Văn mẫu lớp 9: Phân tích khổ 2 bài thơ Bếp lửa

By | March 8, 2024

Phân tích khổ 2 bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt mang đến dàn ý cụ thể, cùng 5 bài phân tách ngắn gọn, giúp các em học trò lớp 9 có thêm nhiều ý nghĩ mới để hoàn thiện bài viết của mình. Nhờ ấy, sẽ càng ngày càng học tốt môn Văn 9 hơn.

Khổ 2 bài thơ Bếp lửa chính là dòng hồi ức của tác giả về những kỉ niệm, những 5 tháng sống kế bên bà. Vậy mời các em cùng theo dõi bài viết dưới đây của Vik News để củng cố lại tri thức Ngữ văn 9 của mình.

Dàn ý phân tách khổ 2 bài thơ Bếp lửa

I. Mở bài:

  • Giới thiệu về tác giả Bằng Việt và bài thơ Bếp lửa
  • Giới thiệu nội dung khổ 2: những kỉ niệm 5 lên 4 tuổi

II. Thân bài:

– Dẫn dắt: từ hình ảnh bếp lửa đã khơi dậy xúc cảm về người bà đáng kính và những kỉ niệm 5 tác giả lên 4 tuổi

– Phân tích:

– Kỉ niệm của những 5 tháng lên 4 tuổi là mùi khói từ căn bếp của bà

Lên 4 tuổi cháu đã quen mùi khói

+ Mùi khói đã gợi dậy biết bao xúc cảm

– Hình ảnh người bố

  • Đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
  • Bươn trải vì cuộc sống khốn khó, mong gia đình thoát nghèo mà vẫn “đói mòn đói mỏi”

“đói mòn đói mỏi”: cái đói kéo dài dằng dai

=> Nạn đói 5 1945 hoành hành, cướp đi mạng sống của biết bao lăm người

=> Quá khứ hiện về nhuốm màu bi thảm

– “Nghĩ lại đến nay sống mũi còn cay”

  • Cái đói hoành hành đã khắc sâu vào tâm não đứa trẻ mới lên 4 tuổi
  • 1 tuổi thơ ko tràn trề sắc hồng như bao người vẫn nghĩ

– Liên hệ mở mang

– Khái quát lại nghệ thuật

  • Sử dụng thành ngữ “đói mòn đói mỏi”
  • Giọng thơ nặng trĩu nỗi đau
  • Chi tiết ngôn từ mộc mạc, giản dị

III. Kết bài:

  • Khái quát lại nội dung của khổ thơ.
  • Bình chọn, nhận xét, cảm nhận của tư nhân

Phân tích khổ 2 bài thơ Bếp lửa – Mẫu 1

Hình ảnh người bà lặng thầm, từng ngày từng giờ nhen nhóm ngọn lửa để sưởi ấm trái tim người cháu mến thương!

Người bà hiện lên với hình ảnh chắt chiu, cẩn thận tích góp từng hơi ấm khi tổ quốc đang trong cảnh đói kém, binh cách. Bà vẫn thầm lặng với khói bếp hun nhèm mắt cháu nhưng mà đem tấm lòng già lão của mình, nuôi dưỡng cháu hay cũng chính là măng non ngày mai của tổ quốc để mong tăng trưởng dân tộc. Tới những khổ thơ tiếp theo, người bà hiện lên qua lời kể của đứa cháu về những kỉ niệm 1 thời lúc cháu còn bé. Bà giống như người mẹ hiền đã nuôi dưỡng, và khuyên bảo cháu từng ngày. Có nhẽ nỗi nhớ mong da diết và sự thiếu thốn tình cảm của cha mẹ lúc xa nhà đã vơi bớt phần nào lúc có sự đùm bọc, mến thương chở che của người bà. Bà cũng là hình ảnh tiêu biểu của người nữ giới Việt Nam, dũng cảm mạnh bạo, đã hi sinh tình riêng đặt tình chung lên trên. Khi dặn cháu bố có gọi về chớ kể này kể nọ, cứ bảo nhà vẫn được bình an.

Vậy là bao lăm gian khổ, bao lăm nỗi đau và những khốn cùng túng bấn bà đã ghim lại trong lòng mình để làm hậu phương chắc chắn nơi tiền phương. Bà mang vẻ đẹp của người nữ giới Việt Nam truyền thống, chuẩn bị hi sinh mọi nỗi khổ cực của tình riêng để đặt tình chung lên trên, ấy chẳng hề là biểu lộ cao nhất của lòng yêu non sông, yêu kháng chiến và cách mệnh ấy ư. Bằng việt nghe đâu đã thổi tới tâm hồn người đọc sức mạnh của lòng yêu nước, sự dũng cảm và hi sinh mập lao qua hình tượng người bà. Càng về cuối, nỗi xúc động dâng trào lên càng khẩn thiết mãnh liệt làm cho hình ảnh người bà hiện lên càng chân thật và chân thật hơn bao giờ hết, làm điểm sáng của toàn thể bài thơ với những hành động và phẩm giá tuyệt đẹp. Bà là người nhóm lửa, giữ lửa và cũng là người làm cho ngọn lửa đó cháy sáng bất tử. Chính bà đã nhóm lên ngọn lửa ấm áp của thực tại, mà hơn hết bà cũng nhóm lên ngọn lửa của mến thương hồng lên để sưởi ấm cháu trong những phút yếu lòng, luộc khoai luộc sắn cho cháu ăn đỡ đói lòng, nối kết tình cảm kết đoàn với tình làng nghĩa xóm.

Như vậy, trái tim của bà chính là ngọn lửa của niềm tin, của thắng lợi của những tình cảm mến thương và những kỉ niệm thơ ấu làm hành trang nâng đỡ cháu trong suốt chặng đường dài sau này. Để rồi dù có đi xa, có khói trăm tàu, có điện trăm nhà thì cháu vẫn khôn nguôi nhắc nhở “ban mai này bà nhóm bếp lên chưa?”.

Phân tích khổ 2 bài thơ Bếp lửa – Mẫu 2

Trong cuộc đời, người nào cũng có riêng cho mình những kỉ niệm của 1 thời thơ ấu hồn nhiên, trắng trong. Những kỉ niệm đó là những điều thiêng liêng, thân thiện nhất, nó có sức mạnh phi thường nâng đỡ con người suốt hành trình dài và rộng của cuộc đời. Bằng Việt cũng có riêng 1 kỉ niệm, ấy chính là những tháng 5 sống bên bà, cùng bà nhóm lên cái bếp lửa thân yêu. Không chỉ thế, điều in đậm trong tâm não của Bằng Việt còn là tình cảm sâu đậm của 2 bà cháu. Chúng ta có thể cảm nhận điều ấy qua bài thơ Bếp lửa của ông.

Qua hồi ức và suy ngẫm của người cháu đang ở nước ngoài, bài thơ gợi lại những kỉ niệm xúc động về tình bà cháu cùng lúc trình bày lòng kính trọng, hàm ơn của cháu đối với bà, với gia đình, quê hương.

Hình ảnh bếp lửa như khơi dậy toàn thể hình ảnh của 1 tuổi thơ đầy khó khăn, vất vả của tác giả bên người bà của mình. Có thể nói “bếp lửa’ đã khơi nguồn xúc cảm về bà, những kỉ niệm như sống dậy:

Lên 4 tuổi cháu đã quen mùi khói5 đó là 5 đói mòn đói mỏiBố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy.

“Đói mòn đói mỏi” là 1 câu thành ngữ, gợi về 1 cái đói kéo dài khiến con người ta kiệt quệ. Những vần thơ như 1 thước phim tái tạo khoảng thời kì thơ ấu của cháu có nhiều khó khăn, thiếu thốn, mệt nhọc, có bóng đen kinh rợn của nạn đói 5 1945. Bao kỉ niệm ùa về, lay chuyển lòng người:

“Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháuNghĩ lại đến nay sống mũi còn cay!”

Mùi khói bếp cay nồng như đọng lại, mới ngày bữa qua. Nó nhấn mạnh xoáy sâu vào tâm thức thi sĩ. Đọc thơ nhưng mà ta cũng thấy cay cay nơi đầu mũi. Từ trong sương khói mờ mịt của tuổi nhi đồng, “bếp lửa” đã thổi bùng kỉ niệm của tuổi thiếu niên lúc tổ quốc còn trong cảnh chiến tranh.

Chính mùi khói đã xua đi cái mùi tử khí trên khắp các ngõ ngóc. Cũng chính cái mùi khói đó đã quyện lại và bám lấy tâm hồn đứa trẻ. Dù cho tháng 5 có trôi qua, những kí ức đó cũng sẽ để lại nhiều ít ấn tượng trong lòng đứa cháu để rồi lúc nghĩ lại lại thấy sống mũi còn cay. Là mùi khói làm cay mắt người người cháu hay chính là tấm lòng của người bà làm đứa cháu ko cầm được nước mắt?

Phân tích khổ 2 bài thơ Bếp lửa – Mẫu 3

Gia đình là cái nôi êm, tổ ấm, là điểm tựa chắc chắn của mỗi người. Vì lẽ ấy nhưng mà tình cảm gia đình đã chẳng còn lạ lẫm trong thơ ca Việt Nam từ muôn thuở. Cũng như bao thi sĩ khác, Bằng Việt đã dạn dĩ bộc bạch tình cảm thật tình của mình với người bà đáng kính qua bài thơ “Bếp lửa”. Đây là 1 trong những bài thơ rất hay và cảm động về tình cảm bà cháu và những 5 tháng sống bên bà nhưng mà khổ thơ thứ 2 đã bộc bạch được những kí ức tuổi thơ 5 lên 4 tuổi. Đọc thơ ta như được sưởi ấm cùng Bằng Việt hơi lửa ấm áp của tình người giàu ân tình, cao đẹp.

“Lên 4 tuổi cháu đã quen mùi khói………………………..……………Nghĩ lại đến nay sống mũi còn cay”

Bài thơ “Bếp lửa” được viết 5 1963 lúc đó Bằng Việt đang du học ngành luật ở nước ngoài. Bài thơ chính là lời tâm sự rủ rỉ nhẹ nhõm của đứa cháu ở nơi xa hướng về bà cũng nỗi nhớ quê hương, gia đình khắc khoải. Chiều sâu của nỗi nhớ nằm trong dòng kí ức của tuổi thơ và 1 tuổi thơ ko mấy may mắn và đặc sắc là 5 lên 4 tuổi:

“Lên 4 tuổi cháu đã quen mùi khói”

Kí ức 5 lên 4 tuổi hiện về trong hình ảnh của làn khói rồi khói hun. Ấy là dấu ấn về cuộc sống của 2 bà cháu trong những 5 ngày tháng xưa đó. Cũng trong hình ảnh làn khói mờ ảo là tình cảm lúc tỏ, lúc mờ, khi da diết lúc thì bâng khuâng. Tuổi thơ đó chẳng hề nhuộm 1 sắc hồng viên mãn nhưng mà là những tháng ngày của cái đói rình rập:

“Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy”

Hình ảnh của bố – rường cột gia đình hiện lên đầy xót xa: khô rạc ngựa gầy. Bố đang quyết tâm gượng gạo mình bươn trải cho cuộc sống gia đình mà có quyết tâm tới mức héo mòn nhựa sống thì vẫn ko đủ chăm lo toàn vẹn được cho cả gia đình. Hình như lời thơ đang hướng ta về với nạn đói 5 1945. Cái đói dằng dai, đeo bám đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm, hàng ngàn người. Tuổi thơ đó, thi sĩ đã phải chứng kiến 1 viễn tượng nhuốm màu bi thảm, khốn khổ. Tới đây giọng thơ như đang trĩu xuống làm nôn nao lòng người. Đọc thơ thôi sẽ 1 người nào ấy thấy nghẹn ngào và cũng sẽ có người nào ấy đã phải rơi lệ. Tất cả là 1 nỗi đau, 1 tuổi thơ thăng trầm chứ ko náo nhiệt, hài hước như mọi người từng nghĩ. Phcửa ải chăng kí ức, kỉ niệm quá sâu đậm để tới tận hiện giờ lúc nghĩ tới chính thi sĩ cũng còn phải thấy nghẹn lòng:

“Nghĩ lại đến nay sống mũi còn cay”

Ngôn ngữ thơ mộc mạc đã lay chuyển tâm can, khắc sâu vào lòng người về 1 quãng thời kì đầy gian khổ, mệt nhọc. Mùi khói từ bếp lửa của bà đã khơi dậy trong lòng người cháu những 5 tháng chẳng thể nào quên. Nơi đây tuy khốn khó mà lại đầy ắp tình cảm mến thương của bà:

“Đôi mắt càng già càng thấm thía mến thươngDù da dẻ khô đi tấm lòng ko hẹp lạiGiàu nhẫn nại bà còn hi vọng mãiChỉ mỗi ngày rắn lại ít lời thêm”

Giọng thơ khẩn thiết, trìu mến, trầm lắng tác giả đã kể cho ta nghe về kỉ niệm 5 lên 4 tuổi của mình cùng những hình ảnh chẳng thể nào quên. Đọc thơ, có 1 chút nghẹn ngào pha thêm sự xót xa đớn đau.

Phân tích khổ 2 bài thơ Bếp lửa – Mẫu 4

Bằng Việt thuộc lứa tuổi nhà văn trẻ được đoàn luyện và trưởng thành trong thời gian kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt nhưng mà, ngập tràn xúc cảm, đề tài thơ thường đi vào khai thác những kỉ niệm, những kí ức thời ấu thơ và gợi những mơ ước tuổi xanh.

Thành công nổi trội trước tiên của Bằng Việt là Bài thơ Bếp lửa (1963). Ấy là 1 bài thơ viết về tình bà cháu, tình gia đình gắn liền với tình quê hương tổ quốc. Tuổi thơ vất vả gian khổ cháu bên bà, là những gì nhưng mà đã đồng hành cháu tới suốt quãng đời trưởng thành con lại, mà những hình ảnh đẹp tươi, tình thương bà da diết ko ngăn nổi những ký ức ùa về:

“Lên 4 tuổi cháu đã quen mùi khói5 đó là 5 đói mòn đói mỏiBố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầyChỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháuNghĩ lại đến nay sống mũi vẫn còn cay!”

Hình như tuổi thơ đầy khó khăn đã ăn sâu và biến thành 1 nỗi ám ảnh trong tâm não của tác giả. Nhớ về những ngày tháng ấu thơ bên bà, tác giả sử cảm thu được mùi khói vẫn còn đang hăng nồng bên sống mũi. Cái mùi khói bếp đó, mùi khói không xa lạ nhưng mà cháu đã được chịu đựng bắt đầu từ cháu lên 4, mùi khói đã từng hun nhèm đôi mắt của cháu ngày xưa, mùi khói cay, khét vì củi ướt, ví sương nhiều và lạnh buốt.

Mùi khói đó đâu chỉ do ngọn lửa bập bùng từ bếp của bà, nhưng mà ấy còn là mùi khói của bom đạn, của chiến tranh, là niềm đau, nỗi khốn cùng, là những gian khổ, thiếu thốn của cuộc đời của 2 bà cháu nói riêng và những người dân Việt Nam khái quát trong những 5 kháng chiến chống Pháp đầy nặng nhọc, gian khó.

Tuổi thơ đó thật khó khăn, mệt nhọc và nặng nhọc. Tuổi thơ đó có cái bóng đen kinh rợn của nạn đói 5 1945. Cụm từ “đói mòn đói mỏi” đã diễn đạt xúc động về cái khổ của con người, của cuộc sống trong thời đoạn ấy. Ta chợt nhớ tới lời thơ của Tố Hữu mô tả cảnh ngộ dân chúng ta ngày đó:

“Con đói lả ôm lưng mẹ khócMẹ đợ con đấu thóc cầm hơiKiếp người cơm vãi cơm vãi rơiBiết đâu nẻo đất phương trời nhưng mà đi”.

Nỗi khổ đó đã được chi tiết hóa, hình tượng hóa bằng những cụ thể gợi tả:

“Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy”

Văn pháp kể, tả đan lồng vào nhau gây xúc chạnh lòng người. câu thơ vừa mô tả cái biểu lộ đáng sợ của “giặc đói”, vừa là nguyên cớ khiến đứa cháu phải sống với bà. Cái đói, cái nghèo lan tràn khắp xóm làng khiến người bố phải lên thành phố đánh xe cộng với con người gầy rộc đi vì ko đủ ăn, bỏ lại đứa con thơ cho người phụ nữ mến thương, .

Cảm nhận về nỗi nặng nhọc, đói khổ của tuổi ấu thơ, kỉ niệm như vẫn còn nguyên, tác giả chẳng thể nào quên:

“Nghĩ lại đến nay sống mũi còn cay!”

Cái cay, cái xót của cuộc sống đói khổ, khốn cùng thầm tới lồng xương, ống máu để tới hiện giờ, hơn mười 5 sau nghĩ lại, cái cảm giác “cay” đó vẫn còn nguyên lành nơi cánh mũi. Cái cay nơi sống mũi cứ lan tỏa, miên man trong tâm hồn người cháu. Hình như ấy là 1 nỗi niềm mang vị đau xót, nghẹn ngào lẫn mến thương.

Lời thơ giản dị, đậm chất văn xuôi. Người đọc như đang lạc vào 1 câu chuyện cổ tích về tuổi thơ của người cháu. Ở đây, bà là 1 bà tiên, luôn gắn bó, , chở che về cả ý thức lẫn vật chất cho cháu. Tình mến thương của bà, tấm lòng nhân đức của bà như xua tan đi bao đau thương, bao khổ đau chiến tranh. Khổ thơ đã biến thành 1 trong những khổ thơ gây xúc chạnh lòng người trong cả bài thơ.

Đoạn văn cảm nhận khổ 2 bài thơ Bếp lửa

Khổ thơ thứ 2 là dòng hồi ức của tác giả về những kỉ niệm của những 5 tháng sống kế bên bà. Lời thơ giản dị như lời kể, như những câu văn xuôi, như rủ rỉ, tâm sự, tác giả sử đang kể lại cho người đọc nghe về câu chuyện cổ tích tuổi thơ mình. Ví như trong câu chuyện cổ tích của những bạn cùng lứa khác có bà tiên, có phép màu thì trong câu chuyện của Bằng Việt có bà và bếp lửa. Trong những 5 đói khổ, người bà đã gắn bó bên tác giả, chính bà là người xua tan bớt đi cái ko khí kinh rợn của nạn đói 1945 trong tâm não đứa cháu. Cháu khi nào cũng được bà che chở, bà dẫu có đói cũng để cháu ko thiếu bữa ăn nào, bà đi mót từng củ khoai, đào từng củ sắn để cháu ăn cho khỏi đói:

Lên 4 tuổi cháu đã quen mùi khói5 đó là 5 đói mòn đói mỏiBố đi đánh xe khô rạc ngựa gầyChỉ nhớ khói, hun nhèm mắt cháuNghĩ lại đến nay sống mũi còn cay

.

#Văn #mẫu #lớp #Phân #tích #khổ #bài #thơ #Bếp #lửa

Vik News