kĩ năng giao ứng cứu xử của thầy cô giáo măng non với trẻ chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đấy có thể kể tới các nhân tố nhận thức, nhân tố ý kiến giáo dục, nhân tố về thuộc tính công tác và nhân tố về mối quan hệ trong công tác. Đây là những nguyên do căn bản tác động tới giao tiếp của thầy cô giáo măng non với trẻ. Cụ thêt:

– Về nhân tố nhận thức: Là sự hiểu biết của thầy cô giáo về luật pháp và đề xuất của đạo đức người thầy cô giáo măng non trong chăm nom và giáo dục trẻ. Ấy cũng là sự hiểu biết của thầy cô giáo về đặc lót lòng sinh lý của trẻ. Hiện nay, nhiều thầy cô giáo chưa hiểu và nắm vững những đề xuất về đạo đức của người thầy cô giáo, chưa hiểu và nắm vững các đặc lót lòng sinh lí của trẻ, nên trong giai đoạn giao ứng cứu xử với trẻ ko thỏa mãn được những nhu cầu của trẻ, tác động nhiều tới chất lượng chăm nom và giáo dục trẻ. Điều này cho thấy công việc giáo dục đạo đức trong ngành sư phạm chưa đích thực được ân cần đúng mức. Những tấm gương sáng về đạo đức nhà giáo hi sinh, tận tụy với trẻ chưa được xã hội khích lệ ân cần suy tôn kịp thời.

– Về ý kiến giáo dục trẻ: Nhiều thầy cô giáo có quan niệm sai trái trong giao ứng cứu xử với trẻ như để giáo dục trẻ nhanh nhất, hiệu quả nhất thì dọa nạt, trừng trị, trách mắng là bí quyết giáo dục hiệu quả. 1 số thầy cô giáo quá nghiêm khắc với trẻ, nghĩ rằng cần phải khiến cho trẻ biết sợ, biết vâng lới bằng những hình phạt nặng nề nhơ đánh, giam giữ trẻ vào nhà vệ sinh… Đây là ý kiến vô cùng sai trái của thầy cô giáo.

– Về thuộc tính công tác và cơ chế đãi ngộ của thầy cô giáo: Giáo viên măng non so với các bậc học khác phải làm việc nặng nhọc, khối lượng công tác nhiều, lại phải chịu nhiều sức ép như chất lượng giảng dạy, thanh tra, rà soát. Tuy n hiên cơ chế đãi ngộ với thầy cô giáo của nhà trường và địa phương ko thỏa đáng, điều đấy cũng ảng hưởng tới tâm lý thầy cô giáo và tác động tới việc giao tiếp, xử sự với trẻ. Mặt khác, số lượng trẻ trong lớp quá đông, có nhiều trẻ ngang bướng, ko nghe lời, hay quấy phá khiến thầy cô giáo bị căng thẳng, từ đấy dẫn tới hượng tượng quát mắng, đe dọa trẻ.

– Về các mối quan hệ trong công tác ( quan hệ với cấp trên, đồng nghiệp và phụ huynh): Sự ko thuận tiện trong các mối quan hệ này cũng khiến thầy cô giáo cảm thấy căng thẳng, mỏi mệt, bực bõ, điều đấy tác động nhiều dến hoạt động giao tiếp và xử sự với trẻ. Tỉ dụ: Sự lãnh đạo ko nhất quán và khách quan từ cấp trên; quan hệ với đồng nghiệp ko tốt, có nhiều dị đồng; việc phối liên kết với phụ huynhtrong chăm nom và giáo dục trẻ chưa tốt….

* Biện pháp đẩy mạnh nhận thức, thái độ đạo đức người thầy cô giáo măng non trong giao tiếp, xử sự với trẻ.

– Tăng mạnh nhận thức luật pháp, nhận thức về đề xuất/chuẩn mựcđạo đức của thầy cô giáo măng non, về đặc lót lòng sinh lí của trẻ con.

– Tăng lên nhận thức của thầy cô giáo măng non về đặc lót lòng sinh lý của trẻ.

* Biện pháp đoàn luyện hành vi đạo đức của người thầy cô giáo măng non

– Tổ chức đoàn luyện hành vi/lề thói đạo đức của thầy cô giáo măng non trong các cảnh huống giao tiếp, xử sự với trẻ măng non.

– Gigiết hại cung cấp và điều chỉnh thầy cô giáo măng non trong giao ứng cứu xử với trẻ măng non.

* Biện pháp bảo đảm các điều kiện để thầy cô giáo măng non tăng lên đạo đức trong giao tiếp, xử sự với trẻ.

– Tăng lên đạo đức của người cán bộ quản lí của nhà trường.

– Bảo đảm điều kiện làm việc, môi trường làm việc để giảm sức ép đối với thầy cô giáo măng non.

– Cổ vũ, đãi ngộ và suy tôn người thầy cô giáo măng non.

2. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 2

Ở Việt Nam, nghề giáo luôn được xã hội trân trọng, suy tôn là “nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”. Người dạy học được gọi là thầy giáo, cô giáo và được coi là “kỹ sư tâm hồn”, ko chỉ dạy chữ nhưng còn dạy cách làm người, tạo nên và tăng trưởng tư cách người học. Xã hội càng tôn trọng nghề dạy học càng yêu cầu rất cao năng lực và phẩm giá đạo đức của nhà giáo. Do thuộc tính đặc trưng của nhà giáo nên xã hội luôn mong muốn và đề xuất cao về đạo đức nghề nghiệp của họ.

Nhà giáo được xã hội suy tôn bởi sứ mạng trồng người cao cả. Các nhà tư tưởng, nhà giáo dục mập xưa và nay đều bình chọn rất cao vai trò của nhà giáo đối với sự nghiệp giáo dục, tăng trưởng xã hội. Luôn coi trọng phẩm giá đạo đức của nhà giáo, coi đấy là thành tố căn bản, nền móng trong tư cách nhà giáo. Ở phương Đông cổ điển, Nho giáo coi mối quan hệ thầy trò là 1 trong 3 mối quan hệ cốt lõi của xã hội: quân – thần, sư – đệ, phụ – tử và đề xuất “thầy ra thầy”, “trò ra tuồng”. Triết gia Hy Lạp cổ điển Platon cho rằng: người thợ giày tồi thì tổ quốc ko quá lo lắm, quần chúng sẽ phải xỏ những đôi giày xấu. Nhưng người thầy nhưng dốt nát, vô luân thì non sông sẽ hiện ra những người thấp kém xấu xa. Nghề dạy học lấy con người làm nhân vật để ảnh hưởng, làm chuyển đổi và tăng trưởng nhận thức, tư tưởng, tình cảm của người học. Các trị giá văn hóa của loài người qua bàn tay của người thầy được kết tinh và truyền thụ cho các lứa tuổi kế tiếp để tập huấn ra những con người có phẩm giá, năng lực chuyên dụng cho cho sự tăng trưởng của xã hội. Thành quả của giai đoạn lao động sư phạm là tập huấn ra những con người mới với tư cách hoàn chỉnh. Đạt được tiêu chí đấy, vai trò của nhà giáo rất quan trọng, họ vừa là người thiết kế, vừa là người xây đắp trong giai đoạn dạy học. Đạo đức của họ là tấm gương sống để người học noi theo. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn dò: “Dạy các cháu thì nói với các cháu chỉ là 1 phần, cái chính là phải cho các cháu trông thấy, bởi vậy những tấm gương thực tiễn là rất quan trọng. Muốn dạy cho trẻ con thành người tốt thì trước nhất các cô, các chú phải là người tốt”(1).

Ph.Ăngghen lúc bàn về đạo đức nghề nghiệp đã viết: “Trong thực tiễn, mỗi giai cấp và ngay cả mỗi nghề nghiệp đều có đạo đức riêng của mình”(2). Trong lao động sản xuất, trong hoạt động nghề nghiệp cần có những luật lệ, chuẩn mực đạo đức cộng với luật pháp để điều chỉnh hoạt động của các thành viên. Theo đấy, đạo đức nghề nghiệp là những luật lệ, chuẩn mực đề đạt mối quan hệ giữa con người với công tác, con người với con người nhằm điều chỉnh nhận thức, thái độ, hành vi của những người hoạt động trong 1 lĩnh vực nghề nghiệp dựa trên sức mạnh của dư luận xã hội và lương tâm của mỗi người nhằm phục vụ với yêu cầu đặc trưng do thuộc tính, đặc điểm nghề nghiệp đặt ra. Do đặc biệt nghề nghiệp không giống nhau nên kế bên những chuẩn mực đạo đức chung, mỗi nghề nghiệp lại có những luật lệ, chuẩn mực đạo đức đặc biệt, nhất là những hoạt động nghề nghiệp có thuộc tính chuyên môn hóa cao. Những nghề nghiệp liên can tới con người càng cần những đề xuất về đạo đức cao hơn. Chẳng hạn như nghề y – nghề trị bệnh cứu người yêu cầu đạo đức của người bác sĩ phải là “Danh y như từ mẫu”. Đối với nghề giáo cũng vậy, đạo đức nghề nghiệp của người thầy luôn phải được đề cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: đối với người Việt Nam nói riêng, người phương Đông khái quát, 1 tấm gương sáng còn hơn trăm bài diễn thuyết. Hoạt động dạy học được thực hiện bằng nhiều phương thức, trong đấy có 1 phương thức rất đặc trưng là lấy tư cách ảnh hưởng tới tư cách, dùng tư cách người thầy để cảm hóa học sinh. Do vậy, nhà giáo phải là tấm kiểu mẫu mực, luôn nêu gương về đạo đức để những trị giá tốt đẹp của người thầy được nhân lên biến thành bình thường ở người học. Đạo đức của họ gắn với đặc biệt của nghề dạy học mang tính mô phạm, chuẩn hóa rất cao, vừa dạy người, vừa dạy chữ, dạy nghề.

Đạo đức nghề nghiệp là nền móng trong tư cách nhà giáo. Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của họ được duy trì thành nề nếp trong nhà trường dựa trên hệ thống các mực thước, luật lệ đạo đức nhằm định hướng, điều chỉnh nhận thức, bình chọn thái độ, hành vi của nhà giáo thích hợp với đề xuất mô phạm của nghề dạy học. Với nghề dạy học, người dạy muốn chấm dứt tốt nhiệm vụ phải luôn thông thuộc về nghề nghiệp, điển hình về kiến thức khoa học, tư tưởng chính trị, văn hóa, đạo đức, lối sống. Như vậy, đạo đức nghề nghiệp của nhà giáo không hề là thành tố riêng biệt nhưng có quan hệ khăng khít với các thành tố khác trong tư cách của nhà giáo luôn gắn bó hữu cơ với năng lực, tài nghệ sư phạm của nhà giáo.

Phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cao nhất của nhà giáo là yêu nghề, yêu người. Những 5 60 của thế kỷ trước, Trường Bắc Lý ở nước ta đã vang lên thông điệp: “Tất cả vì học trò thân thương”. Thông điệp này đã nói lên chiều sâu về phẩm giá đạo đức của nhà giáo, có phẩm giá này nhà giáo sẽ có các phẩm giá cao quý nhất của đạo làm thầy. Tình yêu nghề, yêu người của nhà giáo càng thâm thúy thì càng ảnh hưởng mạnh bạo tới người học, biến thành những tấm gương cho người học noi theo và là 1 thành tố quan trọng để giai đoạn giáo dục đạt kết quả cao. Nội dung then chốt của chuẩn mực đạo đức này là sự toàn tâm, toàn ý với người học và nghề dạy học. Dù trong bất cứ cảnh ngộ nào cũng cố gắng dạy thật tốt, có ý chí cố gắng cố gắng vươn lên, mài miệt với từng bài giảng, thường xuyên đúc rút kinh nghiệm và áp dụng thông minh trong hoạt động sư phạm, như Bác Hồ nói: “Dù gian truân tới đâu cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt”.

Tình yêu nghề của nhà giáo còn trình bày ở niềm tin sư phạm thâm thúy, tôn trọng, yêu quý, bác ái, khoan dung, bao dong người học. Nhà giáo biết vui với cái vui, cái thành đạt của người học, song cũng biết buồn với cái buồn, cái thất bại của người học. Khi người học tân tiến, nhà giáo cảm thấy phấn chấn, song lúc người học làm điều sai thì người dạy cũng phải thấy trong đấy có phần lỗi của mình, ko vội trách người học nhưng trước nhất bản thân mình phải có sự day dứt. Đây là động lực giúp nhà giáo vươn lên chiếm lĩnh những đỉnh cao kiến thức, sư phạm và tu dưỡng đoàn luyện đạo đức nghề nghiệp. Coi sự nghiệp trồng người nhưng mình được tham dự là bổn phận thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của nhà giáo.

Trong thời đại kinh tế kiến thức, sự tăng trưởng mạnh bạo của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin truyền thông đang đặt ra đề xuất phải đổi mới nội dung, bí quyết dạy học. Sự đổi mới này trước nhất phải kể từ hàng ngũ nhà giáo. Nhà giáo giờ đây phải mài miệt lao động để cô đọng hệ thống tri thức, bảo đảm những tri thức này là căn bản nhất, đương đại nhất, hữu dụng nhất cho người học. Họ vừa phải biết giải thích cho người học, vừa phải biết thiết kế bài học, chỉ dẫn người học xây đắp, vừa phải biết dẫn dắt để người học lĩnh hội, tỉnh ngộ, vừa phải biết đưa người học thành người cộng tác, hiệp tác với thầy giáo, cô giáo, với bạn để tìm ra chân lý và thực hành chân lý 1 cách thông minh theo những tri thức đã được tiếp thu. Nhiệm vụ này rất nặng nề, mà nhà giáo không hề là thợ giảng nhưng phải là nhà giáo dục để hoàn thiện tư cách người học. Ở đấy, đạo đức nghề nghiệp là nền móng, động lực để nhà giáo chấm dứt sứ mạng vang dội của mình. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn dò: “Dù gian truân tới đâu cũng phải tiếp diễn thi đua dạy tốt và học tốt. Trên nền móng giáo dục chính trị và chỉ huy tư tưởng tốt, phải cố gắng tăng lên chất lượng văn hóa và chuyên môn nhằm thiết thực khắc phục các vấn đề do cách mệnh nước ta đề ra và trong 1 thời kì ko xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật”(3).

Nghề dạy học là 1 nghề lao động đặc trưng, yêu cầu phải đầu cơ thời kì và công huân nhiều, mà không hề là nghề có thu nhập cao. Trong nền kinh tế thị phần, việc trả công cho các đơn vị quản lý nghề được tính theo hao tổn sức lao động và hiệu quả làm việc. Giữa các nghề có sự cạnh tranh trong việc quyến rũ nguồn nhân công. Nghề nào có thu nhập cao hơn sẽ quyến rũ nguồn nhân công có chất lượng hơn. Trong những 5 vừa mới đây, mặc dầu ngành giáo dục đã được Đảng, Nhà nước ân cần, mà đời sống của nhà giáo vẫn còn rất nhiều gian truân, nhất là đối với các nhà giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Mùa tuyển sinh đại học, cao đẳng 5 2017 vừa mới đây, nhiều trường sư phạm có điểm trúng tuyển rất thấp. Ngành sư phạm chưa quyến rũ được thiên tài có nguyên do quan trọng là cơ chế đãi ngộ với nhà giáo còn kém quyến rũ.

Với truyền thống hiếu học và ý thức “tôn sư trọng đạo”, người thầy và nghề dạy học ở nước ta luôn được suy tôn. Trong thực tiễn có rất nhiều tấm gương các nhà giáo hết dạ yêu nghề. Họ đã hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp giáo dục và được rất nhiều lứa tuổi học sinh kính trọng. Có rất nhiều thầy, cô giáo, nhất là ở vùng sâu, vùng xa đã vượt qua rất nhiều gian truân về vật chất và ý thức để hiến dâng công huân, trí óc cho sự nghiệp “trồng người” vang dội. Tuy nhiên, trong những 5 vừa mới đây ngành giáo dục và xã hội ko khỏi đau lòng trước hiện tượng có những thầy cô giáo thiếu chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp như bạo hành, lăng nhục học trò, nhất là những vụ việc bạo hành trẻ con ở 1 số trường măng non. Thiếu kiểu mẫu trong lời nói, việc làm, bình chọn ko khách quan người học… Những hiện tượng này tuy chỉ là “con sâu bỏ rầu nồi canh”, mà dễ hình thành giận dữ và phản cảm trong xã hội. Những sự việc này nếu ko được nhìn nhận thấu đáo, khách quan sẽ dẫn tới bình chọn quy chụp nghề giáo và hàng ngũ thầy cô giáo hiện tại.

Để nhà giáo và đạo đức nghề nghiệp của họ được suy tôn thiết yếu những biện pháp căn bản. Trước hết, cần đẩy mạnh công việc giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đối với hàng ngũ nhà giáo hiện tại. Gắn hoạt động này với các phong trào, cuộc đi lại trong ngành giáo dục và việc “Học tập và tuân theo tư tưởng, đạo đức, cá tính Hồ Chí Minh”. Kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn, xử lý nghiêm những sai phép của 1 số thầy cô giáo vi phạm nhân cách và đạo đức nhà giáo. Những giải pháp này cần được tiến hành thường xuyên, dài lâu và bản chất để xây dựng hình ảnh nhà giáo mẫu mực, làm gương sáng cho học sinh noi theo.

Thực hiện giáo dục và tập huấn là quốc sách bậc nhất. Quốc sách ở đây không hề là lý thuyết hay khẩu hiệu nhưng phải trở thành chế độ và hành động thực tiễn. Do đấy, cần nắm bắt, khắc phục tốt ước vọng và các ích lợi chính đáng, thiết thực của hàng ngũ nhà giáo, để kịp thời khích lệ họ yên tâm công việc, ra công học tập, cố gắng trau dồi hơn nữa chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Quan tâm tiến hành tốt cơ chế giảm giá, khen thưởng, bảo đảm điều kiện làm việc, sinh hoạt đối với nhà giáo, nhất là những nhà giáo có trình độ, có học hàm, học vị cao, có nhiều hiến dâng cho sự nghiệp giáo dục và tập huấn. Mặt khác, lúc phê duyệt, khắc phục và đảm bảo các cơ chế, chế độ đối với hàng ngũ nhà giáo phải đích thực dân chủ, công khai, công bình, kịp thời, xác thực. Kiên quyết chiến đấu, lên án và giải quyết kịp thời mọi bộc lộ vi phạm trong tiến hành các cơ chế, chế độ của Đảng, Nhà nước, của ngành giáo dục đối với các nhà giáo.

Để xứng đáng với sứ mạng vang dội và cao cả trong sự nghiệp trồng người, xứng đáng với sự suy tôn và niềm tin yêu của xã hội, bản thân mỗi nhà giáo phải luôn có nhận thức đúng mực, thâm thúy về vị thế của nghề sư phạm, trọng trách cao cả của họ trong xã hội. Hăng hái tu dưỡng, đoàn luyện phẩm giá đạo đức, tác phong, lối sống để mỗi nhà giáo đích thực là những tấm gương sáng về tư cách, đạo đức cho học trò noi theo. Bởi lẽ, sự suy tôn, kính trọng đối với nhà giáo ko chỉ ở tri thức thâm uyên hay ở tài nghệ sư phạm nhưng quan trọng hơn cả là ở sự mô phạm về phẩm giá đạo đức, lòng yêu nghề, yêu trò và sự mẫu mực trong lối sống, ở trị giá cao cả và trắng trong của tư cách nhà giáo. Sự đoàn luyện, cố gắng này là thường xuyên, liên tiếp: “Đạo đức cách mệnh không hề trên trời sa xuống. Nó do chiến đấu, đoàn luyện dẻo dai hàng ngày nhưng tăng trưởng và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(4). Mặt khác, hàng ngũ nhà giáo phải ko dừng học tập và tự học tập để tăng lên trình độ về mọi mặt, phải luôn tìm tòi, thông minh và đổi mới trong nghiên cứu, giảng dạy. Những lề thói theo kiểu lối mòn, nếp cũ ko còn thích hợp cần được chỉnh sửa, ko được chấp nhận hay với trình độ hiện có của mình. Không được có thái độ khinh thường, hạ thấp và xem nhẹ vấn đề học tập và tự học tập tăng lên trình độ chuyên môn, trình độ lý luận, kĩ năng nghiệp vụ sư phạm, năng lực điều hành. Thực hiện nghiêm các quy định về chuẩn mực đạo đức nhà giáo do Bộ Giáo dục và Tập huấn quy định(5), cũng như các quy định của luật pháp cán bộ, công chức, nhân viên. Cùng lúc, nhà giáo phải luôn cách điệu chính mình bằng những kiến thức mới, những thông tin mới, bài giảng mới. Cần thuyết phục người học bằng chính sự thông thái về tri thức, trình độ chuyên môn và trí óc của mình. Các thầy, cô giáo cần có thái độ cương quyết chiến đấu, chặn đứng những nhận thức, hành vi ko đúng, những bộc lộ thụ động làm tác động tới uy tín, nhân phẩm, nhân cách của nhà giáo.

Các thầy, cô giáo phải đích thực là tấm gương sáng về đạo đức để người học noi theo. Đạo đức nghề nghiệp của hàng ngũ nhà giáo có vai trò rất quan trọng, góp phần quyết định tới chất lượng, hiệu quả hoạt động sư phạm và tăng lên chất lượng giáo dục – tập huấn của non sông. Mỗi nhà giáo phải luôn đoàn luyện đạo đức nghề nghiệp để xứng đáng với sự suy tôn và niềm tin yêu của xã hội.

Mời độc giả cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục tập huấn trong mục biểu mẫu nhé.

  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module MN17
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module MN18
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module MN16

#Bài #thu #hoạch #bồi #dưỡng #thường #xuyên #module #GVMN

Vik News