Bài thu hoạch đối tượng Đảng

Kết nạp đảng và biến thành 1 thành viên của Đảng là niềm kiêu hãnh và mong ước của tất cả mọi người. Tuy nhiên, trước lúc được bằng lòng, bạn phải tiến hành viết bài thu hoạch nhân vật Đảng. Sau đây là mẫu bài thu hoạch mời bạn tham khảo.

BÀI THU HOẠCH LỚP BỒI DƯỠNG KẾT NẠP ĐẢNG

Họ và tên: ………………………………. Số quy trình:………..

Ngày tháng 5 sinh ………………………….

Quê quán …………………………………….

Chức vụ hoặc công tác đang làm: ……………………………..

Là thiện cảm Đảng của chi bộ: …………………………….

Thuộc đảng bộ ……………………………………………

……………, ngày ………..tháng …….. 5……….

CÂU HỎI

Câu 1:

Đồng đội hãy thể hiện 5 bài học béo của cách mệnh Việt nam được nêu trong Cương lĩnh 5 1991. Phân tích bài học nhưng đồng đội thấy tâm đắc nhất. Ý nghĩa của bài học này đối với công tác của đồng đội?

Câu 2:

Thực chất giai cấp người lao động của Đảng được trình bày ở những điểm cốt yếu nào trong Điều lệ Đảng?

Câu 3:

Đồng đội hãy phân tách sự cấp thiết của việc học tập và tuân theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Liên Hệ việc tiến hành cuộc chuyển động ở cơ quan, đơn vị đồng đội?

TRẢ LỜI

Câu 1:

Trcửa ải dài theo dòng lịch sử của giang sơn chúng ta có thể đơn giản nhận thấy 1 điều rằng cách mệnh Việt Nam đã đi hết từ chiến thắng này cho đến chiến thắng khác, dưới sư chỉ đạo của Đảng, có cương lĩnh, có đường lối soi sáng chỉ đường, tạo ra những trận chiến lịch sử lẫy lừng 5 châu, chấn động địa cầu, tạo ra cuộc sống bình an, no đủ và hạnh phúc cho toàn bộ dân tộc ta và được trường tồn đến hiện tại và mãi mãi

Nước đã đang bước vào quá trình hồi nhập nhập thế giới, cuộc sống càng ngày càng tăng trưởng mạnh bạo, giai đoạn công nghiệp hóa tiên tiến hóa càng ngày càng lên cao, trước những xu hướng mới đỏi hỏi Đảng ta phải có được cương lĩnh rõ ràng để chỉ lối cho những bờ bến hành phúc cho quần chúng, cho loài người, và cương lĩnh 5 1991 đã cho chúng ta thấy rõ được những đề nghị mang tính cấp thiết nhưng chúng ta phải tiến hành được để tô thêm những trang sử vàng cho sự thành công trong tuyến đường hội nhập của quốc gia.

Vậy 5 bài học béo của cách mệnh Việt Nam được nêu trong cương lĩnh 1991 được trình bày như thế nào? chúng ta cũng nhau đi mày mò:

Tổng kết thực tế hơn 60 5 của nước ta, trong ấy có 5 5 tiến hành đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra, từ những kinh nghiệm thành công và cả những kinh nghiệm chưa thành công, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã nêu ra được 5 bài học béo của cách mệnh Việt Nam:

1 là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Đây là bài học xuyên suốt giai đoạn cách mệnh nước ta, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo chắc chắn cho độc lập dân tộc. Hai vấn đề này có quan hệ hữu cơ với nhau. Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra công mạnh lớn béo của dân tộc trong tranh đấu cách mệnh, giành chiến thắng.

Hai là, Sự nghiệp cách mệnh là của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng. Để phát huy, nhân lên sức mạnh lớn lao của quần chúng, sự chỉ đạo và toàn thể hoạt động của Đảng phải xuất hành từ ích lợi và ước muốn chân chính của quần chúng, đại biểu trung thành cho ích lợi của quần chúng.

Ba là, ko dừng củng cố, tăng nhanh kết đoàn, kết đoàn toàn Đảng, kết đoàn toàn dân, kết đoàn dân tộc, kết đoàn quốc tế.Kết đoàn là truyền thống quý báu và là bài học lịch sử béo, dài lâu của dân tộc ta đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh áp dụng thành công, hình thành nguồn sức mạnh lớn béo để giành chiến thắng.

4 là, liên kết sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Sức mạnh dân tộc, sức mạnh trong nước là sức mạnh tổng hợp của nhiều nguồn lực. Sức mạnh thời đại, sức mạnh quốc tế trước nhất là sức mạnh của quy luật và xu hướng tăng trưởng chẳng thể đảo ngược của lịch sử loài người.

5 là, sự chỉ đạo đúng mực của Đảng là yếu tố bậc nhất đảm bảo chiến thắng của cách mệnh Việt Nam. Giữ vững và tăng nhanh sự chỉ đạo của Đảng là yếu tố quyết định bậc nhất đảm bảo chiến thắng của sự nghiệp cách mệnh nước ta. Để làm được điều ấy, phải xây dựng Đảng lớn mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên đổi mới phương thức chỉ đạo của Đảng phục vụ đề nghị của tình hình thực tiễn, đủ sức khắc phục các vấn đề do cuộc sống đặt ra.

Thực chất thì bản thân tôi hoàn toàn tâm đắc tất cả các bài học ở trên, trong tôi qua mỗi bài học tự rút ra được cho mình những bài học quý báu, những tri thức cẩn và đủ để có thể biến thành 1 đàng viên tốt, xong xuôi tốt nhiệm vụ được giao, và đóng góp vào sự tăng trưởng chung của Đảng, Nhà nước.

Từ cái nhìn khách quan và chi tiết nhất tôi cũng đưa ra được cho mình Bài học tâm đắc nhất ấy là ở bài học béo thứ 2:

Sự nghiệp cách mệnh là của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng”

Có thể khẳng định 1 điều rằng: Sự nghiệp cách mệnh là của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng. Để phát huy, nhân lên sức mạnh lớn lao của quần chúng, sự chỉ đạo và toàn thể hoạt động của Đảng phải xuất hành từ ích lợi và ước muốn chân chính của quần chúng, đại biểu trung thành cho ích lợi của quần chúng

8 mươi mốt 5 qua, dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và đoàn luyện, dân tộc ta đã vượt qua muôn ngàn gian khổ, thách thức, lập nên những kỳ tích lớn lao trong cách mệnh giải phóng dân tộc và xây dựng, tăng trưởng quốc gia, định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thắng lợi của Cách mệnh Tháng 8 5 1945 đã đưa quần chúng thoát khỏi cảnh bầy tớ lầm than, giành độc lập cho quốc gia, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi lớn lao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã bảo vệ và trở nên quả Cách mệnh Tháng 8 1945, giải phóng miền Bắc, kết thúc giai cấp thống trị của thực dân Pháp trên quốc gia ta, đưa cách mệnh nước ta bước sang quá trình mới, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp diễn thực hiện cách mệnh giải phóng ở miền Nam.

Trcửa ải qua 21 5 đấu tranh, quần chúng ta đã đánh thắng trận chiến tranh xâm lăng kiểu mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, chấm dứt vang dội 30 5 chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Non sông, kết thúc vĩnh viễn giai cấp thống trị kéo dài hơn 1 thế kỉ của chủ nghĩa thực dân trên quốc gia ta, xong xuôi về căn bản cuộc cách mệnh dân tộc dân chủ sở hữu dân trên cả nước, đất nước thu về 1 mối. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là chiến thắng lớn lao nhất trong sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo, ghi lại bước đột phá quyết định cho dân tộc Việt Nam tiến vào kỉ nguyên mới- kỉ nguyên độc lập, hợp nhất và chủ nghĩa xã hội.

Sau 30 5 chiến tranh giải phóng, cả nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là 1 trận chiến đấu “đồ sộ” để loại trừ những gì cũ kỹ lỗi thời, tạo ra những trị giá “mới mẻ, tươi tốt” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh.

Trong buổi đầu cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như trong giai đoạn đổi mới, dân tộc ta phải đối diện với bao thử thách, gian khổ gay gắt cả trong nước và quốc tế. Đặc trưng vào thập kỉ 90 của thế kỉ XX, trong bối cảnh quốc tế cực kỳ phức tạp và tình hình quốc gia gặp muôn ngàn gian khổ, các thần thế cừu địch ko dừng chống phá, nhưng mà với khả năng bền chí của 1 chính đảng cách mệnh và khoa học, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên trì chỉ tiêu nhưng Đảng, quần chúng đã chọn lọc, giữ vững vai trò chỉ đạo, chống chèo con thuyền cách mệnh vượt qua sóng gió, tiếp diễn tiến lên, thực hiện công cuộc đổi mới đạt nhiều thành quả quan trọng. Đảng đã đề ra và từng bước bổ sung, hoàn thiện đường lối cách mệnh 1 cách đúng mực, thông minh, bước đầu tạo nên 1 hệ thống các ý kiến và nguyên lý lãnh đạo công cuộc đổi mới, khai khẩn tuyến đường đi lên chủ nghĩa xã hội thích hợp với thực tiễn nước ta, kế thừa và phát huy trị giá văn hoá và bản sắc dân tộc. Đây là kết quả của 1 giai đoạn trằn trọc, tìm tòi, tổng kết, đổi mới tư duy lí luận, nhận thức đúng mực hơn về thực tế cách mệnh Việt Nam. Đảng càng ngày càng trưởng thành và có thêm kinh nghiệm chỉ đạo nghiệp xây dựng và bảo vệ quốc gia trong tình cảnh mới.

Xuyên suốt chặng đường hoạt động cách mệnh 80 5 qua, trong các Cương lĩnh (từ Cương lĩnh trước nhất 5 1930 tới Cương lĩnh xây dựng quốc gia trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, 5 1991), hay trong mọi chủ trương, đường lối, chế độ của Đảng đều trình bày rất rõ, Đảng ta ko có mục tiêu nào khác là tranh đấu cho tự do độc lập dân tộc và hạnh phúc của quần chúng. Quần chúng quần chúng là người làm nên lịch sử. “Sự nghiệp cách mệnh là của quần chúng, do quần chúng, và vì quần chúng. Chính quần chúng là người làm nên chiến thắng lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất hành từ ích lợi và ước muốn chân chính của quần chúng. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó khăng khít với quần chúng. Quan liêu, mệnh lệnh, xa vắng quần chúng sẽ đưa tới những tổn thất ko lường được đối với vận mệnh của quốc gia”.

6 đặc thù của xã hội xã hội chủ nghĩa nhưng quần chúng ta xây dựng cũng như những phương hướng căn bản trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Non sông nhưng Cương lĩnh 1991 của Đảng xác định đều toát lên địa điểm, vai trò của quần chúng; đều nhằm giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, hướng đến xây dựng cuộc sống no đủ, tự do, hạnh phúc, mỗi tư nhân đều có điều kiện tăng trưởng toàn diện; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng, lấy liên minh giai cấp người lao động với giai cấp dân cày và phân khúc trí thức làm nền móng, do Đảng Cộng sản chỉ đạo. Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của quần chúng, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm ích lợi của Non sông và của quần chúng

Triển khai đường lối đổi mới, tăng mạnh công nghiệp hóa, tiên tiến hóa của Đảng, nhằm chỉ tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bình, dân chủ, tân tiến, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chế độ đảm bảo và ko dừng tăng lên đời sống vật chất, ý thức của quần chúng; quyền dân chủ chính trị của quần chúng được khơi dậy, tôn trọng và càng ngày càng đề cao. Chính sách xã hội giai đoạn đổi mới hướng vào phát huy yếu tố con người trên cơ sở bảo đảm công bình, đồng đẳng về lợi quyền và bổn phận công dân; liên kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với văn minh xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống ý thức; giữa phục vụ các nhu cầu trước mắt với chăm lo ích lợi dài lâu; giữa tư nhân với số đông và số đông xã hội. Đặc trưng, đã tạo được những thành quả béo trong tiến hành chiến lược non sông xóa đói giảm nghèo và khắc phục việc làm, được toàn cầu ghi nhận và bình chọn cao. Cùng lúc, đã liên kết tốt các nguồn lực của Nhà nước và quần chúng, xây dựng nhiều công trình kết cấu cơ sở vật chất kinh tế, văn hóa, xã hội cho các vùng, miền. Chính trị- xã hội bình ổn; quốc phòng an ninh được tăng nhanh, quan hệ đối ngoại có những bước tăng trưởng mới, đã tạo thêm môi trường thuận tiện để Đảng và Nhà nước ta chỉ đạo tổ chức tiến hành tốt hơn các chương trình, chỉ tiêu tăng trưởng quốc gia.

Qua gần 25 5 đổi mới, quốc gia đã vượt qua thách thức hiểm nghèo, phá thế bủa vây cấm vận của các thần thế cừu địch, tăng trưởng kinh tế, văn hoá, xã hội, mở mang quan hệ quốc tế, tạo tiền đề chắc chắn để tiếp diễn tăng mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tăng mạnh công nghiệp hoá, tiên tiến hoá vì chỉ tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bình, dân chủ, tân tiến.

Tất cả thực tế phong phú, tấp nập, hào hùng của dân tộc ta trong 80 5 qua càng ngày càng khẳng định rõ hơn thẩm định của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc Đảng vừa tròn 30 tuổi:

“Đảng ta lớn lao như biển rộng, như núi cao

Ba mươi 5 cố gắng và chiến thắng biết bao lăm tình.

Đảng ta là đạo đức, là tân tiến,

Là hợp nhất, độc lập, là hoà bình no đủ”

Đảng ta thật là lớn lao là bởi vì ”ngoài ích lợi của giai cấp, của quần chúng, của dân tộc Đảng ta ko hữu ích ích gì khác”

Đảng ta lớn lao, trước nhất chính vì Đảng điển hình cho sức mạnh trí não của giai cấp người lao động tiên tiến, cho tiềm lực ý thức truyền thống của dân tộc và tiếp nhận được những tinh hoa của văn hoá loài người. Ngay kể từ thành lập, sức mạnh của Đảng nằm ngay trong 3 nhân tố hợp thành của Đảng: chủ nghĩa Mác- Lênin, phong trào người lao động và phong trào yêu nước Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội đi đầu, là tổ chức của những chiến sĩ ưu tú nhất của giai cấp người lao động và của toàn bộ dân tộc.

Diễn ra từ có mặt trên thị trường đến giờ, Đảng ta luôn đứng vững trên lập trường, ý kiến của giai cấp người lao động, tuyệt đối trung thành với ích lợi của quần chúng, của dân tộc, coi ấy là điểm xuất hành của mọi đường lối, chủ trương của Đảng. Ngay Cương lĩnh chính trị trước nhất của Đảng do đồng đội Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được phê duyệt tại Hội nghị thành lập Đảng đề đạt đúng quy luật khách quan, thích hợp với ước muốn của quần chúng, phục vụ đúng đề nghị của thực tế, vạch ra được chỉ tiêu, phương hướng và biện pháp căn bản của cách mệnh. Từ ấy thực hiện , tổ chức, khích lệ toàn bộ quần chúng biến đường lối của Đảng thành hành động cách mệnh của nhân dân. Tinh thần căn bản của bản Cương lĩnh đó được tăng trưởng, chi tiết hoá phục vụ những nhiệm vụ cách mệnh trong từng quá trình lịch sử, xong xuôi cuộc cách mệnh dân tộc dân chủ và từng bước xây dựng 1 nước Việt Nam hoà bình, hợp nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Ngay sau lúc giành được chính quyền cách mệnh, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nước độc lập nhưng dân ko hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lí gì”. Chỉ tiêu của Đảng là khiến cho mọi người dân người nào cũng có cơm ăn áo mặc, người nào cũng được học hành, được sống no đủ và phấn kích; mang đến quyền làm chủ về kinh tế, xã hội cũng là thước đo trình độ giải phóng xã hội, sự tăng trưởng của xã hội.

Lịch sử 8 mươi mốt 5 xây dựng và tăng trưởng của Đảng đã chứng tỏ, cỗi nguồn sức mạnh của Đảng ko chỉ trình bày ở chỗ mọi hoạt động của Đảng đều xuất hành vì ích lợi của quần chúng nhưng còn trình bày Đảng xoành xoạch gắn bó chặt chẽ với quần chúng, được quần chúng tin cậy, ủng hộ và chở che. Liên hệ khăng khít với quần chúng đã biến thành 1 truyền thống tốt đẹp của Đảng và cũng là cỗi nguồn sức mạnh của Đảng trong 81 5 qua. Chính từ thực tế cách mệnh, Đảng đã nhận thức thâm thúy: “Cách mệnh là sự nghiệp của nhân dân, chứ chẳng phải là sự nghiệp của tư nhân người hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng đã tổ chức và phát huy được lực lượng cách mệnh bất tận của quần chúng”

Là 1 Đảng cách mệnh vì quần chúng, trước nhất, đường lối chính trị của Đảng phải xuất hành từ ích lợi của quần chúng. Lãnh tụ Hồ Chí Minh coi việc hoạch định đường lối chế độ của Đảng ko chỉ là công tác của bản thân Đảng nhưng còn phải biết phát huy trí não của toàn dân vào việc xây dựng đường lối của Đảng: “Tin vào nhân dân. Đưa mọi vấn đề cho nhân dân bàn luận và tìm cách khắc phục”. “Nghị quyết gì nhưng nhân dân cho là ko hợp thì để họ yêu cầu tu sửa. Dựa vào quan điểm của nhân dân nhưng tu sửa cán bộ và tổ chức của ta. Đảng ko chỉ có đường lối chính trị xuất hành từ ích lợi chính đáng của quảng đại quần chúng, nhưng còn trình bày ở trong tổ chức của Đảng. Trong giai đoạn chỉ đạo cách mệnh, Đảng luôn đặt ích lợi của quần chúng, của dân tộc lên trên hết, ấy cũng chính là nguyên do sâu xa làm nên sức mạnh kết đoàn rất đáng kiêu hãnh của Đảng ta, đã hình thành uy tín chỉ đạo của Đảng đối với toàn dân tộc; khiến cho Đảng được dân tin, dân phục, dân yêu quý, dân tương trợ, ủng hộ và bảo vệ.

Sức mạnh và uy tín của Đảng ko chỉ ở đường lối chính trị với mục vì dân nhưng còn trình bày ở đức hy sinh, chuẩn bị lao vào vì ích lợi của quần chúng, của dân tộc của hàng triệu các lứa tuổi đảng viên trong sự nghiệp cách mệnh, đặc thù trong tranh đấu giành chính quyền cách mệnh và trong tranh đấu giải phóng dân tộc.

Nhìn lại chặng đường tranh đấu đầy gian khổ, thách thức nhưng mà cực kỳ oanh liệt của Đảng ta trong 8 thập kỉ qua, chúng ta càng thấm thía bài học “lấy dân làm gốc”, trân trọng dĩ vãng, nâng niu gìn giữ những thành tích cách mệnh của cách mệnh, càng thấm thía và hàm ơn vô bờ công huân lớn béo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các lứa tuổi đảng viên ấy lao vào vì nền độc lập, hợp nhất của quốc gia, càng thêm kiêu hãnh về Đảng ta, quần chúng và dân tộc ta.

Khi tổng kết những kinh nghiệm quý sau 20 5 đổi mới, 1 trong những bài học quan trọng bậc nhất được Đại hội X của Đảng đúc kết là bài học “lấy dân làm gốc”: “Đổi mới phải vì ích lợi của quần chúng, dựa vào quần chúng, phát huy vai trò chủ động, thông minh của quần chúng, xuất hành từ thực tế, nhạy bén với cái mới. Cách mệnh là sự nghiệp của quần chúng, vì quần chúng và do quần chúng. Những quan điểm, ước muốn và sáng kiến của quần chúng có vai trò quan trọng trong việc tạo nên đường lối đổi mới của Đảng. Dựa vào quần chúng, xuất hành từ thực tế và thường xuyên tổng kết thực tế, phát hiện yếu tố mới, từng bước tìm ra quy luật tăng trưởng, ấy là chìa khóa của thành công”

Ý nghĩa đối với bản thân:

Là 1 sinh viên đang còn ngồi trên ghế nhà trường bản thân tôi cũng tự nhận thấy những tri thức về Đường lối cách mệnh Đảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh hay chủ nghĩa Mac – Lenin, là cái mấu chốt đưa cho tôi đến được với những ý kiến logic những ý nghĩa vô cũng lớn béo về cách mệnh, về sự nghiệp cách mệnh của dân tộc và tôi biết sự nghiệp cách mệnh là của dân tộc, là của quần chúng và vì quần chúng

Tôi đã từng nghe:

“Dân biết , dân bàn, dân làm, dân rà soát”

“Vì nước quên thân, vì dân dùng cho”

Những câu nói bất hủ đó nhưng làm tôi luôn hướng về quần chúng, tôi cũng có 1 nghĩ suy, 1 thèm muốn là làm sao sau này mình sẽ có 1 phần đóng góp cho sự tăng trưởng chung xã hội,cho sự tăng lên dân trí của người dân

Chuyên ngành tôi nghiên cứu là Giáo Dục Học và tôi ưa chuộng nó, tôi cũng có ý nghĩ là tôi sẽ vận dụng nó vào giai đoạn làm việc của mình sau này đặc thù là tham dự vào việc giáo dục những lý tưởng sống, những nhiệm vụ học tập cấp thiết, những đề nghị từ thực tế, chống lại những sự hủ lậu lỗi thời. sẽ đến từng nhà, dà từng nhân vật, bản thân giáo dục là quốc sách bậc nhất là việc quan trọng hàng đầu để đưa sự tăng trưởng của quốc gia đi lên, dân trí có nâng cao thì đới sống, cũng như nghĩ suy của quần chúng mới hăng hái

Bản thân tôi cũng đang cố gắng học tốt, để đem kiến thức của bản thân để dùng cho toàn dân, vì ích lợi mười 5 trồng cây và vì ích lợi trăm 5 trồng người,tôi hi vọng trên con đò của tôi trở sẽ được thành công như những tư tưởng béo của người đem theo hành trang của 1 Đảng viên trẻ tôi sẽ phấn đấu tâm huyết đồng hành quần chúng, san sớt, hàn ôn và bàn luận những nỗi niềm của họ, vì 1 quốc gia phồn vinh và hạnh phúc.

Câu 2:

Giai cấp người lao động là 1 tập đoàn xã hội bình ổn, tạo nên và tăng trưởng cộng với giai đoạn tăng trưởng của nên công nghiệp tiên tiến với nhịp điệu tăng trưởng của lực lượng sản xuất có thuộc tính xã hội hóa càng ngày càng cao; là lực lượng lao động căn bản đương đại trong các thứ tự công nghệ, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp tham dự vào giai đoạn sản xuất, tái sản xuất ra của nả vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất đương đại trong thời đại hiện tại.

Là giai cấp của những công nhân sản xuất vật chất là cốt yếu (với trình độ trí não càng ngày càng cao, cùng lúc cũng càng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được phần mềm ngay trong sản xuất). Thành ra, giai cấp người lao động có vai trò quyết định nhất sự còn đó và tăng trưởng xã hội.

Vậy ở trong Điều lệ Đảng thực chất của giai cấp người lao động của Đảng được trình bày ở những điểm cốt yếu:

Từ ngày thành lập đến giờ, Đảng ta luôn khẳng định thực chất giai cấp người lao động của mình.

Trong “Chương trình tóm lược” được phê duyệt tại Hội nghị thành lập Đảng khẳng định: “Đảng là đội đi đầu chỉ đạo của đội quân vô sản gồm 1 số béo giai cấp người lao động và khiến cho họ có đủ năng lực chỉ đạo nhân dân”.
Sách lược vắn tắt viết: “Đảng là đội đi đầu của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải khiến cho giai cấp mình chỉ đạo được nhân dân”.

Đại hội X đã phê duyệt sự diễn tả về Đảng là: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội đi đầu của giai cấp người lao động, cùng lúc là đội đi đầu của quần chúng lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành ích lợi của giai cấp người lao động, của quần chúng lao động và của dân tộc”.

Sự diễn tả như trên trình bày ở 2 nội dung sau:

+ Đảng là đội tiên phong của giai cấp người lao động Việt Nam và cùng lúc là đội tiên phong của quần chúng lao động và của cả dân tộc.

+ Đảng là đại biểu trung thành ích lợi của giai cấp người lao động, của quần chúng lao động và của dân tộc Việt Nam.

– Xuất phát từ nhận thức khoa học về vai trò và sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động.

+ Sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động là phạm trù căn bản nhất của CNXHKH. Phát xuất hiện sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động là 1 trong những góp sức lớn lao nhất của Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Để thông suốt sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động, trước nhất cần làm rõ định nghĩa giai cấp người lao động.

+ Khái niệm giai cấp người lao động (theo Nghị quyết TW 6 khoá X).

– Giai cấp người lao động Việt Nam là 1 lực lượng xã hội lớn béo, đang tăng trưởng, bao gồm những công nhân tay chân và trí não, làm mướn hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có thuộc tính công nghiệp.

+ Là 1 lực lượng lớn béo, quan trọng trong xã hội, chưa định hình rõ nét, còn có sự chuyển đổi, tăng trưởng.

+ Thành phần: bao gồm những công nhân tay chân và trí não.

+ Đặc điểm: làm mướn hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có thuộc tính công nghiệp.

(Tính tới đầu 5 2007, tổng số người lao động nước ta khoảng 9,5 triệu người, chiếm tỉ lệ 11% dân số và 21% lực lượng lao động xã hội, trong ấy số lượng người lao động làm việc trong các công ty của các thành phần kinh tế khoảng 6,75 triệu người).

Nội dung sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động:

+ Trước hết phải chỉ đạo thực hiện cuộc cách mệnh dân tộc dân chủ sở hữu dân phê duyệt đội đi đầu của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam, tranh đấu giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính dân chủ sở hữu dân.

+ Trong quá trình cách mệnh XHCN, giai cấp người lao động từng bước chỉ đạo quần chúng lao động xây dựng thành công CNXH, ko có người bóc lột người, giải phóng quần chúng lao động khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, bất công.

=> Hai nội dung trên quan hệ chặt chẽ với nhau trong giai đoạn tiến hành. Thể hiện sự nghiệp lớn lao của giai cấp người lao động là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người và loài người khỏi mọi áp bức, bóc lột, nghèo đói lỗi thời, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa tân tiến.

+ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ ý nghĩa, nội dung cơ bản, trình bày chi tiết của sứ mạng lịch sử giai cấp người lao động Việt Nam trong quá trình mới là: Ích lợi giai cấp người lao động hợp nhất với ích lợi của toàn dân tộc trong chỉ tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bình, dân chủ, tân tiến”.
– ở nước ta, giai cấp người lao động tuy số lượng còn ít, nhưng mà giai cấp người lao động Việt Nam và chính Đảng của mình luôn đứng trên lập trường cách mệnh, giữ vững thực chất giai cấp, lấy Chủ nghĩa Mác – Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền móng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.

– Đảng Cộng sản Việt Nam ngay kể từ có mặt trên thị trường đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, trình bày mối quan hệ gắn bó giữa giai cấp và dân tộc… Thắng lợi của cách mệnh Việt Nam qua các giai đoạn đều bắt nguồn từ việc khắc phục đúng mực mối quan hệ khăng khít giữa giai cấp và dân tộc.

+ Trong điều kiện của nước ta, lợi quyền của giai cấp người lao động, của quần chúng lao động và của dân tộc là hợp nhất.

+ Sự gắn kết máu thịt giữa Đảng với giai cấp và dân tộc đã được trình bày ngay từ xuất xứ có mặt trên thị trường của Đảng ta. Đảng có mặt trên thị trường ko chỉ là sự liên kết chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào người lao động nhưng còn với phong trào yêu nước.
– Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định rằng: Đảng ta ko chỉ là Đảng của giai cấp người lao động nhưng còn là Đảng của quần chúng lao động và của dân tộc Việt Nam.

– Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 của Đảng (tháng 2 – 1951), Bác chỉ rõ: “Đảng Lao động Việt Nam phải là người chỉ đạo minh mẫn, cương quyết, trung thành của giai cấp người lao động và quần chúng lao động, của quần chúng Việt Nam… Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp người lao động và quần chúng lao động, do đó nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”.(Trích Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị non sông, Hà Nội, 2001, t. 12, tr. 37 – 38).

– Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, được toàn dân thừa nhận là đội đi đầu chỉ đạo quần chúng. Về vấn đề ích lợi, Đảng ko hữu ích ích nào khác ngoài mục tiêu dùng cho quần chúng, dùng cho dân tộc. Chi tiết:

+ Trên thực tiễn, Đảng ta có mặt trên thị trường, còn đó và tăng trưởng là vì ích lợi ko chỉ của giai cấp người lao động nhưng còn vì ích lợi của quần chúng lao động, của toàn dân tộc.

+ Trong cách mệnh dân tộc dân chủ, Đảng ta nêu khẩu hiệu: “Độc lập dân tộc” và “Người cày có ruộng”.

+ Trong quá trình hiện tại, Đảng ta đề ra chỉ tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bình, dân chủ, tân tiến.

* Để giữ vững và tăng nhanh thực chất giai cấp người lao động của Đảng trong tình hình mới, nhiệm vụ của mỗi đảng viên của Đảng là:

+ Kiên định chỉ tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

+ Kiên định và áp dụng thông minh, góp phần tăng trưởng Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Xuất phát từ thực tế lịch sử của nước ta đề ra đường lối, chủ trương và các chế độ đúng mực; cùng lúc bằng hành động cách mệnh biến đường lối, chủ trương ấy thành hiện thực sinh động trên mọi mặt của đời sống xã hội.

+ Tranh đấu cương quyết, kịp thời chống lại mọi biểu thị thời cơ, hữu khuynh, giáo điều, thủ cựu; phê phán những luận điệu và âm mưu của các thần thế cừu địch phủ nhận, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác – Lên nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
+ Luôn luôn phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp nhận tinh hoa văn hoá, kiến thức của thời đại để làm giàu tri thức, khắc phục thành công những vấn đề lý luận và thực tế của cách mệnh nước ta, góp phần vào sự nghiệp tăng trưởng chung của toàn cầu.

+ Giữ vững nguyên lý tập hợp dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt đảng, số đông chỉ đạo, tư nhân gánh vác. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, gìn giữ sự kết đoàn hợp nhất trong Đảng.

+ Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng lập trường, ý kiến, tinh thần tổ chức của giai cấp người lao động; xây dựng hàng ngũ cán bộ và đảng viên theo ý kiến của giai cấp người lao động.

+ Củng cố mối quan hệ gắn bó khăng khít với quần chúng, tăng nhanh khối đại kết đoàn toàn dân, chăm lo đời sống và thực thụ phát huy quyền làm chủ của quần chúng.

+ Liên kết chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trắng trong của giai cấp người lao động. Liên kết sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, hình thành sức mạnh tổng hợp của cách mệnh.

Có ích ích giai cấp đối lập với ích lợi căn bản của giai cấp tư sản (giai cấp người lao động: xóa bỏ cơ chế tư hữu, xóa bỏ áp bức bóc lột, giành chính quyền và làm chủ xã hội. Giai cấp tư sản ko bao giờ tự rời bỏ những vấn đề căn bản ấy). Do vậy, giai cấp người lao động có ý thức cách mệnh triệt để.

Bất cứ giai cấp người lao động nước nào, lúc đã có đảng đi đầu của nó, đều có những đặc điểm căn bản, chung nhất ấy. Do vậy, giai cấp người lao động mỗi nước đều là 1 bộ phận chẳng thể tách rời giai cấp người lao động trên toàn toàn cầu. Thành ra chủ nghĩa Mác-Lênin mới có ý kiến đúng mực về sứ mạng lịch sử toàn toàn cầu cùa giai cấp người lao động.

Có quan điểm đã cho rằng: Giai cấp người lao động Việt Nam số người còn ít, ko chỉ đạo được cách mệnh.

Nói vậy ko đúng. Chỉ đạo được hay là ko, là do đặc tính cách mệnh, chứ chẳng phải do số người ít nhiều của giai cấp. Giai cấp người lao động có chủ nghĩa Mác – Lênin. Trên nền móng tranh đấu, họ xây dựng nên Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin là Đảng Lao động Việt Nam. Đảng đề ra chủ trương, đường lối, khẩu hiệu cách mệnh, quyến rũ giai cấp dân cày và tiểu tư sản vào tranh đấu, bồi dưỡng họ thành những phần tử đương đại. Lại có những phần tử trí thức tham dự cách mệnh và vô sản hoá. Thành thử hàng ngũ chính trị của giai cấp người lao động càng ngày càng tăng trưởng. Mai sau, công nghệ của ta càng ngày càng tăng trưởng, thì số người lao động càng ngày càng tǎng thêm

Trong thời đại hiện tại, thực chất giai cấp của Đảng Cộng sản vẫn chỉ có thể là thực chất giai cấp của giai cấp người lao động; cơ sở chính trị – xã hội cốt yếu của Đảng Cộng sản phải là giai cấp người lao động trong giai đoạn tăng trưởng từ tân tiến công nghiệp sang tân tiến trí não; tư duy mới về giai cấp người lao động phải gắn liền với tư duy mới về chủ nghĩa xã hội tiên tiến. Có thể nói, 1 trong những nguyên do chính dẫn tới sự lỗi thời, bất cập trước đây của Đảng Cộng sản ở 1 số nước tư bản tăng trưởng là do ko nhận thức được điều này. Bởi thế, ở ấy, Đảng Cộng sản dần dần mất cơ sở chính trị – xã hội cần có của mình, gắn liền với những cương lĩnh càng ngày càng xa vắng cuộc sống. Giai cấp người lao động tiên tiến, quần chúng lao động ko thấy được tuyến đường đi đến 1 xã hội tốt đẹp hơn, nhưng thỉnh thoảng mất phương hướng và nghe đâu hy vọng vào 1 ngày mai nào ấy trong lòng chủ nghĩa tư bản tiên tiến, lúc ở ấy hiện ra và tăng trưởng dần 1 số nhân tố của xã hội mới, nhưng mà đội đi đầu của giai cấp người lao động tiên tiến đã ko trông thấy để làm sinh sôi nảy nở.

Đảng Cộng sản Việt Nam mang thực chất giai cấp người lao động Việt Nam, là Đảng của giai cấp người lao động và của dân tộc Việt Nam. Bởi nhiều lẽ: Đảng là con đẻ của 2 phong trào: phong trào người lao động và phong trào yêu nước (chứ ko chỉ là con đẻ của phong trào người lao động như ở những nước tư bản). Trong giai đoạn chỉ đạo cách mệnh, Đảng luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, trong ấy đặt nhiệm vụ dân tộc lên trên và lên trước, coi nhiệm vụ dân tộc là tiền đề, điều kiện tiên quyết và là cơ sở để xong xuôi nhiệm vụ giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chỉ đạo cách mệnh xã hội chủ nghĩa, Đảng khích lệ sức mạnh toàn dân tộc dưới sự chỉ đạo của giai cấp người lao động, coi cách mệnh xã hội chủ nghĩa ko chỉ là nhiệm vụ giai cấp nhưng còn là nhiệm vụ dân tộc, định hướng cho nhiệm vụ dân tộc, đảm bảo độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc triệt để, đưa dân tộc bỏ dở thời đại dân tộc tư sản, tiến vào thời đại dân tộc xã hội chủ nghĩa.

Là Đảng của giai cấp người lao động,trước nhất Đảng phải hiểu giai cấp người lao động và dựa vào giai cấp người lao động. Giai cấp người lao động Việt Nam hiện tại đã chỉnh sửa rất nhiều (như trên đã phân tách),đang tăng trưởng nhanh cả về số lượng và chất lượng, tăng trưởng trong sự phân hóa thường xuyên – 1 sự phân hóa hăng hái.Đấy là sự phân hóa trong cơ cấu ngành nghề kinh tế – kỹ thuật, tăng trưởng lực lượng sản xuất; trong cơ cấu thành phần kinh tế, xây dựng quan hệ sản xuất thích hợp với lực lượng sản xuất; trong cắt cử lao động xã hội

Thực chất giai cấp người lao động của Đảng đã được trình bày rõ ở trong Điểu lệ Đảng hiện lên như 1 bức tranh toàn cảnh về cái đẹp tươi và cao cả nhất, hiện thân cho ý thức tranh đấu bền chí quật cường của ông cha ta từ thời kháng chiến, ý thức đó vẫn trường tồn đến hiện tại như bản người hùng ca mãnh liệt cho chúng ta noi theo.

Câu 3:

Sinh ra và béo lên tại vùng quê yên bình và giản dị, tôi được được hưởng cuộc sống hòa bình trong thế kỷ XXI, được chứng kiến sự thay đổi của quốc gia, như 1 bức tranh muôn màu sắc, tôi được học tập được tu dưỡng, trau dồii tri thức và được xúc tiếp với nhiều bài học quý báu từ lời dạy của thầy từ câu nói của cô. Tất cả những bài học đó luôn đọng trong tâm não tôi như trang sách luôn sát cánh bên tôi vậy !

Tôi đặc thù thích câu nói lúc học Lịch sử lớp 12:

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải khoan nhượng. Nhưng chúng ta càng khoan nhượng, thực dân Pháp càng lấn đến, vì chúng phấn đấu cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất mực ko chịu mất nước, nhất mực ko chịu làm bầy tớ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất cứ con trai, phụ nữ, bất cứ người già, người trẻ, ko phân chia tín ngưỡng, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Non sông. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, ko có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra công chống thực dân Pháp cứu nước.

Hỡi anh em quân sĩ, tự vệ, dân binh!

Giờ cứu nước đã tới. Ta phải hy sinh tới giọt máu , để gìn giữ quốc gia.

Dù phải gian khó kháng chiến, nhưng mà với 1 lòng cương quyết hy sinh, chiến thắng nhất mực về dân tộc ta!

Việt Nam độc lập và hợp nhất muôn 5! Kháng thắng lợi lợi muôn 5!”

Câu nói đó xoành xoạch hiện ra trong tâm chí tôi như 1 tuyên ngôn cho tôi vậy. lúc nhắc đến cấu nói tôi lại cảm thấy cái gì ấy thôi thúc tôi càng phải cố gắng và đoàn luyện nhiều hơn nữa.

Các bạn biết câu nói ấy của người nào ko?

Lãnh tụ, danh nhân Hồ Chí Minh đó các bạn ạ. Được viết vào 19/12/1946 Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

Đấy chỉ là 1 câu nói trong rất nhiều câu nói nhưng tôi thích của Người, tất cả những gì thuộc về người tôi cũng đêu thích và suy tôn như những ý nghĩa cao cả nhất.

Đã qua hơn 10 5 sống trong thế kỷ XXI nhưng mà tấm gương Hồ Chí Minh lớn lao luôn được mỗi người dân Việt hướng đến.

Sau gần 5 5 khai triển và tiến hành, Cuộc chuyển động “Học tập và tuân theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã tạo tác động thâm thúy tới nhận thức của cán bộ, đảng viên và công nhân. Thông qua nghiên cứu, học tập các chuyên đề về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về: cần, kiệm, liêm, chính, chí công không lo nghĩ, tinh thần tiết kiệm và ý thức tương thân, tương ái… đã tạo điều kiện cho toàn thể cán bộ, đảng viên, học trò, sinh viên, toàn dân trong tất cả các đơn vị có những chuyển biến về tinh thần tu dưỡng, đoàn luyện và tuân theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Như vậy chúng ta có thể thấy được sự cấp thiết của việc học tập và tuân theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có vai trò rất quan trọng trong công cuộc tăng trưởng của quốc gia trên tất cả mọi lĩnh vực. Được trình bày chi tiết như sau:

Trong giai đoạn đổi mới với bao gian khổ và thách thức từ chức vụ kinh tế – xã hội, an ninh và quốc phòng. Thực tiễn kinh tế – xã hội và những cảnh huống chiến lược cũng như những nhiệm vụ chi tiết nhiều lúc chúng ta tỏ ra tuyệt vọng chỉ vì việc học. Tuyệt vọng chẳng phải chúng ta ko để mắt tới tới việc học tập đối với nền giáo dục quốc dân và đối với bộ máy nhân công của Chính phủ chúng ta cũng đã làm được rất nhiều việc.

Nếu ko, làm sao chúng ta đứng vững cho tới hiện tại với 1 nhà nước độc lập tự chủ, kinh tế tăng trưởng đều đặn, đời sống quần chúng ko dừng được cải thiện. Thành ra, xin được miễn nói những gì là thành quả. Chỉ xin nói thêm về những thực trạng cần có đổi mới trong việc học tập cho cán bộ và công chức từ giáo huấn Hồ Chí Minh:

Chưa có chương trình chi tiết để gắn việc học với điều kiện của thực tế. Làm cái gì thì học cái ấy trước, cái ấy nhiều, cái ấy suốt đời. Đưa người đã học vào bộ máy công chức là chính, lấy người chưa học là phụ (tránh hiện trạng hiện tại: sinh viên thất nghiệp, công chức đi học đương nhiệm!).

Đưa thực tế vào tất cả các khâu: phân bổ thời kì; sắp đặt con người “dạy thực tế” (như dạy sinh viên hành chính là trưởng phó phòng, chủ tịch, phó chủ tịch, dạy tiếp dân…).

Tiếp cận bí quyết tập huấn bồi dưỡng cán bộ công chức trong nước với toàn cầu để tránh hiện trạng bất cập có thể có: 1 bên là Việt Nam và 1 bên là toàn cầu còn lại!

Thiết nghĩ 1 trong những điều nhưng giáo huấn Hồ Chí Minh biến thành tư tưởng Hồ Chí Minh chính là trị giá “đồng hành thời đại” của những giáo huấn ấy

1. Đạo đức và vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội

Đạo đức, hiểu theo nghĩa chung nhất, là 1 hình thái của tinh thần xã hội, bao gồm những nguyên lý, chuẩn mực và thang bậc trị giá được xã hội thừa nhận

Đạo đức có chức năng chi phối, điều chỉnh hành vi của mỗi người sao cho thích hợp với ích lợi của toàn xã hội

Đối với mỗi tư nhân, tinh thần và hành vi đạo đức mang tính “phận sự” diễn ra 1 cách tự giác, cốt yếu xuất hành từ nhu cầu ý thức bên trong. Đạo đức của mỗi tư nhân chịu sự ảnh hưởng của dư luận xã hội, cũng như sự tự rà soát bởi chính mình

Đạo đức có tác dụng điều chỉnh hành vi, tác dụng giáo dục và tác dụng đề đạt.

Chức năng điều chỉnh hành vi

– Đạo đức là 1 phương thức điều chỉnh hành vi. Sự điều chỉnh hành vi làm tư nhân và xã hội cùng còn đó và tăng trưởng, đảm bảo quan hệ ích lợi tư nhân và số đông.

Loài người thông minh ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi, trong ấy có chính trị, pháp quyền và đạo đức…

– Chính trị điều chỉnh hành vi giữa các giai cấp, các dân tộc, tất cả các nước bằng các giải pháp đặc thù như ngoại giao, kinh tế, hành chính, bạo lực…

– Pháp quyền và đạo đức điều chỉnh hành vi trong quan hệ giữa các tư nhân với số đông bằng các giải pháp đặc thù là luật pháp và dư luận xã hội, lương tâm. Sự điều chỉnh này, có thể thuận chiều, có thể ngược chiều.

– Điều chỉnh hành vi của đạo đức và pháp quyền không giống nhau ở chừng độ yêu cầu và phương thức điều chỉnh.

Pháp quyền thể xuất hiện ở luật pháp, là ý chí của ách thống trị buộc mọi người phải làm theo. Những chuẩn mực của luật pháp được tiến hành bằng nghiêm cấm và hãm hiếp (quyền lực công cộng cộng với đội vũ trang đặc thù, quân đội, cảnh sát, toà án, nhà giam…). Pháp quyền là đạo đức tối thiểu của mỗi tư nhân sống trong số đông.

Đạo đức yêu cầu từ tối thiểu tới tối đa đối với các hành vi tư nhân. Phương thức điều chỉnh là bằng dư luận xã hội và lương tâm. Những chuẩn mực đạo đức bao gồm cả chuẩn mực nghiêm cấm và cả chuẩn mực khuyến khích.

Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức bằng dư luận xã hội và lương tâm yêu cầu từ tối thiểu đến tối đa hành vi con người đã biến thành đặc thù riêng để phân biệt đạo đức với các hình thái tinh thần khác, các hiện tượng xã hội khác và làm thành cái chẳng thể thay thế của đạo đức.

– Mục tiêu điều chỉnh: đảm bảo sự còn đó và tăng trưởng xã hội bằng hình thành quan hệ ích lợi số đông và tư nhân theo nguyên lý hài hòa ích lợi số đông và tư nhân (và lúc cần phải dành đầu tiên ích lợi số đông).

– Nhân vật điều chỉnh: Hành vi tư nhân (trực tiếp) qua ấy điều chỉnh quan hệ tư nhân với số đông (gián tiếp).

– Phương pháp điều chỉnh được biểu thị: Tuyển lựa trị giá đạo đức; xác định chương trình của hành vi bởi lý tưởng đạo đức; xác định phương án cho hành vi bưỏi chuẩn mực đạo đức; hình thành động cơ của hành vi bởi niềm tin, lý tưởng, tình cảm của đạo đức, kiểm soát uốn nắn hành vi bởi dư luận xã hội.

Chức năng điều chỉnh hành vi được tiến hành bởi 2 vẻ ngoài cốt yếu.

– Xã hội và số đông tạo dư luận để khen ngợi khuyến khích cái thiện, phê phán mạnh bạo cái ác.

– Bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi cơ sở những chuẩn mực đạo đức xã hội.

Chức năng giáo dục

Con người vươn lên “chân – thiện – mỹ”. Con người là thành phầm của lịch sử, cùng lúc là chủ thể của lịch sử. Con người tạo ra tình cảnh tới mức nào thì tình cảnh cũng tạo ra con người tới mức đó.

Con người sinh ra bắt gặp hệ thống đạo đức của xã hội. Hệ thống đó ảnh hưởng tới con người và con người ảnh hưởng lại hệ thống. Hệ thống đạo đức do con người tạo ra, nhưng mà sau lúc có mặt trên thị trường hệ thống đạo đức còn đó như là cái khách quan hoá ảnh hưởng, chi phối con người.

Xã hội có giai cấp tạo nên và còn đó nhiều hệ thống đạo đức nhưng các tư nhân chịu sự ảnh hưởng. Ở đây, môi trường đạo đức: ảnh hưởng tới đạo đức tư nhân bằng nhận thức đạo đức và thực tế đạo đức. Nhận thức đạo đức để chuyển hoá đạo đức xã hội thành tinh thần đạo đức tư nhân. Thực tiễn đạo đức là hiện thực hoá nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức. Các hành vi đạo đức lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội và tư nhân làm cả đạo đức tư nhân và xã hội được củng cố, trở nên lề thói, truyền thống, tập quán đạo đức.

Hiệu quả giáo dục đạo đức dựa dẫm vào điều kiện kinh tế – xã hội, bí quyết tổ chức, giáo dục chừng độ tự giác của chủ thể và nhân vật giáo dục trong giai đoạn giáo dục.

– Giáo dục đạo đức gắn với văn minh đạo đức:

Nhân đạo hóa các quan hệ xã hội và chừng độ bình thường nhân đạo hóa các quan hệ xã hội; sự hoàn thiện của cấu trúc đạo đức và chừng độ bình thường của nó…sẽ giúp chủ thể chọn lọc, bình chọn đúng các hiện tượng xã hội, bình chọn đúng nhân cách của người khác hay của số đông cũng như tự bình chọn đúng phê duyệt mục tiêu, đề nghị, nhiệm vụ, nội dung, phương thức, vẻ ngoài và các bước đi của giai đoạn giáo dục sẽ giúp mỗi tư nhân và cả số đông tạo ra các hành vi và thực tế đạo đức đúng.

Như vậy, tác dụng giáo dục của đạo đức cần được hiểu 1 mặt “giáo dục lẫn nhau trong số đông”, giữa tư nhân và tư nhân, giữa tư nhân và số đông;mặt khác, là sự “tự giáo dục” ở các ngành độ tư nhân lẫn cấp độ tư nhân lẫn cấp độ số đông.

Chức năng đề đạt

Với nhân cách là 1 hình thái tinh thần xã hội, đạo đức có tác dụng nhận thức phê duyệt sự đề đạt còn đó xã hội.

Sự đề đạt của đạo đức với hiện thực có đặc điểm riêng khác với các hình thái tinh thần khác.

Đạo đức là phương thức đặc thù của sự chiếm lĩnh toàn cầu con người. Nếu xét dưới giác độ bản thể luận, đạo đức là hệ thống ý thức, được quy định bởi còn đó xã hội. Nhưng xét dưới giác độ xã hội học thì hệ thống ý thức (nhận thức đạo đức) ko tách rời thực tế – hành động của con người. Do vậy, đạo đức là hiện tượng xã hội vừa mang tính ý thức vừa mang tính hành động hiện thực.

Sự nhận thức của đạo đức có đặc điểm:

– Hành động đạo đức thông liền sau nhận thức trị giá đạo đức. Và trường hợp có sự hòa quyện tinh thần đạo đức với hành động đạo đức. (Khác những khoa học và phần mềm nghiên cứu thành quả khoa học có khoảng cách về ko gian và thời kì).

– Nhận thức của đạo đức là giai đoạn vừa hướng ngoại (hướng ra ngoài) và hướng nội (tự nhận thức – hương vào chính mình, chính chủ thể).

Nhận thức hướng ngoại lấy chuẩn mức, trị giá, đời sống đạo đức của xã hội làm nhân vật. Đấy là hệ thống trị giá thiện và ác, bổn phận và bổn phận, hạnh phúc và ý nghĩa cuộc sống…, những “bí quyết và dụng cụ” tạo ra các trị giá đạo đức. Nhờ sự nhận thức này nhưng chủ thể nhận thức đã chuyển hóa đạo đức của xã hội như là cái chung thành tinh thần đạo đức của tư nhân như là cái riêng.

Nhận thức hướng nội (tự nhận thức), lấy bản thân mình – chủ thể đạo đức – làm nhân vật nhận thức. Đây là giai đoạn tự bình chọn, tự giám định, tự đối chiếu những nhận thức, hành vi, đạo đức của mình với những chuẩn mực trị giá chung của số đông. Từ cách nhận thức này nhưng chủ thể tạo nên trở nên các ý kiến và nguyên lý sống: thông minh hay chủ động, hy sinh hay tận hưởng, vị tha hay vị kỷ, hướng thiện hay sa vào cái ác…

Trong tự nhận thức, vai trò của dư luận xã hội và lương tâm là lớn béo. Dư luận xã hội là sự bình phẩm, bình chọn từ phía xã hội đối với chủ thể, còn lương tâm là sự phê bình. Cả 2 đều giúp chủ thể tái hiện lại trị giá đạo đức của mình – trị giá nhưng xã hội mong muốn.

Từ nhận thức giúp chủ thể tinh thần được bổn phận của mình và chuẩn bị để ho thành bổn phận ấy. Trong cuộc sống có ti tỉ những bổn phận tương tự. Nó luôn đặt ra trong quan hệ phong phú giữa chủ thể đạo đức với xã hội, gia đình, bạn hữu, đồng đội, đồng chí, số đông, dân tộc, gia cấp, quốc gia.

Nhận thức đạo đức (đạo đức đề đạt hiện thực) ở 2 trình độ: trình độ thông thường và trình độ lý luận.

– Nhận thức đạo đức ở trình độ thông thường là tinh thần thông thường, những trị giá riêng biệt. Nó phục vụ nhu cầu đạo đức thông thường đủ để chủ thể xử lý kịp thời trong cuộc sống và sự tăng trưởng phổ biến của xã hội. Mọi tư nhân đều có thể và cần phải ảnh ánh đạo đức ở trình độ này.

– Nhận thức đạo đức ở trình độ lý luận là những nhận thức có tính nguyên lý được lãnh đạo bởi những trị giá đạo đức có tính tổng quát. Trình độ này đáng ứng những yêu cầu của sự tăng trưởng đạo đức và văn minh xã hội. Đây là nhân tố chẳng thể thiếu được trong hệ tư tưởng và hành vi của các gia cấp cầm quyền.

– Nhận thức đạo đức đưa lại kiến thức đạo đức, tinh thần đạo đức. Các tư nhân, nhờ kiến thức đạo đức, tinh thần đạo đức xã hội đã nhận thức (biến thành đạo đức tư nhân). Tư nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng trị giá đạo đức xã hội biến thành cơ sở để tư nhân điều chỉnh hành vi, tiến hành đạo đức (hiện thực hóa đạo đức).

  1. Về sự suy thoái đạo đức, lỗi sống trong xã hội hiện tại

Quan 20 5 đỗi mới, quốc gia ta đã đạt được những thành tự lớn béo và có ý nghĩa lịch sử. Việc tiến hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội, phát huy quyền làm chủ của quần chúng có văn minh… Đông đảo cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò đi đầu, kiểu mẫu năng động, thông minh trong công việc, đoàn luyện phẩm giá, năng lực, nhập vai trò cốt cán trong công cuộc đổi mới

Trong đảng và trong xã hội ta hiện tại hiện ra hiện trạng suy thoái về đạo đức, lối sống. Đấy là nguy cơ béo liên can đến sự sống còn của Đảng của cơ chế.

Sự suy thoái về đạo đức,lối sống được biểu thị ở các dạng cốt yếu sau đây:

Thứ nhất là: chủ nghĩa tư nhân, lối sống vị kỷ, chuộc lợi, buông thả tận hưởng, thiếu lý tưởng, thiếu ý chí cố gắng hiện ra trong tất cá các phân khúc xã hội.

Thứ 2 là: tệ tham nhũng, đút lót, bòn rút của công, hoang phí diễn ra ở nhiều ngành nhiều lĩnh vực đang biến thành “quốc nạn” gây giận dữ cho quần chúng

Thứ 3 là: hành động thời cơ “chạy chọt” vì ích lợi tư nhân khá bình thường

Thứ tư là: lời nói ko đi đôi với việc làm, nói và làm trái với nghị quyết của Đảng, nói nhiểu làm ít; phát ngôn tủy tiện, vô nguyên lý

Thứ 5 là: tệ quan liêu, xa dân, chỉ đạo vô cảm trước những gian khổ giận dữ và đề nghị, yêu cầu chính đáng của quần chúng

Thứ 6 là: hiện trạng suy thoái về đạo đức trong quan hệ gia đình với quan hệ giữa tư nhân và xã hội, như gia trưởng vũ phu bất hiếu

Thứ 7 là: đạo đức nghề nghiệp sa sút ngay cả trong lĩnh vực được xã hội suy tôn, hiện tượng mê tín dị đoan có chiều hướng lan rộng tác động xấu đến thuần phong mĩ tục và thứ tự an toàn xã hôi.

Nguyên nhân của hiện trạng trên có cả khách quan và chủ quan

Về khách quan: trước nhất do ảnh hưởng thụ động của chế độ kinh tế thị phần đặc thù là bản lĩnh kích thích lối sống thực dụng chủ nghĩa của chế độ này. Sự ảnh hưởng của đạo đưc, lối sống tư sản tận hưởng phương tây vào nước ta trong điều kiện thế giới hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và bùng nổ mạng thông tin thế giới. các thần thế cừu địch phản động đã chủ động khuyến khích lối sốn ích kỷ, tận hưởng, thực dụng chủ nghĩa trong cán bộ, đảng viên, cán bộ chỉ đạo và gia đình họ coi ấy là 1 trong những giải pháp tiến hành “diễn biến hòa bình”:

Về nguyên do chủ quan: do chúng ta chưa nhận thực đầy đủ thâm thúy vai trò nền móng của đạo đức trong bình ổn, tăng trưởng xã hội và ảnh hưởng của chế độ kinh tế thị phần đến đạo đức xã hội trên thực tiễn chúng ta chưa coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống; thiếu sự tổ chứ, phối hợp cảu các đơn vị quản lý các ngành. 1 bộ phận cán bộ chỉ đạo, đảng viên và gia đình chưa nêu gương về đạo đức và lối sống

Trạng thái suy thoái về đạo đức, lối sống nêu trên đã có ảnh hưởng béo tới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quốc gia hiện tại. Nó đang làm chỉnh sửa méo mó những chuẩn mực thang bậc trị giá truyền thống trị giá tốt đẹp của dân tộc và cách mệnh, có tác hại đến sự trường tồn của dân tộc và sự tăng trưởng của quốc gia, sự suy thoái về đạo đức của 1 số bộ phận cán bộ, đảng viên khiến cho quần chúng lo âu, bất bình, tác động xấu đến uy tín và vai trò chỉ đạo cuả tổ chức đảng, tới việc tổ chức tiến hành đường lối chủ trương của đảng, chế độ luật pháp của nhà nước thực trạng ấy tiềm tàng nhiều nguy cơ, cộng với các nguy cơ khác dẫn đến bất bình ổn chính trị xã hội, liên can tới “sự sống còn của đảng, của cơ chế”

Để năng cao năng lực và sức đấu tranh của Đảng chặn đứng và đẩy lùi suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, trong đảng và trong xã hội, hội nghị trung ương III khóa X của đảng đã ban hành nghị quyết “Đẩy mạnh sự chỉ đạo của Đảng trong cuộc tranh đấu chống tham nhũng, hoang phí” Ngày 7/11/2006 Bộ Chính Trị Ban Chấp hành TW Đảng ra chỉ thị số 06-CT/TW về tổ chức cuộc chuyển động “Học tập và tuân theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn đảng và xã hội. tiến hành tốt cuộc chuyển động này sẽ góp phấn quan trọng vào cuộc tranh đấu và đẩy lùi suy thoái về đạo đức, lối sống trong đảng và trong xã hội

Sự cấp thiết phải học tập, đoàn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình hiện tại.

– Hiện nay quốc gia đang trên đà tăng mạnh sự nghiệp đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa – tiên tiến hóa trên tất cả các chiến trận, hăng hái và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế tăng trưởng nền kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa, thì việc học tập và tuân theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đường lối cách mệnh của người càng ngày càng trở thành quan trọng hơn bao giờ hết, nhập vai trò chính yếu trong nghĩ suy và hành động của các ngành chỉ đạo và toàn dân.

– Như chúng ta đã biết, khi sinh tiền Bác Hồ của chúng ta đã khẳng định: Đạo đức là gốc của cách mệnh. Bác coi đạo đức của con người như gốc của cây, như nguồn của sông. Người luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng và hăng hái của đạo đức trong đời sống xã hội. Bởi thế, học tập, đoàn luyện tu dưỡng đạo đức, lối sống theo tấm gương Bác Hồ trong quá trình hiện tại là điều rất cấp thiết và quan trọng.

– Là 1 cán bộ nhân viên, bản thân nhận thức được rằng việc học tập và tuân theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và thực hành tiết kiệm, chống biển thủ, hoang phí, quan liêu là 1 bổn phận đối với bản thân để từng bước hoàn thiện mình. Trong cuộc sống đời tư cũng như trong công tác, bản thân luôn xác định rằng: “Việc gì hữu ích dù bé cũng làm, việc gì có hại dù bé cũng tránh” và tuyệt đối tránh hoang phí cả về tiền nong và thời kì, luôn phát huy tinh thần bảo vệ của công, thân cận, sâu sát với nhân dân quần chúng, lấy tiêu chuẩn người cán bộ cách mệnh để làm chỉ tiêu cố gắng.

Những phẩm giá đạo đức cách mệnh và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nhưng cán bộ, đảng viên, công chức phải thường xuyên học tập và noi theo:

+ Những phẩm giá đạo đức cách mệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

– Trung với nước hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc, phải “tuyệt đối trung thành với Đảng với quần chúng”.

– Tinh thần dân chủ, tôn trọng số đông, tôn trọng nhân dân quần chúng, xoành xoạch ân cần tới mọi người, gắn bó với quần chúng. Mến thương con người, sống có nghĩa, có tình là tạo điều kiện cho mỗi người càng ngày càng văn minh tốt đẹp hơn, phải tiến hành phê bình, tự phê bình thành tâm, giúp nhau tu sửa thiếu sót, phát huy điểm tốt.

– Cần kiệm là phẩm giá của mọi công nhân trong đời sống, trong công việc: biết lao động chăm chỉ, chuyên cần và biết tiết kiệm sức lao động, ngày giờ, tiền tài quần chúng của quốc gia và của bản thân.

– Liêm chính là phẩm giá của người cán bộ lúc thi hành công vụ phải thẳng thắn, ko tà, trong lành, “luôn chí công không lo nghĩ” là hết mực công bình, ko có lòng riêng, thiên vị, thiên tư. Đem lòng chí công không lo nghĩ đối với người, đối với việc.

+ Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh:

– Trọn đời cố gắng, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và loài người.

– Kiên định mục tiêu lý tưởng, bảo vệ chân lý, giữ vững ý kiến, khí phách vượt qua gian khổ thách thức.

– Kính trọng quần chúng, hết dạ, cực kỳ dùng cho quần chúng, dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nguyện làm “người tôi tớ thật trung thành của quần chúng”.

– Nhái ân, vị tha, độ lượng, nhân đức, rất đỗi vì con người, “dành tình thương mến cho tất cả, san sớt với mỗi người nỗi đau”.

– Coi khinh sự sa hoa, sống thật sự cần kiệm giản dị, sống trong lành, ko gợn chút riêng tây.

Đấy chỉ là vấn đề lý thuyết còn thực tiễn thì sao? Gần 5 5 tiến hành cuộc vấn động nước ta đã đạt được những thành quả gì, các chế độ về đạo đức có được chỉnh sửa các hiện trạng quan biển thủ liệu có còn, ấy là những cấu hỏi nhưng khồn chỉ riêng tôi đưa ra nhưng nó là hiện trạng chung của tất cả chúng ta

Lâu nay nay chúng ta chỉ thấy được trên lý thuyết còn phần tiến hành hay ko thực thụ rất khó, yêu cầu mỗi địa phương có cái nhìn nói chung và toàn diện nhất chứ nhất mực khổng thể nhìn nhận bằng những con số trên giấy má nhưng thực tế ko đề đạt đúng.

Là người dân Việt, là những đảng viên trẻ ngày mai chúng ta hãy cần có sự gắn kết giữa lý luận và thực tế sao cho thích hợp học tập theo bác như 1 chuẩn mực 1 tiền đề cho chúng ta tiến bước đi lên, cố gắng cố gắng vì sự tăng trưởng vững bền của quốc gia, hãy tạm gác lại ích lợi tư nhân, hãy bỏ dở những xiềng xích lâu nay nhưng vì quốc gia, vì ích lợi của quần chúng nhưng dùng cho. hãy trình bày hành động trước nhất, các nhà chỉ đạo hãy trình bày bằng tất cả những gì nhưng họ có đi, đừng lời nói rồi bắt người khác phải làm, đừng chỉ là chuyến tham quan dễ dãi nhưng làm tốn kém bao lăm của nả của địa phương, hãy bỏ dở bớt thủ tục để có sự dễ dãi, sự thân thiện giữa “quan” và “dân” hãy trình bày mình là người bình dị và mến khách.

Liên hệ:

Tôi hiện là sinh viên 5 thứ 3 chuyên ngành Giáo dục học – Học Viện Quản Lý Giáo Dục bản thân tôi cũng rất hăng hái tham dự vào các hoạt động của trường đặc thù là lĩnh vực tự nguyện. trong giai đoạn học tập tại trường, Bên phòng công việc – chính trị luôn phát động các cuộc thi liên can đến Người, về tư tưởng tấm gương và đạo đức Hồ Chí Mình.

Đặc trưng là cuộc thi văn nghệ “Tiếng hát toàn Học viện với nội dung về Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 5 2009 lôi cuốn được hấu hết tất cả sinh viên toàn trường tham dự

Là 1 trường mới được thành lập lên các phong trào đưa ra chưa được toàn diện nhưng mà đã lôi cuốn được cộng đồng tham dự, các chủ đề luôn được đưa ra về truyền tụng Đảng, Bác Hồ mến yêu

Các cuộc thi ko chỉ liên can đến phòng chính trị dưới sự lãnh đạo của Chi Bộ Đảng nhà trường, còn có sự tham dự hăng hái của Đoàn thanh niên Học Viện với các cuộc thi với chủ đề học tấp và tuân theo tấm gương đạo đức của Người, gắn kết trong phong trào toàn diện về văn hóa văn nghệ thể dục thể thao

Gắn kết trong phòng trào học tập, chống thụ động trong thi cử, thi đua học tập tốt theo gương Bác

Bản thân là bí thơ lớp tôi cũng thường xuyên đưa ra những buổi bàn luận ở tại lớp về Tấm gương đạo đức hồ chí mình, đặc thù là cuộc thi kể chuyện về Bác đã được tất cả thành viên trong chi đoàn tham dự, qua các bài hùng biện về Người chúng tôi càng hiểu thêm về Bác về công huân lớn béo, về tư tưởng bất hủ của Người và với ước muốn là lứa tuổi đi sau chúng tôi sẽ phấn đấu phát huy tất cả những sở trưởng ưu điểm của mình sao cho hợp với chuẩn mực của đạo đức của tư tưởng của người đã để lại. Tất cả thành viên trong lớp đều học tập đạt kết quả cáo 100% học lực Khá trở lên và phấn đấu cố gắng để biến thành những Đoàn tụ tốt để đạt được vào mục tiêu học thiện cảm Đảng của trường…

Thực hiện đường lối tiết kiệm trong các cuộc thi, các hoạt động, đưa sinh viên thăm quan Lăng Chủ Tich để hiểu thêm về lãnh tụ của quốc gia….

Diễn ra từ Đảng phát động phong trào “Học tập và tuân theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” toàn bộ sinh viên Học Viện luôn có tinh thần cố gắng trong công việc học tập, tu dưỡng và đoàn luyện bản thân, và đã đạt được nhiều thành tựu cao trong công việc của trường, lớp. luôn lấy tư tưởng của người làm ánh sáng soi đường cho chúng ta, tiến bước đi lên như hành trang để tiến đến thành công.

Để thay cho lời kết của mình tôi xin đưa ra 2 câu nói bất hủ của Người:

Nước Việt Nam là 1. Dân tộc Việt Nam là 1. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng mà chân lý đó ko bao giờ chỉnh sửa.”

Cô giáo, thầy giáo trong cơ chế ta cần phải góp phần vào công cuộc xây dựng XHCN. Phcửa ải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu, hậu lạc”, tức là gian khổ thì chịu trước người đời, phấn kích thì hưởng sau người đời. Người thầy giáo tốt, thầy giáo xứng đáng là thầy giáo, là người vang dội nhất. Dù tăm tiếng ko đăng lên báo, ko được thưởng huân chương, song những người thầy tốt là những người hùng vô danh….”

Tôi, bạn và bạn nữa…cùng chung tay cống hiến vì 1 Việt Nam bừng sáng trên trường quốc tế, cùng học tập thi đua, cố gắng tất cả, chúng ta có đầy đủ điều kiện để đi lên, chúng ta phải hứa hẹn với lòng mình là sẽ thành công. Cùng kết đoàn gắn bó, hợp sức vì ở ấy ta mới thấy mình tự tin hơn, vững vàng hơn

“Kết đoàn, kết đoàn, đại kết đoàn

Thành công, thành công, đại thành công”

Mời độc giả cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục tập huấn trong mục biểu mẫu nhé.

  • Phiếu bình chọn chất lượng đảng viên
  • 8 Bản kiểm điểm đảng viên cuối 5
  • Mẫu 7-HSĐV: Sổ danh sách Đảng viên

Xem thêm thông tin Bài thu hoạch đối tượng Đảng

Bài thu hoạch nhân vật Đảng

Kết nạp đảng và biến thành 1 thành viên của Đảng là niềm kiêu hãnh và mong ước của tất cả mọi người. Tuy nhiên, trước lúc được bằng lòng, bạn phải tiến hành viết bài thu hoạch nhân vật Đảng. Sau đây là mẫu bài thu hoạch mời bạn tham khảo.
BÀI THU HOẠCH LỚP BỒI DƯỠNG KẾT NẠP ĐẢNG
Họ và tên: ………………………………. Số quy trình:………..
Ngày tháng 5 sinh ………………………….
Quê quán …………………………………….
Chức vụ hoặc công tác đang làm: ……………………………..
Là thiện cảm Đảng của chi bộ: …………………………….
Thuộc đảng bộ ……………………………………………
……………, ngày ………..tháng …….. 5……….
CÂU HỎI
Câu 1:
Đồng đội hãy thể hiện 5 bài học béo của cách mệnh Việt nam được nêu trong Cương lĩnh 5 1991. Phân tích bài học nhưng đồng đội thấy tâm đắc nhất. Ý nghĩa của bài học này đối với công tác của đồng đội?
Câu 2:
Thực chất giai cấp người lao động của Đảng được trình bày ở những điểm cốt yếu nào trong Điều lệ Đảng?
Câu 3:
Đồng đội hãy phân tách sự cấp thiết của việc học tập và tuân theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Liên Hệ việc tiến hành cuộc chuyển động ở cơ quan, đơn vị đồng đội?
TRẢ LỜI
Câu 1:
Trcửa ải dài theo dòng lịch sử của giang sơn chúng ta có thể đơn giản nhận thấy 1 điều rằng cách mệnh Việt Nam đã đi hết từ chiến thắng này cho đến chiến thắng khác, dưới sư chỉ đạo của Đảng, có cương lĩnh, có đường lối soi sáng chỉ đường, tạo ra những trận chiến lịch sử lẫy lừng 5 châu, chấn động địa cầu, tạo ra cuộc sống bình an, no đủ và hạnh phúc cho toàn bộ dân tộc ta và được trường tồn đến hiện tại và mãi mãi
Nước đã đang bước vào quá trình hồi nhập nhập thế giới, cuộc sống càng ngày càng tăng trưởng mạnh bạo, giai đoạn công nghiệp hóa tiên tiến hóa càng ngày càng lên cao, trước những xu hướng mới đỏi hỏi Đảng ta phải có được cương lĩnh rõ ràng để chỉ lối cho những bờ bến hành phúc cho quần chúng, cho loài người, và cương lĩnh 5 1991 đã cho chúng ta thấy rõ được những đề nghị mang tính cấp thiết nhưng chúng ta phải tiến hành được để tô thêm những trang sử vàng cho sự thành công trong tuyến đường hội nhập của quốc gia.
Vậy 5 bài học béo của cách mệnh Việt Nam được nêu trong cương lĩnh 1991 được trình bày như thế nào? chúng ta cũng nhau đi mày mò:
Tổng kết thực tế hơn 60 5 của nước ta, trong ấy có 5 5 tiến hành đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra, từ những kinh nghiệm thành công và cả những kinh nghiệm chưa thành công, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã nêu ra được 5 bài học béo của cách mệnh Việt Nam:
1 là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Đây là bài học xuyên suốt giai đoạn cách mệnh nước ta, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo chắc chắn cho độc lập dân tộc. Hai vấn đề này có quan hệ hữu cơ với nhau. Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra công mạnh lớn béo của dân tộc trong tranh đấu cách mệnh, giành chiến thắng.
Hai là, Sự nghiệp cách mệnh là của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng. Để phát huy, nhân lên sức mạnh lớn lao của quần chúng, sự chỉ đạo và toàn thể hoạt động của Đảng phải xuất hành từ ích lợi và ước muốn chân chính của quần chúng, đại biểu trung thành cho ích lợi của quần chúng.
Ba là, ko dừng củng cố, tăng nhanh kết đoàn, kết đoàn toàn Đảng, kết đoàn toàn dân, kết đoàn dân tộc, kết đoàn quốc tế.Kết đoàn là truyền thống quý báu và là bài học lịch sử béo, dài lâu của dân tộc ta đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh áp dụng thành công, hình thành nguồn sức mạnh lớn béo để giành chiến thắng.
4 là, liên kết sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Sức mạnh dân tộc, sức mạnh trong nước là sức mạnh tổng hợp của nhiều nguồn lực. Sức mạnh thời đại, sức mạnh quốc tế trước nhất là sức mạnh của quy luật và xu hướng tăng trưởng chẳng thể đảo ngược của lịch sử loài người.
5 là, sự chỉ đạo đúng mực của Đảng là yếu tố bậc nhất đảm bảo chiến thắng của cách mệnh Việt Nam. Giữ vững và tăng nhanh sự chỉ đạo của Đảng là yếu tố quyết định bậc nhất đảm bảo chiến thắng của sự nghiệp cách mệnh nước ta. Để làm được điều ấy, phải xây dựng Đảng lớn mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên đổi mới phương thức chỉ đạo của Đảng phục vụ đề nghị của tình hình thực tiễn, đủ sức khắc phục các vấn đề do cuộc sống đặt ra.
Thực chất thì bản thân tôi hoàn toàn tâm đắc tất cả các bài học ở trên, trong tôi qua mỗi bài học tự rút ra được cho mình những bài học quý báu, những tri thức cẩn và đủ để có thể biến thành 1 đàng viên tốt, xong xuôi tốt nhiệm vụ được giao, và đóng góp vào sự tăng trưởng chung của Đảng, Nhà nước.
Từ cái nhìn khách quan và chi tiết nhất tôi cũng đưa ra được cho mình Bài học tâm đắc nhất ấy là ở bài học béo thứ 2:
“Sự nghiệp cách mệnh là của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng”
Có thể khẳng định 1 điều rằng: Sự nghiệp cách mệnh là của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng. Để phát huy, nhân lên sức mạnh lớn lao của quần chúng, sự chỉ đạo và toàn thể hoạt động của Đảng phải xuất hành từ ích lợi và ước muốn chân chính của quần chúng, đại biểu trung thành cho ích lợi của quần chúng
8 mươi mốt 5 qua, dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và đoàn luyện, dân tộc ta đã vượt qua muôn ngàn gian khổ, thách thức, lập nên những kỳ tích lớn lao trong cách mệnh giải phóng dân tộc và xây dựng, tăng trưởng quốc gia, định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thắng lợi của Cách mệnh Tháng 8 5 1945 đã đưa quần chúng thoát khỏi cảnh bầy tớ lầm than, giành độc lập cho quốc gia, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Thắng lợi lớn lao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã bảo vệ và trở nên quả Cách mệnh Tháng 8 1945, giải phóng miền Bắc, kết thúc giai cấp thống trị của thực dân Pháp trên quốc gia ta, đưa cách mệnh nước ta bước sang quá trình mới, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp diễn thực hiện cách mệnh giải phóng ở miền Nam.
Trcửa ải qua 21 5 đấu tranh, quần chúng ta đã đánh thắng trận chiến tranh xâm lăng kiểu mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, chấm dứt vang dội 30 5 chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Non sông, kết thúc vĩnh viễn giai cấp thống trị kéo dài hơn 1 thế kỉ của chủ nghĩa thực dân trên quốc gia ta, xong xuôi về căn bản cuộc cách mệnh dân tộc dân chủ sở hữu dân trên cả nước, đất nước thu về 1 mối. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là chiến thắng lớn lao nhất trong sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo, ghi lại bước đột phá quyết định cho dân tộc Việt Nam tiến vào kỉ nguyên mới- kỉ nguyên độc lập, hợp nhất và chủ nghĩa xã hội.
Sau 30 5 chiến tranh giải phóng, cả nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là 1 trận chiến đấu “đồ sộ” để loại trừ những gì cũ kỹ lỗi thời, tạo ra những trị giá “mới mẻ, tươi tốt” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh.
Trong buổi đầu cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như trong giai đoạn đổi mới, dân tộc ta phải đối diện với bao thử thách, gian khổ gay gắt cả trong nước và quốc tế. Đặc trưng vào thập kỉ 90 của thế kỉ XX, trong bối cảnh quốc tế cực kỳ phức tạp và tình hình quốc gia gặp muôn ngàn gian khổ, các thần thế cừu địch ko dừng chống phá, nhưng mà với khả năng bền chí của 1 chính đảng cách mệnh và khoa học, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên trì chỉ tiêu nhưng Đảng, quần chúng đã chọn lọc, giữ vững vai trò chỉ đạo, chống chèo con thuyền cách mệnh vượt qua sóng gió, tiếp diễn tiến lên, thực hiện công cuộc đổi mới đạt nhiều thành quả quan trọng. Đảng đã đề ra và từng bước bổ sung, hoàn thiện đường lối cách mệnh 1 cách đúng mực, thông minh, bước đầu tạo nên 1 hệ thống các ý kiến và nguyên lý lãnh đạo công cuộc đổi mới, khai khẩn tuyến đường đi lên chủ nghĩa xã hội thích hợp với thực tiễn nước ta, kế thừa và phát huy trị giá văn hoá và bản sắc dân tộc. Đây là kết quả của 1 giai đoạn trằn trọc, tìm tòi, tổng kết, đổi mới tư duy lí luận, nhận thức đúng mực hơn về thực tế cách mệnh Việt Nam. Đảng càng ngày càng trưởng thành và có thêm kinh nghiệm chỉ đạo nghiệp xây dựng và bảo vệ quốc gia trong tình cảnh mới.
Xuyên suốt chặng đường hoạt động cách mệnh 80 5 qua, trong các Cương lĩnh (từ Cương lĩnh trước nhất 5 1930 tới Cương lĩnh xây dựng quốc gia trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, 5 1991), hay trong mọi chủ trương, đường lối, chế độ của Đảng đều trình bày rất rõ, Đảng ta ko có mục tiêu nào khác là tranh đấu cho tự do độc lập dân tộc và hạnh phúc của quần chúng. Quần chúng quần chúng là người làm nên lịch sử. “Sự nghiệp cách mệnh là của quần chúng, do quần chúng, và vì quần chúng. Chính quần chúng là người làm nên chiến thắng lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất hành từ ích lợi và ước muốn chân chính của quần chúng. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó khăng khít với quần chúng. Quan liêu, mệnh lệnh, xa vắng quần chúng sẽ đưa tới những tổn thất ko lường được đối với vận mệnh của quốc gia”.
6 đặc thù của xã hội xã hội chủ nghĩa nhưng quần chúng ta xây dựng cũng như những phương hướng căn bản trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Non sông nhưng Cương lĩnh 1991 của Đảng xác định đều toát lên địa điểm, vai trò của quần chúng; đều nhằm giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, hướng đến xây dựng cuộc sống no đủ, tự do, hạnh phúc, mỗi tư nhân đều có điều kiện tăng trưởng toàn diện; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng, lấy liên minh giai cấp người lao động với giai cấp dân cày và phân khúc trí thức làm nền móng, do Đảng Cộng sản chỉ đạo. Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của quần chúng, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm ích lợi của Non sông và của quần chúng
Triển khai đường lối đổi mới, tăng mạnh công nghiệp hóa, tiên tiến hóa của Đảng, nhằm chỉ tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bình, dân chủ, tân tiến, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chế độ đảm bảo và ko dừng tăng lên đời sống vật chất, ý thức của quần chúng; quyền dân chủ chính trị của quần chúng được khơi dậy, tôn trọng và càng ngày càng đề cao. Chính sách xã hội giai đoạn đổi mới hướng vào phát huy yếu tố con người trên cơ sở bảo đảm công bình, đồng đẳng về lợi quyền và bổn phận công dân; liên kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với văn minh xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống ý thức; giữa phục vụ các nhu cầu trước mắt với chăm lo ích lợi dài lâu; giữa tư nhân với số đông và số đông xã hội. Đặc trưng, đã tạo được những thành quả béo trong tiến hành chiến lược non sông xóa đói giảm nghèo và khắc phục việc làm, được toàn cầu ghi nhận và bình chọn cao. Cùng lúc, đã liên kết tốt các nguồn lực của Nhà nước và quần chúng, xây dựng nhiều công trình kết cấu cơ sở vật chất kinh tế, văn hóa, xã hội cho các vùng, miền. Chính trị- xã hội bình ổn; quốc phòng an ninh được tăng nhanh, quan hệ đối ngoại có những bước tăng trưởng mới, đã tạo thêm môi trường thuận tiện để Đảng và Nhà nước ta chỉ đạo tổ chức tiến hành tốt hơn các chương trình, chỉ tiêu tăng trưởng quốc gia.
Qua gần 25 5 đổi mới, quốc gia đã vượt qua thách thức hiểm nghèo, phá thế bủa vây cấm vận của các thần thế cừu địch, tăng trưởng kinh tế, văn hoá, xã hội, mở mang quan hệ quốc tế, tạo tiền đề chắc chắn để tiếp diễn tăng mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tăng mạnh công nghiệp hoá, tiên tiến hoá vì chỉ tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bình, dân chủ, tân tiến.
Tất cả thực tế phong phú, tấp nập, hào hùng của dân tộc ta trong 80 5 qua càng ngày càng khẳng định rõ hơn thẩm định của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc Đảng vừa tròn 30 tuổi:
“Đảng ta lớn lao như biển rộng, như núi cao
Ba mươi 5 cố gắng và chiến thắng biết bao lăm tình.
Đảng ta là đạo đức, là tân tiến,
Là hợp nhất, độc lập, là hoà bình no đủ”
Đảng ta thật là lớn lao là bởi vì ”ngoài ích lợi của giai cấp, của quần chúng, của dân tộc Đảng ta ko hữu ích ích gì khác”
Đảng ta lớn lao, trước nhất chính vì Đảng điển hình cho sức mạnh trí não của giai cấp người lao động tiên tiến, cho tiềm lực ý thức truyền thống của dân tộc và tiếp nhận được những tinh hoa của văn hoá loài người. Ngay kể từ thành lập, sức mạnh của Đảng nằm ngay trong 3 nhân tố hợp thành của Đảng: chủ nghĩa Mác- Lênin, phong trào người lao động và phong trào yêu nước Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội đi đầu, là tổ chức của những chiến sĩ ưu tú nhất của giai cấp người lao động và của toàn bộ dân tộc.
Diễn ra từ có mặt trên thị trường đến giờ, Đảng ta luôn đứng vững trên lập trường, ý kiến của giai cấp người lao động, tuyệt đối trung thành với ích lợi của quần chúng, của dân tộc, coi ấy là điểm xuất hành của mọi đường lối, chủ trương của Đảng. Ngay Cương lĩnh chính trị trước nhất của Đảng do đồng đội Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được phê duyệt tại Hội nghị thành lập Đảng đề đạt đúng quy luật khách quan, thích hợp với ước muốn của quần chúng, phục vụ đúng đề nghị của thực tế, vạch ra được chỉ tiêu, phương hướng và biện pháp căn bản của cách mệnh. Từ ấy thực hiện , tổ chức, khích lệ toàn bộ quần chúng biến đường lối của Đảng thành hành động cách mệnh của nhân dân. Tinh thần căn bản của bản Cương lĩnh đó được tăng trưởng, chi tiết hoá phục vụ những nhiệm vụ cách mệnh trong từng quá trình lịch sử, xong xuôi cuộc cách mệnh dân tộc dân chủ và từng bước xây dựng 1 nước Việt Nam hoà bình, hợp nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Ngay sau lúc giành được chính quyền cách mệnh, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nước độc lập nhưng dân ko hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lí gì”. Chỉ tiêu của Đảng là khiến cho mọi người dân người nào cũng có cơm ăn áo mặc, người nào cũng được học hành, được sống no đủ và phấn kích; mang đến quyền làm chủ về kinh tế, xã hội cũng là thước đo trình độ giải phóng xã hội, sự tăng trưởng của xã hội.
Lịch sử 8 mươi mốt 5 xây dựng và tăng trưởng của Đảng đã chứng tỏ, cỗi nguồn sức mạnh của Đảng ko chỉ trình bày ở chỗ mọi hoạt động của Đảng đều xuất hành vì ích lợi của quần chúng nhưng còn trình bày Đảng xoành xoạch gắn bó chặt chẽ với quần chúng, được quần chúng tin cậy, ủng hộ và chở che. Liên hệ khăng khít với quần chúng đã biến thành 1 truyền thống tốt đẹp của Đảng và cũng là cỗi nguồn sức mạnh của Đảng trong 81 5 qua. Chính từ thực tế cách mệnh, Đảng đã nhận thức thâm thúy: “Cách mệnh là sự nghiệp của nhân dân, chứ chẳng phải là sự nghiệp của tư nhân người hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng đã tổ chức và phát huy được lực lượng cách mệnh bất tận của quần chúng”
Là 1 Đảng cách mệnh vì quần chúng, trước nhất, đường lối chính trị của Đảng phải xuất hành từ ích lợi của quần chúng. Lãnh tụ Hồ Chí Minh coi việc hoạch định đường lối chế độ của Đảng ko chỉ là công tác của bản thân Đảng nhưng còn phải biết phát huy trí não của toàn dân vào việc xây dựng đường lối của Đảng: “Tin vào nhân dân. Đưa mọi vấn đề cho nhân dân bàn luận và tìm cách khắc phục”. “Nghị quyết gì nhưng nhân dân cho là ko hợp thì để họ yêu cầu tu sửa. Dựa vào quan điểm của nhân dân nhưng tu sửa cán bộ và tổ chức của ta. Đảng ko chỉ có đường lối chính trị xuất hành từ ích lợi chính đáng của quảng đại quần chúng, nhưng còn trình bày ở trong tổ chức của Đảng. Trong giai đoạn chỉ đạo cách mệnh, Đảng luôn đặt ích lợi của quần chúng, của dân tộc lên trên hết, ấy cũng chính là nguyên do sâu xa làm nên sức mạnh kết đoàn rất đáng kiêu hãnh của Đảng ta, đã hình thành uy tín chỉ đạo của Đảng đối với toàn dân tộc; khiến cho Đảng được dân tin, dân phục, dân yêu quý, dân tương trợ, ủng hộ và bảo vệ.
Sức mạnh và uy tín của Đảng ko chỉ ở đường lối chính trị với mục vì dân nhưng còn trình bày ở đức hy sinh, chuẩn bị lao vào vì ích lợi của quần chúng, của dân tộc của hàng triệu các lứa tuổi đảng viên trong sự nghiệp cách mệnh, đặc thù trong tranh đấu giành chính quyền cách mệnh và trong tranh đấu giải phóng dân tộc.
Nhìn lại chặng đường tranh đấu đầy gian khổ, thách thức nhưng mà cực kỳ oanh liệt của Đảng ta trong 8 thập kỉ qua, chúng ta càng thấm thía bài học “lấy dân làm gốc”, trân trọng dĩ vãng, nâng niu gìn giữ những thành tích cách mệnh của cách mệnh, càng thấm thía và hàm ơn vô bờ công huân lớn béo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các lứa tuổi đảng viên ấy lao vào vì nền độc lập, hợp nhất của quốc gia, càng thêm kiêu hãnh về Đảng ta, quần chúng và dân tộc ta.
Khi tổng kết những kinh nghiệm quý sau 20 5 đổi mới, 1 trong những bài học quan trọng bậc nhất được Đại hội X của Đảng đúc kết là bài học “lấy dân làm gốc”: “Đổi mới phải vì ích lợi của quần chúng, dựa vào quần chúng, phát huy vai trò chủ động, thông minh của quần chúng, xuất hành từ thực tế, nhạy bén với cái mới. Cách mệnh là sự nghiệp của quần chúng, vì quần chúng và do quần chúng. Những quan điểm, ước muốn và sáng kiến của quần chúng có vai trò quan trọng trong việc tạo nên đường lối đổi mới của Đảng. Dựa vào quần chúng, xuất hành từ thực tế và thường xuyên tổng kết thực tế, phát hiện yếu tố mới, từng bước tìm ra quy luật tăng trưởng, ấy là chìa khóa của thành công”
Ý nghĩa đối với bản thân:
Là 1 sinh viên đang còn ngồi trên ghế nhà trường bản thân tôi cũng tự nhận thấy những tri thức về Đường lối cách mệnh Đảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh hay chủ nghĩa Mac – Lenin, là cái mấu chốt đưa cho tôi đến được với những ý kiến logic những ý nghĩa vô cũng lớn béo về cách mệnh, về sự nghiệp cách mệnh của dân tộc và tôi biết sự nghiệp cách mệnh là của dân tộc, là của quần chúng và vì quần chúng
Tôi đã từng nghe:
“Dân biết , dân bàn, dân làm, dân rà soát”

“Vì nước quên thân, vì dân dùng cho”
Những câu nói bất hủ đó nhưng làm tôi luôn hướng về quần chúng, tôi cũng có 1 nghĩ suy, 1 thèm muốn là làm sao sau này mình sẽ có 1 phần đóng góp cho sự tăng trưởng chung xã hội,cho sự tăng lên dân trí của người dân
Chuyên ngành tôi nghiên cứu là Giáo Dục Học và tôi ưa chuộng nó, tôi cũng có ý nghĩ là tôi sẽ vận dụng nó vào giai đoạn làm việc của mình sau này đặc thù là tham dự vào việc giáo dục những lý tưởng sống, những nhiệm vụ học tập cấp thiết, những đề nghị từ thực tế, chống lại những sự hủ lậu lỗi thời. sẽ đến từng nhà, dà từng nhân vật, bản thân giáo dục là quốc sách bậc nhất là việc quan trọng hàng đầu để đưa sự tăng trưởng của quốc gia đi lên, dân trí có nâng cao thì đới sống, cũng như nghĩ suy của quần chúng mới hăng hái
Bản thân tôi cũng đang cố gắng học tốt, để đem kiến thức của bản thân để dùng cho toàn dân, vì ích lợi mười 5 trồng cây và vì ích lợi trăm 5 trồng người,tôi hi vọng trên con đò của tôi trở sẽ được thành công như những tư tưởng béo của người đem theo hành trang của 1 Đảng viên trẻ tôi sẽ phấn đấu tâm huyết đồng hành quần chúng, san sớt, hàn ôn và bàn luận những nỗi niềm của họ, vì 1 quốc gia phồn vinh và hạnh phúc.
Câu 2:
Giai cấp người lao động là 1 tập đoàn xã hội bình ổn, tạo nên và tăng trưởng cộng với giai đoạn tăng trưởng của nên công nghiệp tiên tiến với nhịp điệu tăng trưởng của lực lượng sản xuất có thuộc tính xã hội hóa càng ngày càng cao; là lực lượng lao động căn bản đương đại trong các thứ tự công nghệ, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp tham dự vào giai đoạn sản xuất, tái sản xuất ra của nả vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất đương đại trong thời đại hiện tại.
Là giai cấp của những công nhân sản xuất vật chất là cốt yếu (với trình độ trí não càng ngày càng cao, cùng lúc cũng càng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được phần mềm ngay trong sản xuất). Thành ra, giai cấp người lao động có vai trò quyết định nhất sự còn đó và tăng trưởng xã hội.

Vậy ở trong Điều lệ Đảng thực chất của giai cấp người lao động của Đảng được trình bày ở những điểm cốt yếu:
Từ ngày thành lập đến giờ, Đảng ta luôn khẳng định thực chất giai cấp người lao động của mình.
Trong “Chương trình tóm lược” được phê duyệt tại Hội nghị thành lập Đảng khẳng định: “Đảng là đội đi đầu chỉ đạo của đội quân vô sản gồm 1 số béo giai cấp người lao động và khiến cho họ có đủ năng lực chỉ đạo nhân dân”.Sách lược vắn tắt viết: “Đảng là đội đi đầu của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải khiến cho giai cấp mình chỉ đạo được nhân dân”.
Đại hội X đã phê duyệt sự diễn tả về Đảng là: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội đi đầu của giai cấp người lao động, cùng lúc là đội đi đầu của quần chúng lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành ích lợi của giai cấp người lao động, của quần chúng lao động và của dân tộc”.
Sự diễn tả như trên trình bày ở 2 nội dung sau:
+ Đảng là đội tiên phong của giai cấp người lao động Việt Nam và cùng lúc là đội tiên phong của quần chúng lao động và của cả dân tộc.
+ Đảng là đại biểu trung thành ích lợi của giai cấp người lao động, của quần chúng lao động và của dân tộc Việt Nam.
– Xuất phát từ nhận thức khoa học về vai trò và sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động.
+ Sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động là phạm trù căn bản nhất của CNXHKH. Phát xuất hiện sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động là 1 trong những góp sức lớn lao nhất của Chủ nghĩa Mác – Lênin.
Để thông suốt sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động, trước nhất cần làm rõ định nghĩa giai cấp người lao động.
+ Khái niệm giai cấp người lao động (theo Nghị quyết TW 6 khoá X).
– Giai cấp người lao động Việt Nam là 1 lực lượng xã hội lớn béo, đang tăng trưởng, bao gồm những công nhân tay chân và trí não, làm mướn hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có thuộc tính công nghiệp.
+ Là 1 lực lượng lớn béo, quan trọng trong xã hội, chưa định hình rõ nét, còn có sự chuyển đổi, tăng trưởng.
+ Thành phần: bao gồm những công nhân tay chân và trí não.
+ Đặc điểm: làm mướn hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có thuộc tính công nghiệp.
(Tính tới đầu 5 2007, tổng số người lao động nước ta khoảng 9,5 triệu người, chiếm tỉ lệ 11% dân số và 21% lực lượng lao động xã hội, trong ấy số lượng người lao động làm việc trong các công ty của các thành phần kinh tế khoảng 6,75 triệu người).
Nội dung sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động:
+ Trước hết phải chỉ đạo thực hiện cuộc cách mệnh dân tộc dân chủ sở hữu dân phê duyệt đội đi đầu của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam, tranh đấu giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính dân chủ sở hữu dân.
+ Trong quá trình cách mệnh XHCN, giai cấp người lao động từng bước chỉ đạo quần chúng lao động xây dựng thành công CNXH, ko có người bóc lột người, giải phóng quần chúng lao động khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, bất công.
=> Hai nội dung trên quan hệ chặt chẽ với nhau trong giai đoạn tiến hành. Thể hiện sự nghiệp lớn lao của giai cấp người lao động là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người và loài người khỏi mọi áp bức, bóc lột, nghèo đói lỗi thời, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa tân tiến.
+ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ ý nghĩa, nội dung cơ bản, trình bày chi tiết của sứ mạng lịch sử giai cấp người lao động Việt Nam trong quá trình mới là: Ích lợi giai cấp người lao động hợp nhất với ích lợi của toàn dân tộc trong chỉ tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bình, dân chủ, tân tiến”.– ở nước ta, giai cấp người lao động tuy số lượng còn ít, nhưng mà giai cấp người lao động Việt Nam và chính Đảng của mình luôn đứng trên lập trường cách mệnh, giữ vững thực chất giai cấp, lấy Chủ nghĩa Mác – Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền móng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.
– Đảng Cộng sản Việt Nam ngay kể từ có mặt trên thị trường đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, trình bày mối quan hệ gắn bó giữa giai cấp và dân tộc… Thắng lợi của cách mệnh Việt Nam qua các giai đoạn đều bắt nguồn từ việc khắc phục đúng mực mối quan hệ khăng khít giữa giai cấp và dân tộc.
+ Trong điều kiện của nước ta, lợi quyền của giai cấp người lao động, của quần chúng lao động và của dân tộc là hợp nhất.
+ Sự gắn kết máu thịt giữa Đảng với giai cấp và dân tộc đã được trình bày ngay từ xuất xứ có mặt trên thị trường của Đảng ta. Đảng có mặt trên thị trường ko chỉ là sự liên kết chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào người lao động nhưng còn với phong trào yêu nước.– Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định rằng: Đảng ta ko chỉ là Đảng của giai cấp người lao động nhưng còn là Đảng của quần chúng lao động và của dân tộc Việt Nam.
– Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 của Đảng (tháng 2 – 1951), Bác chỉ rõ: “Đảng Lao động Việt Nam phải là người chỉ đạo minh mẫn, cương quyết, trung thành của giai cấp người lao động và quần chúng lao động, của quần chúng Việt Nam… Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp người lao động và quần chúng lao động, do đó nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”.(Trích Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị non sông, Hà Nội, 2001, t. 12, tr. 37 – 38).
– Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, được toàn dân thừa nhận là đội đi đầu chỉ đạo quần chúng. Về vấn đề ích lợi, Đảng ko hữu ích ích nào khác ngoài mục tiêu dùng cho quần chúng, dùng cho dân tộc. Chi tiết:
+ Trên thực tiễn, Đảng ta có mặt trên thị trường, còn đó và tăng trưởng là vì ích lợi ko chỉ của giai cấp người lao động nhưng còn vì ích lợi của quần chúng lao động, của toàn dân tộc.
+ Trong cách mệnh dân tộc dân chủ, Đảng ta nêu khẩu hiệu: “Độc lập dân tộc” và “Người cày có ruộng”.
+ Trong quá trình hiện tại, Đảng ta đề ra chỉ tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bình, dân chủ, tân tiến.
* Để giữ vững và tăng nhanh thực chất giai cấp người lao động của Đảng trong tình hình mới, nhiệm vụ của mỗi đảng viên của Đảng là:
+ Kiên định chỉ tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
+ Kiên định và áp dụng thông minh, góp phần tăng trưởng Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Xuất phát từ thực tế lịch sử của nước ta đề ra đường lối, chủ trương và các chế độ đúng mực; cùng lúc bằng hành động cách mệnh biến đường lối, chủ trương ấy thành hiện thực sinh động trên mọi mặt của đời sống xã hội.
+ Tranh đấu cương quyết, kịp thời chống lại mọi biểu thị thời cơ, hữu khuynh, giáo điều, thủ cựu; phê phán những luận điệu và âm mưu của các thần thế cừu địch phủ nhận, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác – Lên nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.+ Luôn luôn phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp nhận tinh hoa văn hoá, kiến thức của thời đại để làm giàu tri thức, khắc phục thành công những vấn đề lý luận và thực tế của cách mệnh nước ta, góp phần vào sự nghiệp tăng trưởng chung của toàn cầu.
+ Giữ vững nguyên lý tập hợp dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt đảng, số đông chỉ đạo, tư nhân gánh vác. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, gìn giữ sự kết đoàn hợp nhất trong Đảng.
+ Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng lập trường, ý kiến, tinh thần tổ chức của giai cấp người lao động; xây dựng hàng ngũ cán bộ và đảng viên theo ý kiến của giai cấp người lao động.
+ Củng cố mối quan hệ gắn bó khăng khít với quần chúng, tăng nhanh khối đại kết đoàn toàn dân, chăm lo đời sống và thực thụ phát huy quyền làm chủ của quần chúng.
+ Liên kết chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trắng trong của giai cấp người lao động. Liên kết sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, hình thành sức mạnh tổng hợp của cách mệnh.

Có ích ích giai cấp đối lập với ích lợi căn bản của giai cấp tư sản (giai cấp người lao động: xóa bỏ cơ chế tư hữu, xóa bỏ áp bức bóc lột, giành chính quyền và làm chủ xã hội. Giai cấp tư sản ko bao giờ tự rời bỏ những vấn đề căn bản ấy). Do vậy, giai cấp người lao động có ý thức cách mệnh triệt để.
Bất cứ giai cấp người lao động nước nào, lúc đã có đảng đi đầu của nó, đều có những đặc điểm căn bản, chung nhất ấy. Do vậy, giai cấp người lao động mỗi nước đều là 1 bộ phận chẳng thể tách rời giai cấp người lao động trên toàn toàn cầu. Thành ra chủ nghĩa Mác-Lênin mới có ý kiến đúng mực về sứ mạng lịch sử toàn toàn cầu cùa giai cấp người lao động.
Có quan điểm đã cho rằng: Giai cấp người lao động Việt Nam số người còn ít, ko chỉ đạo được cách mệnh.
Nói vậy ko đúng. Chỉ đạo được hay là ko, là do đặc tính cách mệnh, chứ chẳng phải do số người ít nhiều của giai cấp. Giai cấp người lao động có chủ nghĩa Mác – Lênin. Trên nền móng tranh đấu, họ xây dựng nên Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin là Đảng Lao động Việt Nam. Đảng đề ra chủ trương, đường lối, khẩu hiệu cách mệnh, quyến rũ giai cấp dân cày và tiểu tư sản vào tranh đấu, bồi dưỡng họ thành những phần tử đương đại. Lại có những phần tử trí thức tham dự cách mệnh và vô sản hoá. Thành thử hàng ngũ chính trị của giai cấp người lao động càng ngày càng tăng trưởng. Mai sau, công nghệ của ta càng ngày càng tăng trưởng, thì số người lao động càng ngày càng tǎng thêm
Trong thời đại hiện tại, thực chất giai cấp của Đảng Cộng sản vẫn chỉ có thể là thực chất giai cấp của giai cấp người lao động; cơ sở chính trị – xã hội cốt yếu của Đảng Cộng sản phải là giai cấp người lao động trong giai đoạn tăng trưởng từ tân tiến công nghiệp sang tân tiến trí não; tư duy mới về giai cấp người lao động phải gắn liền với tư duy mới về chủ nghĩa xã hội tiên tiến. Có thể nói, 1 trong những nguyên do chính dẫn tới sự lỗi thời, bất cập trước đây của Đảng Cộng sản ở 1 số nước tư bản tăng trưởng là do ko nhận thức được điều này. Bởi thế, ở ấy, Đảng Cộng sản dần dần mất cơ sở chính trị – xã hội cần có của mình, gắn liền với những cương lĩnh càng ngày càng xa vắng cuộc sống. Giai cấp người lao động tiên tiến, quần chúng lao động ko thấy được tuyến đường đi đến 1 xã hội tốt đẹp hơn, nhưng thỉnh thoảng mất phương hướng và nghe đâu hy vọng vào 1 ngày mai nào ấy trong lòng chủ nghĩa tư bản tiên tiến, lúc ở ấy hiện ra và tăng trưởng dần 1 số nhân tố của xã hội mới, nhưng mà đội đi đầu của giai cấp người lao động tiên tiến đã ko trông thấy để làm sinh sôi nảy nở.
Đảng Cộng sản Việt Nam mang thực chất giai cấp người lao động Việt Nam, là Đảng của giai cấp người lao động và của dân tộc Việt Nam. Bởi nhiều lẽ: Đảng là con đẻ của 2 phong trào: phong trào người lao động và phong trào yêu nước (chứ ko chỉ là con đẻ của phong trào người lao động như ở những nước tư bản). Trong giai đoạn chỉ đạo cách mệnh, Đảng luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, trong ấy đặt nhiệm vụ dân tộc lên trên và lên trước, coi nhiệm vụ dân tộc là tiền đề, điều kiện tiên quyết và là cơ sở để xong xuôi nhiệm vụ giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chỉ đạo cách mệnh xã hội chủ nghĩa, Đảng khích lệ sức mạnh toàn dân tộc dưới sự chỉ đạo của giai cấp người lao động, coi cách mệnh xã hội chủ nghĩa ko chỉ là nhiệm vụ giai cấp nhưng còn là nhiệm vụ dân tộc, định hướng cho nhiệm vụ dân tộc, đảm bảo độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc triệt để, đưa dân tộc bỏ dở thời đại dân tộc tư sản, tiến vào thời đại dân tộc xã hội chủ nghĩa.
Là Đảng của giai cấp người lao động,trước nhất Đảng phải hiểu giai cấp người lao động và dựa vào giai cấp người lao động. Giai cấp người lao động Việt Nam hiện tại đã chỉnh sửa rất nhiều (như trên đã phân tách),đang tăng trưởng nhanh cả về số lượng và chất lượng, tăng trưởng trong sự phân hóa thường xuyên – 1 sự phân hóa hăng hái.Đấy là sự phân hóa trong cơ cấu ngành nghề kinh tế – kỹ thuật, tăng trưởng lực lượng sản xuất; trong cơ cấu thành phần kinh tế, xây dựng quan hệ sản xuất thích hợp với lực lượng sản xuất; trong cắt cử lao động xã hội
Thực chất giai cấp người lao động của Đảng đã được trình bày rõ ở trong Điểu lệ Đảng hiện lên như 1 bức tranh toàn cảnh về cái đẹp tươi và cao cả nhất, hiện thân cho ý thức tranh đấu bền chí quật cường của ông cha ta từ thời kháng chiến, ý thức đó vẫn trường tồn đến hiện tại như bản người hùng ca mãnh liệt cho chúng ta noi theo.
Câu 3:
Sinh ra và béo lên tại vùng quê yên bình và giản dị, tôi được được hưởng cuộc sống hòa bình trong thế kỷ XXI, được chứng kiến sự thay đổi của quốc gia, như 1 bức tranh muôn màu sắc, tôi được học tập được tu dưỡng, trau dồii tri thức và được xúc tiếp với nhiều bài học quý báu từ lời dạy của thầy từ câu nói của cô. Tất cả những bài học đó luôn đọng trong tâm não tôi như trang sách luôn sát cánh bên tôi vậy !
Tôi đặc thù thích câu nói lúc học Lịch sử lớp 12:
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải khoan nhượng. Nhưng chúng ta càng khoan nhượng, thực dân Pháp càng lấn đến, vì chúng phấn đấu cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất mực ko chịu mất nước, nhất mực ko chịu làm bầy tớ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất cứ con trai, phụ nữ, bất cứ người già, người trẻ, ko phân chia tín ngưỡng, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Non sông. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, ko có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra công chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em quân sĩ, tự vệ, dân binh!
Giờ cứu nước đã tới. Ta phải hy sinh tới giọt máu , để gìn giữ quốc gia.
Dù phải gian khó kháng chiến, nhưng mà với 1 lòng cương quyết hy sinh, chiến thắng nhất mực về dân tộc ta!
Việt Nam độc lập và hợp nhất muôn 5! Kháng thắng lợi lợi muôn 5!”
Câu nói đó xoành xoạch hiện ra trong tâm chí tôi như 1 tuyên ngôn cho tôi vậy. lúc nhắc đến cấu nói tôi lại cảm thấy cái gì ấy thôi thúc tôi càng phải cố gắng và đoàn luyện nhiều hơn nữa.
Các bạn biết câu nói ấy của người nào ko?
Lãnh tụ, danh nhân Hồ Chí Minh đó các bạn ạ. Được viết vào 19/12/1946 Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Đấy chỉ là 1 câu nói trong rất nhiều câu nói nhưng tôi thích của Người, tất cả những gì thuộc về người tôi cũng đêu thích và suy tôn như những ý nghĩa cao cả nhất.
Đã qua hơn 10 5 sống trong thế kỷ XXI nhưng mà tấm gương Hồ Chí Minh lớn lao luôn được mỗi người dân Việt hướng đến.
Sau gần 5 5 khai triển và tiến hành, Cuộc chuyển động “Học tập và tuân theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã tạo tác động thâm thúy tới nhận thức của cán bộ, đảng viên và công nhân. Thông qua nghiên cứu, học tập các chuyên đề về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về: cần, kiệm, liêm, chính, chí công không lo nghĩ, tinh thần tiết kiệm và ý thức tương thân, tương ái… đã tạo điều kiện cho toàn thể cán bộ, đảng viên, học trò, sinh viên, toàn dân trong tất cả các đơn vị có những chuyển biến về tinh thần tu dưỡng, đoàn luyện và tuân theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Như vậy chúng ta có thể thấy được sự cấp thiết của việc học tập và tuân theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có vai trò rất quan trọng trong công cuộc tăng trưởng của quốc gia trên tất cả mọi lĩnh vực. Được trình bày chi tiết như sau:
Trong giai đoạn đổi mới với bao gian khổ và thách thức từ chức vụ kinh tế – xã hội, an ninh và quốc phòng. Thực tiễn kinh tế – xã hội và những cảnh huống chiến lược cũng như những nhiệm vụ chi tiết nhiều lúc chúng ta tỏ ra tuyệt vọng chỉ vì việc học. Tuyệt vọng chẳng phải chúng ta ko để mắt tới tới việc học tập đối với nền giáo dục quốc dân và đối với bộ máy nhân công của Chính phủ chúng ta cũng đã làm được rất nhiều việc.
Nếu ko, làm sao chúng ta đứng vững cho tới hiện tại với 1 nhà nước độc lập tự chủ, kinh tế tăng trưởng đều đặn, đời sống quần chúng ko dừng được cải thiện. Thành ra, xin được miễn nói những gì là thành quả. Chỉ xin nói thêm về những thực trạng cần có đổi mới trong việc học tập cho cán bộ và công chức từ giáo huấn Hồ Chí Minh:
Chưa có chương trình chi tiết để gắn việc học với điều kiện của thực tế. Làm cái gì thì học cái ấy trước, cái ấy nhiều, cái ấy suốt đời. Đưa người đã học vào bộ máy công chức là chính, lấy người chưa học là phụ (tránh hiện trạng hiện tại: sinh viên thất nghiệp, công chức đi học đương nhiệm!).
Đưa thực tế vào tất cả các khâu: phân bổ thời kì; sắp đặt con người “dạy thực tế” (như dạy sinh viên hành chính là trưởng phó phòng, chủ tịch, phó chủ tịch, dạy tiếp dân…).
Tiếp cận bí quyết tập huấn bồi dưỡng cán bộ công chức trong nước với toàn cầu để tránh hiện trạng bất cập có thể có: 1 bên là Việt Nam và 1 bên là toàn cầu còn lại!
Thiết nghĩ 1 trong những điều nhưng giáo huấn Hồ Chí Minh biến thành tư tưởng Hồ Chí Minh chính là trị giá “đồng hành thời đại” của những giáo huấn ấy
1. Đạo đức và vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội
Đạo đức, hiểu theo nghĩa chung nhất, là 1 hình thái của tinh thần xã hội, bao gồm những nguyên lý, chuẩn mực và thang bậc trị giá được xã hội thừa nhận
Đạo đức có chức năng chi phối, điều chỉnh hành vi của mỗi người sao cho thích hợp với ích lợi của toàn xã hội
Đối với mỗi tư nhân, tinh thần và hành vi đạo đức mang tính “phận sự” diễn ra 1 cách tự giác, cốt yếu xuất hành từ nhu cầu ý thức bên trong. Đạo đức của mỗi tư nhân chịu sự ảnh hưởng của dư luận xã hội, cũng như sự tự rà soát bởi chính mình
Đạo đức có tác dụng điều chỉnh hành vi, tác dụng giáo dục và tác dụng đề đạt.
Chức năng điều chỉnh hành vi
– Đạo đức là 1 phương thức điều chỉnh hành vi. Sự điều chỉnh hành vi làm tư nhân và xã hội cùng còn đó và tăng trưởng, đảm bảo quan hệ ích lợi tư nhân và số đông.
Loài người thông minh ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi, trong ấy có chính trị, pháp quyền và đạo đức…
– Chính trị điều chỉnh hành vi giữa các giai cấp, các dân tộc, tất cả các nước bằng các giải pháp đặc thù như ngoại giao, kinh tế, hành chính, bạo lực…
– Pháp quyền và đạo đức điều chỉnh hành vi trong quan hệ giữa các tư nhân với số đông bằng các giải pháp đặc thù là luật pháp và dư luận xã hội, lương tâm. Sự điều chỉnh này, có thể thuận chiều, có thể ngược chiều.
– Điều chỉnh hành vi của đạo đức và pháp quyền không giống nhau ở chừng độ yêu cầu và phương thức điều chỉnh.
Pháp quyền thể xuất hiện ở luật pháp, là ý chí của ách thống trị buộc mọi người phải làm theo. Những chuẩn mực của luật pháp được tiến hành bằng nghiêm cấm và hãm hiếp (quyền lực công cộng cộng với đội vũ trang đặc thù, quân đội, cảnh sát, toà án, nhà giam…). Pháp quyền là đạo đức tối thiểu của mỗi tư nhân sống trong số đông.
Đạo đức yêu cầu từ tối thiểu tới tối đa đối với các hành vi tư nhân. Phương thức điều chỉnh là bằng dư luận xã hội và lương tâm. Những chuẩn mực đạo đức bao gồm cả chuẩn mực nghiêm cấm và cả chuẩn mực khuyến khích.
Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức bằng dư luận xã hội và lương tâm yêu cầu từ tối thiểu đến tối đa hành vi con người đã biến thành đặc thù riêng để phân biệt đạo đức với các hình thái tinh thần khác, các hiện tượng xã hội khác và làm thành cái chẳng thể thay thế của đạo đức.
– Mục tiêu điều chỉnh: đảm bảo sự còn đó và tăng trưởng xã hội bằng hình thành quan hệ ích lợi số đông và tư nhân theo nguyên lý hài hòa ích lợi số đông và tư nhân (và lúc cần phải dành đầu tiên ích lợi số đông).
– Nhân vật điều chỉnh: Hành vi tư nhân (trực tiếp) qua ấy điều chỉnh quan hệ tư nhân với số đông (gián tiếp).
– Phương pháp điều chỉnh được biểu thị: Tuyển lựa trị giá đạo đức; xác định chương trình của hành vi bởi lý tưởng đạo đức; xác định phương án cho hành vi bưỏi chuẩn mực đạo đức; hình thành động cơ của hành vi bởi niềm tin, lý tưởng, tình cảm của đạo đức, kiểm soát uốn nắn hành vi bởi dư luận xã hội.
Chức năng điều chỉnh hành vi được tiến hành bởi 2 vẻ ngoài cốt yếu.
– Xã hội và số đông tạo dư luận để khen ngợi khuyến khích cái thiện, phê phán mạnh bạo cái ác.
– Bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi cơ sở những chuẩn mực đạo đức xã hội.
Chức năng giáo dục
Con người vươn lên “chân – thiện – mỹ”. Con người là thành phầm của lịch sử, cùng lúc là chủ thể của lịch sử. Con người tạo ra tình cảnh tới mức nào thì tình cảnh cũng tạo ra con người tới mức đó.
Con người sinh ra bắt gặp hệ thống đạo đức của xã hội. Hệ thống đó ảnh hưởng tới con người và con người ảnh hưởng lại hệ thống. Hệ thống đạo đức do con người tạo ra, nhưng mà sau lúc có mặt trên thị trường hệ thống đạo đức còn đó như là cái khách quan hoá ảnh hưởng, chi phối con người.
Xã hội có giai cấp tạo nên và còn đó nhiều hệ thống đạo đức nhưng các tư nhân chịu sự ảnh hưởng. Ở đây, môi trường đạo đức: ảnh hưởng tới đạo đức tư nhân bằng nhận thức đạo đức và thực tế đạo đức. Nhận thức đạo đức để chuyển hoá đạo đức xã hội thành tinh thần đạo đức tư nhân. Thực tiễn đạo đức là hiện thực hoá nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức. Các hành vi đạo đức lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội và tư nhân làm cả đạo đức tư nhân và xã hội được củng cố, trở nên lề thói, truyền thống, tập quán đạo đức.
Hiệu quả giáo dục đạo đức dựa dẫm vào điều kiện kinh tế – xã hội, bí quyết tổ chức, giáo dục chừng độ tự giác của chủ thể và nhân vật giáo dục trong giai đoạn giáo dục.
– Giáo dục đạo đức gắn với văn minh đạo đức:
Nhân đạo hóa các quan hệ xã hội và chừng độ bình thường nhân đạo hóa các quan hệ xã hội; sự hoàn thiện của cấu trúc đạo đức và chừng độ bình thường của nó…sẽ giúp chủ thể chọn lọc, bình chọn đúng các hiện tượng xã hội, bình chọn đúng nhân cách của người khác hay của số đông cũng như tự bình chọn đúng phê duyệt mục tiêu, đề nghị, nhiệm vụ, nội dung, phương thức, vẻ ngoài và các bước đi của giai đoạn giáo dục sẽ giúp mỗi tư nhân và cả số đông tạo ra các hành vi và thực tế đạo đức đúng.
Như vậy, tác dụng giáo dục của đạo đức cần được hiểu 1 mặt “giáo dục lẫn nhau trong số đông”, giữa tư nhân và tư nhân, giữa tư nhân và số đông;mặt khác, là sự “tự giáo dục” ở các ngành độ tư nhân lẫn cấp độ tư nhân lẫn cấp độ số đông.
Chức năng đề đạt
Với nhân cách là 1 hình thái tinh thần xã hội, đạo đức có tác dụng nhận thức phê duyệt sự đề đạt còn đó xã hội.
Sự đề đạt của đạo đức với hiện thực có đặc điểm riêng khác với các hình thái tinh thần khác.
Đạo đức là phương thức đặc thù của sự chiếm lĩnh toàn cầu con người. Nếu xét dưới giác độ bản thể luận, đạo đức là hệ thống ý thức, được quy định bởi còn đó xã hội. Nhưng xét dưới giác độ xã hội học thì hệ thống ý thức (nhận thức đạo đức) ko tách rời thực tế – hành động của con người. Do vậy, đạo đức là hiện tượng xã hội vừa mang tính ý thức vừa mang tính hành động hiện thực.
Sự nhận thức của đạo đức có đặc điểm:
– Hành động đạo đức thông liền sau nhận thức trị giá đạo đức. Và trường hợp có sự hòa quyện tinh thần đạo đức với hành động đạo đức. (Khác những khoa học và phần mềm nghiên cứu thành quả khoa học có khoảng cách về ko gian và thời kì).
– Nhận thức của đạo đức là giai đoạn vừa hướng ngoại (hướng ra ngoài) và hướng nội (tự nhận thức – hương vào chính mình, chính chủ thể).
Nhận thức hướng ngoại lấy chuẩn mức, trị giá, đời sống đạo đức của xã hội làm nhân vật. Đấy là hệ thống trị giá thiện và ác, bổn phận và bổn phận, hạnh phúc và ý nghĩa cuộc sống…, những “bí quyết và dụng cụ” tạo ra các trị giá đạo đức. Nhờ sự nhận thức này nhưng chủ thể nhận thức đã chuyển hóa đạo đức của xã hội như là cái chung thành tinh thần đạo đức của tư nhân như là cái riêng.
Nhận thức hướng nội (tự nhận thức), lấy bản thân mình – chủ thể đạo đức – làm nhân vật nhận thức. Đây là giai đoạn tự bình chọn, tự giám định, tự đối chiếu những nhận thức, hành vi, đạo đức của mình với những chuẩn mực trị giá chung của số đông. Từ cách nhận thức này nhưng chủ thể tạo nên trở nên các ý kiến và nguyên lý sống: thông minh hay chủ động, hy sinh hay tận hưởng, vị tha hay vị kỷ, hướng thiện hay sa vào cái ác…
Trong tự nhận thức, vai trò của dư luận xã hội và lương tâm là lớn béo. Dư luận xã hội là sự bình phẩm, bình chọn từ phía xã hội đối với chủ thể, còn lương tâm là sự phê bình. Cả 2 đều giúp chủ thể tái hiện lại trị giá đạo đức của mình – trị giá nhưng xã hội mong muốn.
Từ nhận thức giúp chủ thể tinh thần được bổn phận của mình và chuẩn bị để ho thành bổn phận ấy. Trong cuộc sống có ti tỉ những bổn phận tương tự. Nó luôn đặt ra trong quan hệ phong phú giữa chủ thể đạo đức với xã hội, gia đình, bạn hữu, đồng đội, đồng chí, số đông, dân tộc, gia cấp, quốc gia.
Nhận thức đạo đức (đạo đức đề đạt hiện thực) ở 2 trình độ: trình độ thông thường và trình độ lý luận.
– Nhận thức đạo đức ở trình độ thông thường là tinh thần thông thường, những trị giá riêng biệt. Nó phục vụ nhu cầu đạo đức thông thường đủ để chủ thể xử lý kịp thời trong cuộc sống và sự tăng trưởng phổ biến của xã hội. Mọi tư nhân đều có thể và cần phải ảnh ánh đạo đức ở trình độ này.
– Nhận thức đạo đức ở trình độ lý luận là những nhận thức có tính nguyên lý được lãnh đạo bởi những trị giá đạo đức có tính tổng quát. Trình độ này đáng ứng những yêu cầu của sự tăng trưởng đạo đức và văn minh xã hội. Đây là nhân tố chẳng thể thiếu được trong hệ tư tưởng và hành vi của các gia cấp cầm quyền.
– Nhận thức đạo đức đưa lại kiến thức đạo đức, tinh thần đạo đức. Các tư nhân, nhờ kiến thức đạo đức, tinh thần đạo đức xã hội đã nhận thức (biến thành đạo đức tư nhân). Tư nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng trị giá đạo đức xã hội biến thành cơ sở để tư nhân điều chỉnh hành vi, tiến hành đạo đức (hiện thực hóa đạo đức).
Về sự suy thoái đạo đức, lỗi sống trong xã hội hiện tại
Quan 20 5 đỗi mới, quốc gia ta đã đạt được những thành tự lớn béo và có ý nghĩa lịch sử. Việc tiến hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội, phát huy quyền làm chủ của quần chúng có văn minh… Đông đảo cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò đi đầu, kiểu mẫu năng động, thông minh trong công việc, đoàn luyện phẩm giá, năng lực, nhập vai trò cốt cán trong công cuộc đổi mới
Trong đảng và trong xã hội ta hiện tại hiện ra hiện trạng suy thoái về đạo đức, lối sống. Đấy là nguy cơ béo liên can đến sự sống còn của Đảng của cơ chế.
Sự suy thoái về đạo đức,lối sống được biểu thị ở các dạng cốt yếu sau đây:
Thứ nhất là: chủ nghĩa tư nhân, lối sống vị kỷ, chuộc lợi, buông thả tận hưởng, thiếu lý tưởng, thiếu ý chí cố gắng hiện ra trong tất cá các phân khúc xã hội.
Thứ 2 là: tệ tham nhũng, đút lót, bòn rút của công, hoang phí diễn ra ở nhiều ngành nhiều lĩnh vực đang biến thành “quốc nạn” gây giận dữ cho quần chúng
Thứ 3 là: hành động thời cơ “chạy chọt” vì ích lợi tư nhân khá bình thường
Thứ tư là: lời nói ko đi đôi với việc làm, nói và làm trái với nghị quyết của Đảng, nói nhiểu làm ít; phát ngôn tủy tiện, vô nguyên lý
Thứ 5 là: tệ quan liêu, xa dân, chỉ đạo vô cảm trước những gian khổ giận dữ và đề nghị, yêu cầu chính đáng của quần chúng
Thứ 6 là: hiện trạng suy thoái về đạo đức trong quan hệ gia đình với quan hệ giữa tư nhân và xã hội, như gia trưởng vũ phu bất hiếu
Thứ 7 là: đạo đức nghề nghiệp sa sút ngay cả trong lĩnh vực được xã hội suy tôn, hiện tượng mê tín dị đoan có chiều hướng lan rộng tác động xấu đến thuần phong mĩ tục và thứ tự an toàn xã hôi.
Nguyên nhân của hiện trạng trên có cả khách quan và chủ quan
Về khách quan: trước nhất do ảnh hưởng thụ động của chế độ kinh tế thị phần đặc thù là bản lĩnh kích thích lối sống thực dụng chủ nghĩa của chế độ này. Sự ảnh hưởng của đạo đưc, lối sống tư sản tận hưởng phương tây vào nước ta trong điều kiện thế giới hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và bùng nổ mạng thông tin thế giới. các thần thế cừu địch phản động đã chủ động khuyến khích lối sốn ích kỷ, tận hưởng, thực dụng chủ nghĩa trong cán bộ, đảng viên, cán bộ chỉ đạo và gia đình họ coi ấy là 1 trong những giải pháp tiến hành “diễn biến hòa bình”:
Về nguyên do chủ quan: do chúng ta chưa nhận thực đầy đủ thâm thúy vai trò nền móng của đạo đức trong bình ổn, tăng trưởng xã hội và ảnh hưởng của chế độ kinh tế thị phần đến đạo đức xã hội trên thực tiễn chúng ta chưa coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống; thiếu sự tổ chứ, phối hợp cảu các đơn vị quản lý các ngành. 1 bộ phận cán bộ chỉ đạo, đảng viên và gia đình chưa nêu gương về đạo đức và lối sống
Trạng thái suy thoái về đạo đức, lối sống nêu trên đã có ảnh hưởng béo tới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quốc gia hiện tại. Nó đang làm chỉnh sửa méo mó những chuẩn mực thang bậc trị giá truyền thống trị giá tốt đẹp của dân tộc và cách mệnh, có tác hại đến sự trường tồn của dân tộc và sự tăng trưởng của quốc gia, sự suy thoái về đạo đức của 1 số bộ phận cán bộ, đảng viên khiến cho quần chúng lo âu, bất bình, tác động xấu đến uy tín và vai trò chỉ đạo cuả tổ chức đảng, tới việc tổ chức tiến hành đường lối chủ trương của đảng, chế độ luật pháp của nhà nước thực trạng ấy tiềm tàng nhiều nguy cơ, cộng với các nguy cơ khác dẫn đến bất bình ổn chính trị xã hội, liên can tới “sự sống còn của đảng, của cơ chế”
Để năng cao năng lực và sức đấu tranh của Đảng chặn đứng và đẩy lùi suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, trong đảng và trong xã hội, hội nghị trung ương III khóa X của đảng đã ban hành nghị quyết “Đẩy mạnh sự chỉ đạo của Đảng trong cuộc tranh đấu chống tham nhũng, hoang phí” Ngày 7/11/2006 Bộ Chính Trị Ban Chấp hành TW Đảng ra chỉ thị số 06-CT/TW về tổ chức cuộc chuyển động “Học tập và tuân theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn đảng và xã hội. tiến hành tốt cuộc chuyển động này sẽ góp phấn quan trọng vào cuộc tranh đấu và đẩy lùi suy thoái về đạo đức, lối sống trong đảng và trong xã hội
Sự cấp thiết phải học tập, đoàn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình hiện tại.
– Hiện nay quốc gia đang trên đà tăng mạnh sự nghiệp đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa – tiên tiến hóa trên tất cả các chiến trận, hăng hái và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế tăng trưởng nền kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa, thì việc học tập và tuân theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đường lối cách mệnh của người càng ngày càng trở thành quan trọng hơn bao giờ hết, nhập vai trò chính yếu trong nghĩ suy và hành động của các ngành chỉ đạo và toàn dân.
– Như chúng ta đã biết, khi sinh tiền Bác Hồ của chúng ta đã khẳng định: Đạo đức là gốc của cách mệnh. Bác coi đạo đức của con người như gốc của cây, như nguồn của sông. Người luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng và hăng hái của đạo đức trong đời sống xã hội. Bởi thế, học tập, đoàn luyện tu dưỡng đạo đức, lối sống theo tấm gương Bác Hồ trong quá trình hiện tại là điều rất cấp thiết và quan trọng.
– Là 1 cán bộ nhân viên, bản thân nhận thức được rằng việc học tập và tuân theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và thực hành tiết kiệm, chống biển thủ, hoang phí, quan liêu là 1 bổn phận đối với bản thân để từng bước hoàn thiện mình. Trong cuộc sống đời tư cũng như trong công tác, bản thân luôn xác định rằng: “Việc gì hữu ích dù bé cũng làm, việc gì có hại dù bé cũng tránh” và tuyệt đối tránh hoang phí cả về tiền nong và thời kì, luôn phát huy tinh thần bảo vệ của công, thân cận, sâu sát với nhân dân quần chúng, lấy tiêu chuẩn người cán bộ cách mệnh để làm chỉ tiêu cố gắng.
Những phẩm giá đạo đức cách mệnh và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nhưng cán bộ, đảng viên, công chức phải thường xuyên học tập và noi theo:
+ Những phẩm giá đạo đức cách mệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
– Trung với nước hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc, phải “tuyệt đối trung thành với Đảng với quần chúng”.
– Tinh thần dân chủ, tôn trọng số đông, tôn trọng nhân dân quần chúng, xoành xoạch ân cần tới mọi người, gắn bó với quần chúng. Mến thương con người, sống có nghĩa, có tình là tạo điều kiện cho mỗi người càng ngày càng văn minh tốt đẹp hơn, phải tiến hành phê bình, tự phê bình thành tâm, giúp nhau tu sửa thiếu sót, phát huy điểm tốt.
– Cần kiệm là phẩm giá của mọi công nhân trong đời sống, trong công việc: biết lao động chăm chỉ, chuyên cần và biết tiết kiệm sức lao động, ngày giờ, tiền tài quần chúng của quốc gia và của bản thân.
– Liêm chính là phẩm giá của người cán bộ lúc thi hành công vụ phải thẳng thắn, ko tà, trong lành, “luôn chí công không lo nghĩ” là hết mực công bình, ko có lòng riêng, thiên vị, thiên tư. Đem lòng chí công không lo nghĩ đối với người, đối với việc.
+ Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh:
– Trọn đời cố gắng, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và loài người.
– Kiên định mục tiêu lý tưởng, bảo vệ chân lý, giữ vững ý kiến, khí phách vượt qua gian khổ thách thức.
– Kính trọng quần chúng, hết dạ, cực kỳ dùng cho quần chúng, dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nguyện làm “người tôi tớ thật trung thành của quần chúng”.
– Nhái ân, vị tha, độ lượng, nhân đức, rất đỗi vì con người, “dành tình thương mến cho tất cả, san sớt với mỗi người nỗi đau”.
– Coi khinh sự sa hoa, sống thật sự cần kiệm giản dị, sống trong lành, ko gợn chút riêng tây.
Đấy chỉ là vấn đề lý thuyết còn thực tiễn thì sao? Gần 5 5 tiến hành cuộc vấn động nước ta đã đạt được những thành quả gì, các chế độ về đạo đức có được chỉnh sửa các hiện trạng quan biển thủ liệu có còn, ấy là những cấu hỏi nhưng khồn chỉ riêng tôi đưa ra nhưng nó là hiện trạng chung của tất cả chúng ta
Lâu nay nay chúng ta chỉ thấy được trên lý thuyết còn phần tiến hành hay ko thực thụ rất khó, yêu cầu mỗi địa phương có cái nhìn nói chung và toàn diện nhất chứ nhất mực khổng thể nhìn nhận bằng những con số trên giấy má nhưng thực tế ko đề đạt đúng.
Là người dân Việt, là những đảng viên trẻ ngày mai chúng ta hãy cần có sự gắn kết giữa lý luận và thực tế sao cho thích hợp học tập theo bác như 1 chuẩn mực 1 tiền đề cho chúng ta tiến bước đi lên, cố gắng cố gắng vì sự tăng trưởng vững bền của quốc gia, hãy tạm gác lại ích lợi tư nhân, hãy bỏ dở những xiềng xích lâu nay nhưng vì quốc gia, vì ích lợi của quần chúng nhưng dùng cho. hãy trình bày hành động trước nhất, các nhà chỉ đạo hãy trình bày bằng tất cả những gì nhưng họ có đi, đừng lời nói rồi bắt người khác phải làm, đừng chỉ là chuyến tham quan dễ dãi nhưng làm tốn kém bao lăm của nả của địa phương, hãy bỏ dở bớt thủ tục để có sự dễ dãi, sự thân thiện giữa “quan” và “dân” hãy trình bày mình là người bình dị và mến khách.
Liên hệ:
Tôi hiện là sinh viên 5 thứ 3 chuyên ngành Giáo dục học – Học Viện Quản Lý Giáo Dục bản thân tôi cũng rất hăng hái tham dự vào các hoạt động của trường đặc thù là lĩnh vực tự nguyện. trong giai đoạn học tập tại trường, Bên phòng công việc – chính trị luôn phát động các cuộc thi liên can đến Người, về tư tưởng tấm gương và đạo đức Hồ Chí Mình.
Đặc trưng là cuộc thi văn nghệ “Tiếng hát toàn Học viện với nội dung về Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 5 2009 lôi cuốn được hấu hết tất cả sinh viên toàn trường tham dự
Là 1 trường mới được thành lập lên các phong trào đưa ra chưa được toàn diện nhưng mà đã lôi cuốn được cộng đồng tham dự, các chủ đề luôn được đưa ra về truyền tụng Đảng, Bác Hồ mến yêu
Các cuộc thi ko chỉ liên can đến phòng chính trị dưới sự lãnh đạo của Chi Bộ Đảng nhà trường, còn có sự tham dự hăng hái của Đoàn thanh niên Học Viện với các cuộc thi với chủ đề học tấp và tuân theo tấm gương đạo đức của Người, gắn kết trong phong trào toàn diện về văn hóa văn nghệ thể dục thể thao
Gắn kết trong phòng trào học tập, chống thụ động trong thi cử, thi đua học tập tốt theo gương Bác
Bản thân là bí thơ lớp tôi cũng thường xuyên đưa ra những buổi bàn luận ở tại lớp về Tấm gương đạo đức hồ chí mình, đặc thù là cuộc thi kể chuyện về Bác đã được tất cả thành viên trong chi đoàn tham dự, qua các bài hùng biện về Người chúng tôi càng hiểu thêm về Bác về công huân lớn béo, về tư tưởng bất hủ của Người và với ước muốn là lứa tuổi đi sau chúng tôi sẽ phấn đấu phát huy tất cả những sở trưởng ưu điểm của mình sao cho hợp với chuẩn mực của đạo đức của tư tưởng của người đã để lại. Tất cả thành viên trong lớp đều học tập đạt kết quả cáo 100% học lực Khá trở lên và phấn đấu cố gắng để biến thành những Đoàn tụ tốt để đạt được vào mục tiêu học thiện cảm Đảng của trường…
Thực hiện đường lối tiết kiệm trong các cuộc thi, các hoạt động, đưa sinh viên thăm quan Lăng Chủ Tich để hiểu thêm về lãnh tụ của quốc gia….
Diễn ra từ Đảng phát động phong trào “Học tập và tuân theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” toàn bộ sinh viên Học Viện luôn có tinh thần cố gắng trong công việc học tập, tu dưỡng và đoàn luyện bản thân, và đã đạt được nhiều thành tựu cao trong công việc của trường, lớp. luôn lấy tư tưởng của người làm ánh sáng soi đường cho chúng ta, tiến bước đi lên như hành trang để tiến đến thành công.
Để thay cho lời kết của mình tôi xin đưa ra 2 câu nói bất hủ của Người:
Nước Việt Nam là 1. Dân tộc Việt Nam là 1. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng mà chân lý đó ko bao giờ chỉnh sửa.”
“Cô giáo, thầy giáo trong cơ chế ta cần phải góp phần vào công cuộc xây dựng XHCN. Phcửa ải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu, hậu lạc”, tức là gian khổ thì chịu trước người đời, phấn kích thì hưởng sau người đời. Người thầy giáo tốt, thầy giáo xứng đáng là thầy giáo, là người vang dội nhất. Dù tăm tiếng ko đăng lên báo, ko được thưởng huân chương, song những người thầy tốt là những người hùng vô danh….”
Tôi, bạn và bạn nữa…cùng chung tay cống hiến vì 1 Việt Nam bừng sáng trên trường quốc tế, cùng học tập thi đua, cố gắng tất cả, chúng ta có đầy đủ điều kiện để đi lên, chúng ta phải hứa hẹn với lòng mình là sẽ thành công. Cùng kết đoàn gắn bó, hợp sức vì ở ấy ta mới thấy mình tự tin hơn, vững vàng hơn
“Kết đoàn, kết đoàn, đại kết đoàn
Thành công, thành công, đại thành công”
Mời độc giả cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục tập huấn trong mục biểu mẫu nhé.
Phiếu bình chọn chất lượng đảng viên
8 Bản kiểm điểm đảng viên cuối 5
Mẫu 7-HSĐV: Sổ danh sách Đảng viên

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Bài #thu #hoạch #đối #tượng #Đảng

Bài thu hoạch nhân vật Đảng

Kết nạp đảng và biến thành 1 thành viên của Đảng là niềm kiêu hãnh và mong ước của tất cả mọi người. Tuy nhiên, trước lúc được bằng lòng, bạn phải tiến hành viết bài thu hoạch nhân vật Đảng. Sau đây là mẫu bài thu hoạch mời bạn tham khảo.
BÀI THU HOẠCH LỚP BỒI DƯỠNG KẾT NẠP ĐẢNG
Họ và tên: ………………………………. Số quy trình:………..
Ngày tháng 5 sinh ………………………….
Quê quán …………………………………….
Chức vụ hoặc công tác đang làm: ……………………………..
Là thiện cảm Đảng của chi bộ: …………………………….
Thuộc đảng bộ ……………………………………………
……………, ngày ………..tháng …….. 5……….
CÂU HỎI
Câu 1:
Đồng đội hãy thể hiện 5 bài học béo của cách mệnh Việt nam được nêu trong Cương lĩnh 5 1991. Phân tích bài học nhưng đồng đội thấy tâm đắc nhất. Ý nghĩa của bài học này đối với công tác của đồng đội?
Câu 2:
Thực chất giai cấp người lao động của Đảng được trình bày ở những điểm cốt yếu nào trong Điều lệ Đảng?
Câu 3:
Đồng đội hãy phân tách sự cấp thiết của việc học tập và tuân theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Liên Hệ việc tiến hành cuộc chuyển động ở cơ quan, đơn vị đồng đội?
TRẢ LỜI
Câu 1:
Trcửa ải dài theo dòng lịch sử của giang sơn chúng ta có thể đơn giản nhận thấy 1 điều rằng cách mệnh Việt Nam đã đi hết từ chiến thắng này cho đến chiến thắng khác, dưới sư chỉ đạo của Đảng, có cương lĩnh, có đường lối soi sáng chỉ đường, tạo ra những trận chiến lịch sử lẫy lừng 5 châu, chấn động địa cầu, tạo ra cuộc sống bình an, no đủ và hạnh phúc cho toàn bộ dân tộc ta và được trường tồn đến hiện tại và mãi mãi
Nước đã đang bước vào quá trình hồi nhập nhập thế giới, cuộc sống càng ngày càng tăng trưởng mạnh bạo, giai đoạn công nghiệp hóa tiên tiến hóa càng ngày càng lên cao, trước những xu hướng mới đỏi hỏi Đảng ta phải có được cương lĩnh rõ ràng để chỉ lối cho những bờ bến hành phúc cho quần chúng, cho loài người, và cương lĩnh 5 1991 đã cho chúng ta thấy rõ được những đề nghị mang tính cấp thiết nhưng chúng ta phải tiến hành được để tô thêm những trang sử vàng cho sự thành công trong tuyến đường hội nhập của quốc gia.
Vậy 5 bài học béo của cách mệnh Việt Nam được nêu trong cương lĩnh 1991 được trình bày như thế nào? chúng ta cũng nhau đi mày mò:
Tổng kết thực tế hơn 60 5 của nước ta, trong ấy có 5 5 tiến hành đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra, từ những kinh nghiệm thành công và cả những kinh nghiệm chưa thành công, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã nêu ra được 5 bài học béo của cách mệnh Việt Nam:
1 là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Đây là bài học xuyên suốt giai đoạn cách mệnh nước ta, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo chắc chắn cho độc lập dân tộc. Hai vấn đề này có quan hệ hữu cơ với nhau. Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra công mạnh lớn béo của dân tộc trong tranh đấu cách mệnh, giành chiến thắng.
Hai là, Sự nghiệp cách mệnh là của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng. Để phát huy, nhân lên sức mạnh lớn lao của quần chúng, sự chỉ đạo và toàn thể hoạt động của Đảng phải xuất hành từ ích lợi và ước muốn chân chính của quần chúng, đại biểu trung thành cho ích lợi của quần chúng.
Ba là, ko dừng củng cố, tăng nhanh kết đoàn, kết đoàn toàn Đảng, kết đoàn toàn dân, kết đoàn dân tộc, kết đoàn quốc tế.Kết đoàn là truyền thống quý báu và là bài học lịch sử béo, dài lâu của dân tộc ta đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh áp dụng thành công, hình thành nguồn sức mạnh lớn béo để giành chiến thắng.
4 là, liên kết sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Sức mạnh dân tộc, sức mạnh trong nước là sức mạnh tổng hợp của nhiều nguồn lực. Sức mạnh thời đại, sức mạnh quốc tế trước nhất là sức mạnh của quy luật và xu hướng tăng trưởng chẳng thể đảo ngược của lịch sử loài người.
5 là, sự chỉ đạo đúng mực của Đảng là yếu tố bậc nhất đảm bảo chiến thắng của cách mệnh Việt Nam. Giữ vững và tăng nhanh sự chỉ đạo của Đảng là yếu tố quyết định bậc nhất đảm bảo chiến thắng của sự nghiệp cách mệnh nước ta. Để làm được điều ấy, phải xây dựng Đảng lớn mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên đổi mới phương thức chỉ đạo của Đảng phục vụ đề nghị của tình hình thực tiễn, đủ sức khắc phục các vấn đề do cuộc sống đặt ra.
Thực chất thì bản thân tôi hoàn toàn tâm đắc tất cả các bài học ở trên, trong tôi qua mỗi bài học tự rút ra được cho mình những bài học quý báu, những tri thức cẩn và đủ để có thể biến thành 1 đàng viên tốt, xong xuôi tốt nhiệm vụ được giao, và đóng góp vào sự tăng trưởng chung của Đảng, Nhà nước.
Từ cái nhìn khách quan và chi tiết nhất tôi cũng đưa ra được cho mình Bài học tâm đắc nhất ấy là ở bài học béo thứ 2:
“Sự nghiệp cách mệnh là của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng”
Có thể khẳng định 1 điều rằng: Sự nghiệp cách mệnh là của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng. Để phát huy, nhân lên sức mạnh lớn lao của quần chúng, sự chỉ đạo và toàn thể hoạt động của Đảng phải xuất hành từ ích lợi và ước muốn chân chính của quần chúng, đại biểu trung thành cho ích lợi của quần chúng
8 mươi mốt 5 qua, dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và đoàn luyện, dân tộc ta đã vượt qua muôn ngàn gian khổ, thách thức, lập nên những kỳ tích lớn lao trong cách mệnh giải phóng dân tộc và xây dựng, tăng trưởng quốc gia, định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thắng lợi của Cách mệnh Tháng 8 5 1945 đã đưa quần chúng thoát khỏi cảnh bầy tớ lầm than, giành độc lập cho quốc gia, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Thắng lợi lớn lao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã bảo vệ và trở nên quả Cách mệnh Tháng 8 1945, giải phóng miền Bắc, kết thúc giai cấp thống trị của thực dân Pháp trên quốc gia ta, đưa cách mệnh nước ta bước sang quá trình mới, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp diễn thực hiện cách mệnh giải phóng ở miền Nam.
Trcửa ải qua 21 5 đấu tranh, quần chúng ta đã đánh thắng trận chiến tranh xâm lăng kiểu mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, chấm dứt vang dội 30 5 chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Non sông, kết thúc vĩnh viễn giai cấp thống trị kéo dài hơn 1 thế kỉ của chủ nghĩa thực dân trên quốc gia ta, xong xuôi về căn bản cuộc cách mệnh dân tộc dân chủ sở hữu dân trên cả nước, đất nước thu về 1 mối. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là chiến thắng lớn lao nhất trong sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo, ghi lại bước đột phá quyết định cho dân tộc Việt Nam tiến vào kỉ nguyên mới- kỉ nguyên độc lập, hợp nhất và chủ nghĩa xã hội.
Sau 30 5 chiến tranh giải phóng, cả nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là 1 trận chiến đấu “đồ sộ” để loại trừ những gì cũ kỹ lỗi thời, tạo ra những trị giá “mới mẻ, tươi tốt” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh.
Trong buổi đầu cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như trong giai đoạn đổi mới, dân tộc ta phải đối diện với bao thử thách, gian khổ gay gắt cả trong nước và quốc tế. Đặc trưng vào thập kỉ 90 của thế kỉ XX, trong bối cảnh quốc tế cực kỳ phức tạp và tình hình quốc gia gặp muôn ngàn gian khổ, các thần thế cừu địch ko dừng chống phá, nhưng mà với khả năng bền chí của 1 chính đảng cách mệnh và khoa học, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên trì chỉ tiêu nhưng Đảng, quần chúng đã chọn lọc, giữ vững vai trò chỉ đạo, chống chèo con thuyền cách mệnh vượt qua sóng gió, tiếp diễn tiến lên, thực hiện công cuộc đổi mới đạt nhiều thành quả quan trọng. Đảng đã đề ra và từng bước bổ sung, hoàn thiện đường lối cách mệnh 1 cách đúng mực, thông minh, bước đầu tạo nên 1 hệ thống các ý kiến và nguyên lý lãnh đạo công cuộc đổi mới, khai khẩn tuyến đường đi lên chủ nghĩa xã hội thích hợp với thực tiễn nước ta, kế thừa và phát huy trị giá văn hoá và bản sắc dân tộc. Đây là kết quả của 1 giai đoạn trằn trọc, tìm tòi, tổng kết, đổi mới tư duy lí luận, nhận thức đúng mực hơn về thực tế cách mệnh Việt Nam. Đảng càng ngày càng trưởng thành và có thêm kinh nghiệm chỉ đạo nghiệp xây dựng và bảo vệ quốc gia trong tình cảnh mới.
Xuyên suốt chặng đường hoạt động cách mệnh 80 5 qua, trong các Cương lĩnh (từ Cương lĩnh trước nhất 5 1930 tới Cương lĩnh xây dựng quốc gia trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, 5 1991), hay trong mọi chủ trương, đường lối, chế độ của Đảng đều trình bày rất rõ, Đảng ta ko có mục tiêu nào khác là tranh đấu cho tự do độc lập dân tộc và hạnh phúc của quần chúng. Quần chúng quần chúng là người làm nên lịch sử. “Sự nghiệp cách mệnh là của quần chúng, do quần chúng, và vì quần chúng. Chính quần chúng là người làm nên chiến thắng lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất hành từ ích lợi và ước muốn chân chính của quần chúng. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó khăng khít với quần chúng. Quan liêu, mệnh lệnh, xa vắng quần chúng sẽ đưa tới những tổn thất ko lường được đối với vận mệnh của quốc gia”.
6 đặc thù của xã hội xã hội chủ nghĩa nhưng quần chúng ta xây dựng cũng như những phương hướng căn bản trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Non sông nhưng Cương lĩnh 1991 của Đảng xác định đều toát lên địa điểm, vai trò của quần chúng; đều nhằm giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, hướng đến xây dựng cuộc sống no đủ, tự do, hạnh phúc, mỗi tư nhân đều có điều kiện tăng trưởng toàn diện; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng, lấy liên minh giai cấp người lao động với giai cấp dân cày và phân khúc trí thức làm nền móng, do Đảng Cộng sản chỉ đạo. Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của quần chúng, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm ích lợi của Non sông và của quần chúng
Triển khai đường lối đổi mới, tăng mạnh công nghiệp hóa, tiên tiến hóa của Đảng, nhằm chỉ tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bình, dân chủ, tân tiến, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chế độ đảm bảo và ko dừng tăng lên đời sống vật chất, ý thức của quần chúng; quyền dân chủ chính trị của quần chúng được khơi dậy, tôn trọng và càng ngày càng đề cao. Chính sách xã hội giai đoạn đổi mới hướng vào phát huy yếu tố con người trên cơ sở bảo đảm công bình, đồng đẳng về lợi quyền và bổn phận công dân; liên kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với văn minh xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống ý thức; giữa phục vụ các nhu cầu trước mắt với chăm lo ích lợi dài lâu; giữa tư nhân với số đông và số đông xã hội. Đặc trưng, đã tạo được những thành quả béo trong tiến hành chiến lược non sông xóa đói giảm nghèo và khắc phục việc làm, được toàn cầu ghi nhận và bình chọn cao. Cùng lúc, đã liên kết tốt các nguồn lực của Nhà nước và quần chúng, xây dựng nhiều công trình kết cấu cơ sở vật chất kinh tế, văn hóa, xã hội cho các vùng, miền. Chính trị- xã hội bình ổn; quốc phòng an ninh được tăng nhanh, quan hệ đối ngoại có những bước tăng trưởng mới, đã tạo thêm môi trường thuận tiện để Đảng và Nhà nước ta chỉ đạo tổ chức tiến hành tốt hơn các chương trình, chỉ tiêu tăng trưởng quốc gia.
Qua gần 25 5 đổi mới, quốc gia đã vượt qua thách thức hiểm nghèo, phá thế bủa vây cấm vận của các thần thế cừu địch, tăng trưởng kinh tế, văn hoá, xã hội, mở mang quan hệ quốc tế, tạo tiền đề chắc chắn để tiếp diễn tăng mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tăng mạnh công nghiệp hoá, tiên tiến hoá vì chỉ tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bình, dân chủ, tân tiến.
Tất cả thực tế phong phú, tấp nập, hào hùng của dân tộc ta trong 80 5 qua càng ngày càng khẳng định rõ hơn thẩm định của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc Đảng vừa tròn 30 tuổi:
“Đảng ta lớn lao như biển rộng, như núi cao
Ba mươi 5 cố gắng và chiến thắng biết bao lăm tình.
Đảng ta là đạo đức, là tân tiến,
Là hợp nhất, độc lập, là hoà bình no đủ”
Đảng ta thật là lớn lao là bởi vì ”ngoài ích lợi của giai cấp, của quần chúng, của dân tộc Đảng ta ko hữu ích ích gì khác”
Đảng ta lớn lao, trước nhất chính vì Đảng điển hình cho sức mạnh trí não của giai cấp người lao động tiên tiến, cho tiềm lực ý thức truyền thống của dân tộc và tiếp nhận được những tinh hoa của văn hoá loài người. Ngay kể từ thành lập, sức mạnh của Đảng nằm ngay trong 3 nhân tố hợp thành của Đảng: chủ nghĩa Mác- Lênin, phong trào người lao động và phong trào yêu nước Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội đi đầu, là tổ chức của những chiến sĩ ưu tú nhất của giai cấp người lao động và của toàn bộ dân tộc.
Diễn ra từ có mặt trên thị trường đến giờ, Đảng ta luôn đứng vững trên lập trường, ý kiến của giai cấp người lao động, tuyệt đối trung thành với ích lợi của quần chúng, của dân tộc, coi ấy là điểm xuất hành của mọi đường lối, chủ trương của Đảng. Ngay Cương lĩnh chính trị trước nhất của Đảng do đồng đội Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được phê duyệt tại Hội nghị thành lập Đảng đề đạt đúng quy luật khách quan, thích hợp với ước muốn của quần chúng, phục vụ đúng đề nghị của thực tế, vạch ra được chỉ tiêu, phương hướng và biện pháp căn bản của cách mệnh. Từ ấy thực hiện , tổ chức, khích lệ toàn bộ quần chúng biến đường lối của Đảng thành hành động cách mệnh của nhân dân. Tinh thần căn bản của bản Cương lĩnh đó được tăng trưởng, chi tiết hoá phục vụ những nhiệm vụ cách mệnh trong từng quá trình lịch sử, xong xuôi cuộc cách mệnh dân tộc dân chủ và từng bước xây dựng 1 nước Việt Nam hoà bình, hợp nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Ngay sau lúc giành được chính quyền cách mệnh, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nước độc lập nhưng dân ko hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lí gì”. Chỉ tiêu của Đảng là khiến cho mọi người dân người nào cũng có cơm ăn áo mặc, người nào cũng được học hành, được sống no đủ và phấn kích; mang đến quyền làm chủ về kinh tế, xã hội cũng là thước đo trình độ giải phóng xã hội, sự tăng trưởng của xã hội.
Lịch sử 8 mươi mốt 5 xây dựng và tăng trưởng của Đảng đã chứng tỏ, cỗi nguồn sức mạnh của Đảng ko chỉ trình bày ở chỗ mọi hoạt động của Đảng đều xuất hành vì ích lợi của quần chúng nhưng còn trình bày Đảng xoành xoạch gắn bó chặt chẽ với quần chúng, được quần chúng tin cậy, ủng hộ và chở che. Liên hệ khăng khít với quần chúng đã biến thành 1 truyền thống tốt đẹp của Đảng và cũng là cỗi nguồn sức mạnh của Đảng trong 81 5 qua. Chính từ thực tế cách mệnh, Đảng đã nhận thức thâm thúy: “Cách mệnh là sự nghiệp của nhân dân, chứ chẳng phải là sự nghiệp của tư nhân người hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng đã tổ chức và phát huy được lực lượng cách mệnh bất tận của quần chúng”
Là 1 Đảng cách mệnh vì quần chúng, trước nhất, đường lối chính trị của Đảng phải xuất hành từ ích lợi của quần chúng. Lãnh tụ Hồ Chí Minh coi việc hoạch định đường lối chế độ của Đảng ko chỉ là công tác của bản thân Đảng nhưng còn phải biết phát huy trí não của toàn dân vào việc xây dựng đường lối của Đảng: “Tin vào nhân dân. Đưa mọi vấn đề cho nhân dân bàn luận và tìm cách khắc phục”. “Nghị quyết gì nhưng nhân dân cho là ko hợp thì để họ yêu cầu tu sửa. Dựa vào quan điểm của nhân dân nhưng tu sửa cán bộ và tổ chức của ta. Đảng ko chỉ có đường lối chính trị xuất hành từ ích lợi chính đáng của quảng đại quần chúng, nhưng còn trình bày ở trong tổ chức của Đảng. Trong giai đoạn chỉ đạo cách mệnh, Đảng luôn đặt ích lợi của quần chúng, của dân tộc lên trên hết, ấy cũng chính là nguyên do sâu xa làm nên sức mạnh kết đoàn rất đáng kiêu hãnh của Đảng ta, đã hình thành uy tín chỉ đạo của Đảng đối với toàn dân tộc; khiến cho Đảng được dân tin, dân phục, dân yêu quý, dân tương trợ, ủng hộ và bảo vệ.
Sức mạnh và uy tín của Đảng ko chỉ ở đường lối chính trị với mục vì dân nhưng còn trình bày ở đức hy sinh, chuẩn bị lao vào vì ích lợi của quần chúng, của dân tộc của hàng triệu các lứa tuổi đảng viên trong sự nghiệp cách mệnh, đặc thù trong tranh đấu giành chính quyền cách mệnh và trong tranh đấu giải phóng dân tộc.
Nhìn lại chặng đường tranh đấu đầy gian khổ, thách thức nhưng mà cực kỳ oanh liệt của Đảng ta trong 8 thập kỉ qua, chúng ta càng thấm thía bài học “lấy dân làm gốc”, trân trọng dĩ vãng, nâng niu gìn giữ những thành tích cách mệnh của cách mệnh, càng thấm thía và hàm ơn vô bờ công huân lớn béo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các lứa tuổi đảng viên ấy lao vào vì nền độc lập, hợp nhất của quốc gia, càng thêm kiêu hãnh về Đảng ta, quần chúng và dân tộc ta.
Khi tổng kết những kinh nghiệm quý sau 20 5 đổi mới, 1 trong những bài học quan trọng bậc nhất được Đại hội X của Đảng đúc kết là bài học “lấy dân làm gốc”: “Đổi mới phải vì ích lợi của quần chúng, dựa vào quần chúng, phát huy vai trò chủ động, thông minh của quần chúng, xuất hành từ thực tế, nhạy bén với cái mới. Cách mệnh là sự nghiệp của quần chúng, vì quần chúng và do quần chúng. Những quan điểm, ước muốn và sáng kiến của quần chúng có vai trò quan trọng trong việc tạo nên đường lối đổi mới của Đảng. Dựa vào quần chúng, xuất hành từ thực tế và thường xuyên tổng kết thực tế, phát hiện yếu tố mới, từng bước tìm ra quy luật tăng trưởng, ấy là chìa khóa của thành công”
Ý nghĩa đối với bản thân:
Là 1 sinh viên đang còn ngồi trên ghế nhà trường bản thân tôi cũng tự nhận thấy những tri thức về Đường lối cách mệnh Đảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh hay chủ nghĩa Mac – Lenin, là cái mấu chốt đưa cho tôi đến được với những ý kiến logic những ý nghĩa vô cũng lớn béo về cách mệnh, về sự nghiệp cách mệnh của dân tộc và tôi biết sự nghiệp cách mệnh là của dân tộc, là của quần chúng và vì quần chúng
Tôi đã từng nghe:
“Dân biết , dân bàn, dân làm, dân rà soát”

“Vì nước quên thân, vì dân dùng cho”
Những câu nói bất hủ đó nhưng làm tôi luôn hướng về quần chúng, tôi cũng có 1 nghĩ suy, 1 thèm muốn là làm sao sau này mình sẽ có 1 phần đóng góp cho sự tăng trưởng chung xã hội,cho sự tăng lên dân trí của người dân
Chuyên ngành tôi nghiên cứu là Giáo Dục Học và tôi ưa chuộng nó, tôi cũng có ý nghĩ là tôi sẽ vận dụng nó vào giai đoạn làm việc của mình sau này đặc thù là tham dự vào việc giáo dục những lý tưởng sống, những nhiệm vụ học tập cấp thiết, những đề nghị từ thực tế, chống lại những sự hủ lậu lỗi thời. sẽ đến từng nhà, dà từng nhân vật, bản thân giáo dục là quốc sách bậc nhất là việc quan trọng hàng đầu để đưa sự tăng trưởng của quốc gia đi lên, dân trí có nâng cao thì đới sống, cũng như nghĩ suy của quần chúng mới hăng hái
Bản thân tôi cũng đang cố gắng học tốt, để đem kiến thức của bản thân để dùng cho toàn dân, vì ích lợi mười 5 trồng cây và vì ích lợi trăm 5 trồng người,tôi hi vọng trên con đò của tôi trở sẽ được thành công như những tư tưởng béo của người đem theo hành trang của 1 Đảng viên trẻ tôi sẽ phấn đấu tâm huyết đồng hành quần chúng, san sớt, hàn ôn và bàn luận những nỗi niềm của họ, vì 1 quốc gia phồn vinh và hạnh phúc.
Câu 2:
Giai cấp người lao động là 1 tập đoàn xã hội bình ổn, tạo nên và tăng trưởng cộng với giai đoạn tăng trưởng của nên công nghiệp tiên tiến với nhịp điệu tăng trưởng của lực lượng sản xuất có thuộc tính xã hội hóa càng ngày càng cao; là lực lượng lao động căn bản đương đại trong các thứ tự công nghệ, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp tham dự vào giai đoạn sản xuất, tái sản xuất ra của nả vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất đương đại trong thời đại hiện tại.
Là giai cấp của những công nhân sản xuất vật chất là cốt yếu (với trình độ trí não càng ngày càng cao, cùng lúc cũng càng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được phần mềm ngay trong sản xuất). Thành ra, giai cấp người lao động có vai trò quyết định nhất sự còn đó và tăng trưởng xã hội.

Vậy ở trong Điều lệ Đảng thực chất của giai cấp người lao động của Đảng được trình bày ở những điểm cốt yếu:
Từ ngày thành lập đến giờ, Đảng ta luôn khẳng định thực chất giai cấp người lao động của mình.
Trong “Chương trình tóm lược” được phê duyệt tại Hội nghị thành lập Đảng khẳng định: “Đảng là đội đi đầu chỉ đạo của đội quân vô sản gồm 1 số béo giai cấp người lao động và khiến cho họ có đủ năng lực chỉ đạo nhân dân”.Sách lược vắn tắt viết: “Đảng là đội đi đầu của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải khiến cho giai cấp mình chỉ đạo được nhân dân”.
Đại hội X đã phê duyệt sự diễn tả về Đảng là: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội đi đầu của giai cấp người lao động, cùng lúc là đội đi đầu của quần chúng lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành ích lợi của giai cấp người lao động, của quần chúng lao động và của dân tộc”.
Sự diễn tả như trên trình bày ở 2 nội dung sau:
+ Đảng là đội tiên phong của giai cấp người lao động Việt Nam và cùng lúc là đội tiên phong của quần chúng lao động và của cả dân tộc.
+ Đảng là đại biểu trung thành ích lợi của giai cấp người lao động, của quần chúng lao động và của dân tộc Việt Nam.
– Xuất phát từ nhận thức khoa học về vai trò và sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động.
+ Sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động là phạm trù căn bản nhất của CNXHKH. Phát xuất hiện sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động là 1 trong những góp sức lớn lao nhất của Chủ nghĩa Mác – Lênin.
Để thông suốt sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động, trước nhất cần làm rõ định nghĩa giai cấp người lao động.
+ Khái niệm giai cấp người lao động (theo Nghị quyết TW 6 khoá X).
– Giai cấp người lao động Việt Nam là 1 lực lượng xã hội lớn béo, đang tăng trưởng, bao gồm những công nhân tay chân và trí não, làm mướn hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có thuộc tính công nghiệp.
+ Là 1 lực lượng lớn béo, quan trọng trong xã hội, chưa định hình rõ nét, còn có sự chuyển đổi, tăng trưởng.
+ Thành phần: bao gồm những công nhân tay chân và trí não.
+ Đặc điểm: làm mướn hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có thuộc tính công nghiệp.
(Tính tới đầu 5 2007, tổng số người lao động nước ta khoảng 9,5 triệu người, chiếm tỉ lệ 11% dân số và 21% lực lượng lao động xã hội, trong ấy số lượng người lao động làm việc trong các công ty của các thành phần kinh tế khoảng 6,75 triệu người).
Nội dung sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động:
+ Trước hết phải chỉ đạo thực hiện cuộc cách mệnh dân tộc dân chủ sở hữu dân phê duyệt đội đi đầu của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam, tranh đấu giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính dân chủ sở hữu dân.
+ Trong quá trình cách mệnh XHCN, giai cấp người lao động từng bước chỉ đạo quần chúng lao động xây dựng thành công CNXH, ko có người bóc lột người, giải phóng quần chúng lao động khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, bất công.
=> Hai nội dung trên quan hệ chặt chẽ với nhau trong giai đoạn tiến hành. Thể hiện sự nghiệp lớn lao của giai cấp người lao động là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người và loài người khỏi mọi áp bức, bóc lột, nghèo đói lỗi thời, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa tân tiến.
+ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ ý nghĩa, nội dung cơ bản, trình bày chi tiết của sứ mạng lịch sử giai cấp người lao động Việt Nam trong quá trình mới là: Ích lợi giai cấp người lao động hợp nhất với ích lợi của toàn dân tộc trong chỉ tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bình, dân chủ, tân tiến”.– ở nước ta, giai cấp người lao động tuy số lượng còn ít, nhưng mà giai cấp người lao động Việt Nam và chính Đảng của mình luôn đứng trên lập trường cách mệnh, giữ vững thực chất giai cấp, lấy Chủ nghĩa Mác – Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền móng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.
– Đảng Cộng sản Việt Nam ngay kể từ có mặt trên thị trường đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, trình bày mối quan hệ gắn bó giữa giai cấp và dân tộc… Thắng lợi của cách mệnh Việt Nam qua các giai đoạn đều bắt nguồn từ việc khắc phục đúng mực mối quan hệ khăng khít giữa giai cấp và dân tộc.
+ Trong điều kiện của nước ta, lợi quyền của giai cấp người lao động, của quần chúng lao động và của dân tộc là hợp nhất.
+ Sự gắn kết máu thịt giữa Đảng với giai cấp và dân tộc đã được trình bày ngay từ xuất xứ có mặt trên thị trường của Đảng ta. Đảng có mặt trên thị trường ko chỉ là sự liên kết chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào người lao động nhưng còn với phong trào yêu nước.– Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định rằng: Đảng ta ko chỉ là Đảng của giai cấp người lao động nhưng còn là Đảng của quần chúng lao động và của dân tộc Việt Nam.
– Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 của Đảng (tháng 2 – 1951), Bác chỉ rõ: “Đảng Lao động Việt Nam phải là người chỉ đạo minh mẫn, cương quyết, trung thành của giai cấp người lao động và quần chúng lao động, của quần chúng Việt Nam… Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp người lao động và quần chúng lao động, do đó nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”.(Trích Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị non sông, Hà Nội, 2001, t. 12, tr. 37 – 38).
– Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, được toàn dân thừa nhận là đội đi đầu chỉ đạo quần chúng. Về vấn đề ích lợi, Đảng ko hữu ích ích nào khác ngoài mục tiêu dùng cho quần chúng, dùng cho dân tộc. Chi tiết:
+ Trên thực tiễn, Đảng ta có mặt trên thị trường, còn đó và tăng trưởng là vì ích lợi ko chỉ của giai cấp người lao động nhưng còn vì ích lợi của quần chúng lao động, của toàn dân tộc.
+ Trong cách mệnh dân tộc dân chủ, Đảng ta nêu khẩu hiệu: “Độc lập dân tộc” và “Người cày có ruộng”.
+ Trong quá trình hiện tại, Đảng ta đề ra chỉ tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bình, dân chủ, tân tiến.
* Để giữ vững và tăng nhanh thực chất giai cấp người lao động của Đảng trong tình hình mới, nhiệm vụ của mỗi đảng viên của Đảng là:
+ Kiên định chỉ tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
+ Kiên định và áp dụng thông minh, góp phần tăng trưởng Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Xuất phát từ thực tế lịch sử của nước ta đề ra đường lối, chủ trương và các chế độ đúng mực; cùng lúc bằng hành động cách mệnh biến đường lối, chủ trương ấy thành hiện thực sinh động trên mọi mặt của đời sống xã hội.
+ Tranh đấu cương quyết, kịp thời chống lại mọi biểu thị thời cơ, hữu khuynh, giáo điều, thủ cựu; phê phán những luận điệu và âm mưu của các thần thế cừu địch phủ nhận, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác – Lên nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.+ Luôn luôn phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp nhận tinh hoa văn hoá, kiến thức của thời đại để làm giàu tri thức, khắc phục thành công những vấn đề lý luận và thực tế của cách mệnh nước ta, góp phần vào sự nghiệp tăng trưởng chung của toàn cầu.
+ Giữ vững nguyên lý tập hợp dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt đảng, số đông chỉ đạo, tư nhân gánh vác. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, gìn giữ sự kết đoàn hợp nhất trong Đảng.
+ Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng lập trường, ý kiến, tinh thần tổ chức của giai cấp người lao động; xây dựng hàng ngũ cán bộ và đảng viên theo ý kiến của giai cấp người lao động.
+ Củng cố mối quan hệ gắn bó khăng khít với quần chúng, tăng nhanh khối đại kết đoàn toàn dân, chăm lo đời sống và thực thụ phát huy quyền làm chủ của quần chúng.
+ Liên kết chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trắng trong của giai cấp người lao động. Liên kết sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, hình thành sức mạnh tổng hợp của cách mệnh.

Có ích ích giai cấp đối lập với ích lợi căn bản của giai cấp tư sản (giai cấp người lao động: xóa bỏ cơ chế tư hữu, xóa bỏ áp bức bóc lột, giành chính quyền và làm chủ xã hội. Giai cấp tư sản ko bao giờ tự rời bỏ những vấn đề căn bản ấy). Do vậy, giai cấp người lao động có ý thức cách mệnh triệt để.
Bất cứ giai cấp người lao động nước nào, lúc đã có đảng đi đầu của nó, đều có những đặc điểm căn bản, chung nhất ấy. Do vậy, giai cấp người lao động mỗi nước đều là 1 bộ phận chẳng thể tách rời giai cấp người lao động trên toàn toàn cầu. Thành ra chủ nghĩa Mác-Lênin mới có ý kiến đúng mực về sứ mạng lịch sử toàn toàn cầu cùa giai cấp người lao động.
Có quan điểm đã cho rằng: Giai cấp người lao động Việt Nam số người còn ít, ko chỉ đạo được cách mệnh.
Nói vậy ko đúng. Chỉ đạo được hay là ko, là do đặc tính cách mệnh, chứ chẳng phải do số người ít nhiều của giai cấp. Giai cấp người lao động có chủ nghĩa Mác – Lênin. Trên nền móng tranh đấu, họ xây dựng nên Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin là Đảng Lao động Việt Nam. Đảng đề ra chủ trương, đường lối, khẩu hiệu cách mệnh, quyến rũ giai cấp dân cày và tiểu tư sản vào tranh đấu, bồi dưỡng họ thành những phần tử đương đại. Lại có những phần tử trí thức tham dự cách mệnh và vô sản hoá. Thành thử hàng ngũ chính trị của giai cấp người lao động càng ngày càng tăng trưởng. Mai sau, công nghệ của ta càng ngày càng tăng trưởng, thì số người lao động càng ngày càng tǎng thêm
Trong thời đại hiện tại, thực chất giai cấp của Đảng Cộng sản vẫn chỉ có thể là thực chất giai cấp của giai cấp người lao động; cơ sở chính trị – xã hội cốt yếu của Đảng Cộng sản phải là giai cấp người lao động trong giai đoạn tăng trưởng từ tân tiến công nghiệp sang tân tiến trí não; tư duy mới về giai cấp người lao động phải gắn liền với tư duy mới về chủ nghĩa xã hội tiên tiến. Có thể nói, 1 trong những nguyên do chính dẫn tới sự lỗi thời, bất cập trước đây của Đảng Cộng sản ở 1 số nước tư bản tăng trưởng là do ko nhận thức được điều này. Bởi thế, ở ấy, Đảng Cộng sản dần dần mất cơ sở chính trị – xã hội cần có của mình, gắn liền với những cương lĩnh càng ngày càng xa vắng cuộc sống. Giai cấp người lao động tiên tiến, quần chúng lao động ko thấy được tuyến đường đi đến 1 xã hội tốt đẹp hơn, nhưng thỉnh thoảng mất phương hướng và nghe đâu hy vọng vào 1 ngày mai nào ấy trong lòng chủ nghĩa tư bản tiên tiến, lúc ở ấy hiện ra và tăng trưởng dần 1 số nhân tố của xã hội mới, nhưng mà đội đi đầu của giai cấp người lao động tiên tiến đã ko trông thấy để làm sinh sôi nảy nở.
Đảng Cộng sản Việt Nam mang thực chất giai cấp người lao động Việt Nam, là Đảng của giai cấp người lao động và của dân tộc Việt Nam. Bởi nhiều lẽ: Đảng là con đẻ của 2 phong trào: phong trào người lao động và phong trào yêu nước (chứ ko chỉ là con đẻ của phong trào người lao động như ở những nước tư bản). Trong giai đoạn chỉ đạo cách mệnh, Đảng luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, trong ấy đặt nhiệm vụ dân tộc lên trên và lên trước, coi nhiệm vụ dân tộc là tiền đề, điều kiện tiên quyết và là cơ sở để xong xuôi nhiệm vụ giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chỉ đạo cách mệnh xã hội chủ nghĩa, Đảng khích lệ sức mạnh toàn dân tộc dưới sự chỉ đạo của giai cấp người lao động, coi cách mệnh xã hội chủ nghĩa ko chỉ là nhiệm vụ giai cấp nhưng còn là nhiệm vụ dân tộc, định hướng cho nhiệm vụ dân tộc, đảm bảo độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc triệt để, đưa dân tộc bỏ dở thời đại dân tộc tư sản, tiến vào thời đại dân tộc xã hội chủ nghĩa.
Là Đảng của giai cấp người lao động,trước nhất Đảng phải hiểu giai cấp người lao động và dựa vào giai cấp người lao động. Giai cấp người lao động Việt Nam hiện tại đã chỉnh sửa rất nhiều (như trên đã phân tách),đang tăng trưởng nhanh cả về số lượng và chất lượng, tăng trưởng trong sự phân hóa thường xuyên – 1 sự phân hóa hăng hái.Đấy là sự phân hóa trong cơ cấu ngành nghề kinh tế – kỹ thuật, tăng trưởng lực lượng sản xuất; trong cơ cấu thành phần kinh tế, xây dựng quan hệ sản xuất thích hợp với lực lượng sản xuất; trong cắt cử lao động xã hội
Thực chất giai cấp người lao động của Đảng đã được trình bày rõ ở trong Điểu lệ Đảng hiện lên như 1 bức tranh toàn cảnh về cái đẹp tươi và cao cả nhất, hiện thân cho ý thức tranh đấu bền chí quật cường của ông cha ta từ thời kháng chiến, ý thức đó vẫn trường tồn đến hiện tại như bản người hùng ca mãnh liệt cho chúng ta noi theo.
Câu 3:
Sinh ra và béo lên tại vùng quê yên bình và giản dị, tôi được được hưởng cuộc sống hòa bình trong thế kỷ XXI, được chứng kiến sự thay đổi của quốc gia, như 1 bức tranh muôn màu sắc, tôi được học tập được tu dưỡng, trau dồii tri thức và được xúc tiếp với nhiều bài học quý báu từ lời dạy của thầy từ câu nói của cô. Tất cả những bài học đó luôn đọng trong tâm não tôi như trang sách luôn sát cánh bên tôi vậy !
Tôi đặc thù thích câu nói lúc học Lịch sử lớp 12:
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải khoan nhượng. Nhưng chúng ta càng khoan nhượng, thực dân Pháp càng lấn đến, vì chúng phấn đấu cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất mực ko chịu mất nước, nhất mực ko chịu làm bầy tớ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất cứ con trai, phụ nữ, bất cứ người già, người trẻ, ko phân chia tín ngưỡng, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Non sông. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, ko có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra công chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em quân sĩ, tự vệ, dân binh!
Giờ cứu nước đã tới. Ta phải hy sinh tới giọt máu , để gìn giữ quốc gia.
Dù phải gian khó kháng chiến, nhưng mà với 1 lòng cương quyết hy sinh, chiến thắng nhất mực về dân tộc ta!
Việt Nam độc lập và hợp nhất muôn 5! Kháng thắng lợi lợi muôn 5!”
Câu nói đó xoành xoạch hiện ra trong tâm chí tôi như 1 tuyên ngôn cho tôi vậy. lúc nhắc đến cấu nói tôi lại cảm thấy cái gì ấy thôi thúc tôi càng phải cố gắng và đoàn luyện nhiều hơn nữa.
Các bạn biết câu nói ấy của người nào ko?
Lãnh tụ, danh nhân Hồ Chí Minh đó các bạn ạ. Được viết vào 19/12/1946 Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Đấy chỉ là 1 câu nói trong rất nhiều câu nói nhưng tôi thích của Người, tất cả những gì thuộc về người tôi cũng đêu thích và suy tôn như những ý nghĩa cao cả nhất.
Đã qua hơn 10 5 sống trong thế kỷ XXI nhưng mà tấm gương Hồ Chí Minh lớn lao luôn được mỗi người dân Việt hướng đến.
Sau gần 5 5 khai triển và tiến hành, Cuộc chuyển động “Học tập và tuân theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã tạo tác động thâm thúy tới nhận thức của cán bộ, đảng viên và công nhân. Thông qua nghiên cứu, học tập các chuyên đề về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về: cần, kiệm, liêm, chính, chí công không lo nghĩ, tinh thần tiết kiệm và ý thức tương thân, tương ái… đã tạo điều kiện cho toàn thể cán bộ, đảng viên, học trò, sinh viên, toàn dân trong tất cả các đơn vị có những chuyển biến về tinh thần tu dưỡng, đoàn luyện và tuân theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Như vậy chúng ta có thể thấy được sự cấp thiết của việc học tập và tuân theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có vai trò rất quan trọng trong công cuộc tăng trưởng của quốc gia trên tất cả mọi lĩnh vực. Được trình bày chi tiết như sau:
Trong giai đoạn đổi mới với bao gian khổ và thách thức từ chức vụ kinh tế – xã hội, an ninh và quốc phòng. Thực tiễn kinh tế – xã hội và những cảnh huống chiến lược cũng như những nhiệm vụ chi tiết nhiều lúc chúng ta tỏ ra tuyệt vọng chỉ vì việc học. Tuyệt vọng chẳng phải chúng ta ko để mắt tới tới việc học tập đối với nền giáo dục quốc dân và đối với bộ máy nhân công của Chính phủ chúng ta cũng đã làm được rất nhiều việc.
Nếu ko, làm sao chúng ta đứng vững cho tới hiện tại với 1 nhà nước độc lập tự chủ, kinh tế tăng trưởng đều đặn, đời sống quần chúng ko dừng được cải thiện. Thành ra, xin được miễn nói những gì là thành quả. Chỉ xin nói thêm về những thực trạng cần có đổi mới trong việc học tập cho cán bộ và công chức từ giáo huấn Hồ Chí Minh:
Chưa có chương trình chi tiết để gắn việc học với điều kiện của thực tế. Làm cái gì thì học cái ấy trước, cái ấy nhiều, cái ấy suốt đời. Đưa người đã học vào bộ máy công chức là chính, lấy người chưa học là phụ (tránh hiện trạng hiện tại: sinh viên thất nghiệp, công chức đi học đương nhiệm!).
Đưa thực tế vào tất cả các khâu: phân bổ thời kì; sắp đặt con người “dạy thực tế” (như dạy sinh viên hành chính là trưởng phó phòng, chủ tịch, phó chủ tịch, dạy tiếp dân…).
Tiếp cận bí quyết tập huấn bồi dưỡng cán bộ công chức trong nước với toàn cầu để tránh hiện trạng bất cập có thể có: 1 bên là Việt Nam và 1 bên là toàn cầu còn lại!
Thiết nghĩ 1 trong những điều nhưng giáo huấn Hồ Chí Minh biến thành tư tưởng Hồ Chí Minh chính là trị giá “đồng hành thời đại” của những giáo huấn ấy
1. Đạo đức và vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội
Đạo đức, hiểu theo nghĩa chung nhất, là 1 hình thái của tinh thần xã hội, bao gồm những nguyên lý, chuẩn mực và thang bậc trị giá được xã hội thừa nhận
Đạo đức có chức năng chi phối, điều chỉnh hành vi của mỗi người sao cho thích hợp với ích lợi của toàn xã hội
Đối với mỗi tư nhân, tinh thần và hành vi đạo đức mang tính “phận sự” diễn ra 1 cách tự giác, cốt yếu xuất hành từ nhu cầu ý thức bên trong. Đạo đức của mỗi tư nhân chịu sự ảnh hưởng của dư luận xã hội, cũng như sự tự rà soát bởi chính mình
Đạo đức có tác dụng điều chỉnh hành vi, tác dụng giáo dục và tác dụng đề đạt.
Chức năng điều chỉnh hành vi
– Đạo đức là 1 phương thức điều chỉnh hành vi. Sự điều chỉnh hành vi làm tư nhân và xã hội cùng còn đó và tăng trưởng, đảm bảo quan hệ ích lợi tư nhân và số đông.
Loài người thông minh ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi, trong ấy có chính trị, pháp quyền và đạo đức…
– Chính trị điều chỉnh hành vi giữa các giai cấp, các dân tộc, tất cả các nước bằng các giải pháp đặc thù như ngoại giao, kinh tế, hành chính, bạo lực…
– Pháp quyền và đạo đức điều chỉnh hành vi trong quan hệ giữa các tư nhân với số đông bằng các giải pháp đặc thù là luật pháp và dư luận xã hội, lương tâm. Sự điều chỉnh này, có thể thuận chiều, có thể ngược chiều.
– Điều chỉnh hành vi của đạo đức và pháp quyền không giống nhau ở chừng độ yêu cầu và phương thức điều chỉnh.
Pháp quyền thể xuất hiện ở luật pháp, là ý chí của ách thống trị buộc mọi người phải làm theo. Những chuẩn mực của luật pháp được tiến hành bằng nghiêm cấm và hãm hiếp (quyền lực công cộng cộng với đội vũ trang đặc thù, quân đội, cảnh sát, toà án, nhà giam…). Pháp quyền là đạo đức tối thiểu của mỗi tư nhân sống trong số đông.
Đạo đức yêu cầu từ tối thiểu tới tối đa đối với các hành vi tư nhân. Phương thức điều chỉnh là bằng dư luận xã hội và lương tâm. Những chuẩn mực đạo đức bao gồm cả chuẩn mực nghiêm cấm và cả chuẩn mực khuyến khích.
Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức bằng dư luận xã hội và lương tâm yêu cầu từ tối thiểu đến tối đa hành vi con người đã biến thành đặc thù riêng để phân biệt đạo đức với các hình thái tinh thần khác, các hiện tượng xã hội khác và làm thành cái chẳng thể thay thế của đạo đức.
– Mục tiêu điều chỉnh: đảm bảo sự còn đó và tăng trưởng xã hội bằng hình thành quan hệ ích lợi số đông và tư nhân theo nguyên lý hài hòa ích lợi số đông và tư nhân (và lúc cần phải dành đầu tiên ích lợi số đông).
– Nhân vật điều chỉnh: Hành vi tư nhân (trực tiếp) qua ấy điều chỉnh quan hệ tư nhân với số đông (gián tiếp).
– Phương pháp điều chỉnh được biểu thị: Tuyển lựa trị giá đạo đức; xác định chương trình của hành vi bởi lý tưởng đạo đức; xác định phương án cho hành vi bưỏi chuẩn mực đạo đức; hình thành động cơ của hành vi bởi niềm tin, lý tưởng, tình cảm của đạo đức, kiểm soát uốn nắn hành vi bởi dư luận xã hội.
Chức năng điều chỉnh hành vi được tiến hành bởi 2 vẻ ngoài cốt yếu.
– Xã hội và số đông tạo dư luận để khen ngợi khuyến khích cái thiện, phê phán mạnh bạo cái ác.
– Bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi cơ sở những chuẩn mực đạo đức xã hội.
Chức năng giáo dục
Con người vươn lên “chân – thiện – mỹ”. Con người là thành phầm của lịch sử, cùng lúc là chủ thể của lịch sử. Con người tạo ra tình cảnh tới mức nào thì tình cảnh cũng tạo ra con người tới mức đó.
Con người sinh ra bắt gặp hệ thống đạo đức của xã hội. Hệ thống đó ảnh hưởng tới con người và con người ảnh hưởng lại hệ thống. Hệ thống đạo đức do con người tạo ra, nhưng mà sau lúc có mặt trên thị trường hệ thống đạo đức còn đó như là cái khách quan hoá ảnh hưởng, chi phối con người.
Xã hội có giai cấp tạo nên và còn đó nhiều hệ thống đạo đức nhưng các tư nhân chịu sự ảnh hưởng. Ở đây, môi trường đạo đức: ảnh hưởng tới đạo đức tư nhân bằng nhận thức đạo đức và thực tế đạo đức. Nhận thức đạo đức để chuyển hoá đạo đức xã hội thành tinh thần đạo đức tư nhân. Thực tiễn đạo đức là hiện thực hoá nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức. Các hành vi đạo đức lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội và tư nhân làm cả đạo đức tư nhân và xã hội được củng cố, trở nên lề thói, truyền thống, tập quán đạo đức.
Hiệu quả giáo dục đạo đức dựa dẫm vào điều kiện kinh tế – xã hội, bí quyết tổ chức, giáo dục chừng độ tự giác của chủ thể và nhân vật giáo dục trong giai đoạn giáo dục.
– Giáo dục đạo đức gắn với văn minh đạo đức:
Nhân đạo hóa các quan hệ xã hội và chừng độ bình thường nhân đạo hóa các quan hệ xã hội; sự hoàn thiện của cấu trúc đạo đức và chừng độ bình thường của nó…sẽ giúp chủ thể chọn lọc, bình chọn đúng các hiện tượng xã hội, bình chọn đúng nhân cách của người khác hay của số đông cũng như tự bình chọn đúng phê duyệt mục tiêu, đề nghị, nhiệm vụ, nội dung, phương thức, vẻ ngoài và các bước đi của giai đoạn giáo dục sẽ giúp mỗi tư nhân và cả số đông tạo ra các hành vi và thực tế đạo đức đúng.
Như vậy, tác dụng giáo dục của đạo đức cần được hiểu 1 mặt “giáo dục lẫn nhau trong số đông”, giữa tư nhân và tư nhân, giữa tư nhân và số đông;mặt khác, là sự “tự giáo dục” ở các ngành độ tư nhân lẫn cấp độ tư nhân lẫn cấp độ số đông.
Chức năng đề đạt
Với nhân cách là 1 hình thái tinh thần xã hội, đạo đức có tác dụng nhận thức phê duyệt sự đề đạt còn đó xã hội.
Sự đề đạt của đạo đức với hiện thực có đặc điểm riêng khác với các hình thái tinh thần khác.
Đạo đức là phương thức đặc thù của sự chiếm lĩnh toàn cầu con người. Nếu xét dưới giác độ bản thể luận, đạo đức là hệ thống ý thức, được quy định bởi còn đó xã hội. Nhưng xét dưới giác độ xã hội học thì hệ thống ý thức (nhận thức đạo đức) ko tách rời thực tế – hành động của con người. Do vậy, đạo đức là hiện tượng xã hội vừa mang tính ý thức vừa mang tính hành động hiện thực.
Sự nhận thức của đạo đức có đặc điểm:
– Hành động đạo đức thông liền sau nhận thức trị giá đạo đức. Và trường hợp có sự hòa quyện tinh thần đạo đức với hành động đạo đức. (Khác những khoa học và phần mềm nghiên cứu thành quả khoa học có khoảng cách về ko gian và thời kì).
– Nhận thức của đạo đức là giai đoạn vừa hướng ngoại (hướng ra ngoài) và hướng nội (tự nhận thức – hương vào chính mình, chính chủ thể).
Nhận thức hướng ngoại lấy chuẩn mức, trị giá, đời sống đạo đức của xã hội làm nhân vật. Đấy là hệ thống trị giá thiện và ác, bổn phận và bổn phận, hạnh phúc và ý nghĩa cuộc sống…, những “bí quyết và dụng cụ” tạo ra các trị giá đạo đức. Nhờ sự nhận thức này nhưng chủ thể nhận thức đã chuyển hóa đạo đức của xã hội như là cái chung thành tinh thần đạo đức của tư nhân như là cái riêng.
Nhận thức hướng nội (tự nhận thức), lấy bản thân mình – chủ thể đạo đức – làm nhân vật nhận thức. Đây là giai đoạn tự bình chọn, tự giám định, tự đối chiếu những nhận thức, hành vi, đạo đức của mình với những chuẩn mực trị giá chung của số đông. Từ cách nhận thức này nhưng chủ thể tạo nên trở nên các ý kiến và nguyên lý sống: thông minh hay chủ động, hy sinh hay tận hưởng, vị tha hay vị kỷ, hướng thiện hay sa vào cái ác…
Trong tự nhận thức, vai trò của dư luận xã hội và lương tâm là lớn béo. Dư luận xã hội là sự bình phẩm, bình chọn từ phía xã hội đối với chủ thể, còn lương tâm là sự phê bình. Cả 2 đều giúp chủ thể tái hiện lại trị giá đạo đức của mình – trị giá nhưng xã hội mong muốn.
Từ nhận thức giúp chủ thể tinh thần được bổn phận của mình và chuẩn bị để ho thành bổn phận ấy. Trong cuộc sống có ti tỉ những bổn phận tương tự. Nó luôn đặt ra trong quan hệ phong phú giữa chủ thể đạo đức với xã hội, gia đình, bạn hữu, đồng đội, đồng chí, số đông, dân tộc, gia cấp, quốc gia.
Nhận thức đạo đức (đạo đức đề đạt hiện thực) ở 2 trình độ: trình độ thông thường và trình độ lý luận.
– Nhận thức đạo đức ở trình độ thông thường là tinh thần thông thường, những trị giá riêng biệt. Nó phục vụ nhu cầu đạo đức thông thường đủ để chủ thể xử lý kịp thời trong cuộc sống và sự tăng trưởng phổ biến của xã hội. Mọi tư nhân đều có thể và cần phải ảnh ánh đạo đức ở trình độ này.
– Nhận thức đạo đức ở trình độ lý luận là những nhận thức có tính nguyên lý được lãnh đạo bởi những trị giá đạo đức có tính tổng quát. Trình độ này đáng ứng những yêu cầu của sự tăng trưởng đạo đức và văn minh xã hội. Đây là nhân tố chẳng thể thiếu được trong hệ tư tưởng và hành vi của các gia cấp cầm quyền.
– Nhận thức đạo đức đưa lại kiến thức đạo đức, tinh thần đạo đức. Các tư nhân, nhờ kiến thức đạo đức, tinh thần đạo đức xã hội đã nhận thức (biến thành đạo đức tư nhân). Tư nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng trị giá đạo đức xã hội biến thành cơ sở để tư nhân điều chỉnh hành vi, tiến hành đạo đức (hiện thực hóa đạo đức).
Về sự suy thoái đạo đức, lỗi sống trong xã hội hiện tại
Quan 20 5 đỗi mới, quốc gia ta đã đạt được những thành tự lớn béo và có ý nghĩa lịch sử. Việc tiến hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội, phát huy quyền làm chủ của quần chúng có văn minh… Đông đảo cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò đi đầu, kiểu mẫu năng động, thông minh trong công việc, đoàn luyện phẩm giá, năng lực, nhập vai trò cốt cán trong công cuộc đổi mới
Trong đảng và trong xã hội ta hiện tại hiện ra hiện trạng suy thoái về đạo đức, lối sống. Đấy là nguy cơ béo liên can đến sự sống còn của Đảng của cơ chế.
Sự suy thoái về đạo đức,lối sống được biểu thị ở các dạng cốt yếu sau đây:
Thứ nhất là: chủ nghĩa tư nhân, lối sống vị kỷ, chuộc lợi, buông thả tận hưởng, thiếu lý tưởng, thiếu ý chí cố gắng hiện ra trong tất cá các phân khúc xã hội.
Thứ 2 là: tệ tham nhũng, đút lót, bòn rút của công, hoang phí diễn ra ở nhiều ngành nhiều lĩnh vực đang biến thành “quốc nạn” gây giận dữ cho quần chúng
Thứ 3 là: hành động thời cơ “chạy chọt” vì ích lợi tư nhân khá bình thường
Thứ tư là: lời nói ko đi đôi với việc làm, nói và làm trái với nghị quyết của Đảng, nói nhiểu làm ít; phát ngôn tủy tiện, vô nguyên lý
Thứ 5 là: tệ quan liêu, xa dân, chỉ đạo vô cảm trước những gian khổ giận dữ và đề nghị, yêu cầu chính đáng của quần chúng
Thứ 6 là: hiện trạng suy thoái về đạo đức trong quan hệ gia đình với quan hệ giữa tư nhân và xã hội, như gia trưởng vũ phu bất hiếu
Thứ 7 là: đạo đức nghề nghiệp sa sút ngay cả trong lĩnh vực được xã hội suy tôn, hiện tượng mê tín dị đoan có chiều hướng lan rộng tác động xấu đến thuần phong mĩ tục và thứ tự an toàn xã hôi.
Nguyên nhân của hiện trạng trên có cả khách quan và chủ quan
Về khách quan: trước nhất do ảnh hưởng thụ động của chế độ kinh tế thị phần đặc thù là bản lĩnh kích thích lối sống thực dụng chủ nghĩa của chế độ này. Sự ảnh hưởng của đạo đưc, lối sống tư sản tận hưởng phương tây vào nước ta trong điều kiện thế giới hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và bùng nổ mạng thông tin thế giới. các thần thế cừu địch phản động đã chủ động khuyến khích lối sốn ích kỷ, tận hưởng, thực dụng chủ nghĩa trong cán bộ, đảng viên, cán bộ chỉ đạo và gia đình họ coi ấy là 1 trong những giải pháp tiến hành “diễn biến hòa bình”:
Về nguyên do chủ quan: do chúng ta chưa nhận thực đầy đủ thâm thúy vai trò nền móng của đạo đức trong bình ổn, tăng trưởng xã hội và ảnh hưởng của chế độ kinh tế thị phần đến đạo đức xã hội trên thực tiễn chúng ta chưa coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống; thiếu sự tổ chứ, phối hợp cảu các đơn vị quản lý các ngành. 1 bộ phận cán bộ chỉ đạo, đảng viên và gia đình chưa nêu gương về đạo đức và lối sống
Trạng thái suy thoái về đạo đức, lối sống nêu trên đã có ảnh hưởng béo tới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quốc gia hiện tại. Nó đang làm chỉnh sửa méo mó những chuẩn mực thang bậc trị giá truyền thống trị giá tốt đẹp của dân tộc và cách mệnh, có tác hại đến sự trường tồn của dân tộc và sự tăng trưởng của quốc gia, sự suy thoái về đạo đức của 1 số bộ phận cán bộ, đảng viên khiến cho quần chúng lo âu, bất bình, tác động xấu đến uy tín và vai trò chỉ đạo cuả tổ chức đảng, tới việc tổ chức tiến hành đường lối chủ trương của đảng, chế độ luật pháp của nhà nước thực trạng ấy tiềm tàng nhiều nguy cơ, cộng với các nguy cơ khác dẫn đến bất bình ổn chính trị xã hội, liên can tới “sự sống còn của đảng, của cơ chế”
Để năng cao năng lực và sức đấu tranh của Đảng chặn đứng và đẩy lùi suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, trong đảng và trong xã hội, hội nghị trung ương III khóa X của đảng đã ban hành nghị quyết “Đẩy mạnh sự chỉ đạo của Đảng trong cuộc tranh đấu chống tham nhũng, hoang phí” Ngày 7/11/2006 Bộ Chính Trị Ban Chấp hành TW Đảng ra chỉ thị số 06-CT/TW về tổ chức cuộc chuyển động “Học tập và tuân theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn đảng và xã hội. tiến hành tốt cuộc chuyển động này sẽ góp phấn quan trọng vào cuộc tranh đấu và đẩy lùi suy thoái về đạo đức, lối sống trong đảng và trong xã hội
Sự cấp thiết phải học tập, đoàn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình hiện tại.
– Hiện nay quốc gia đang trên đà tăng mạnh sự nghiệp đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa – tiên tiến hóa trên tất cả các chiến trận, hăng hái và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế tăng trưởng nền kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa, thì việc học tập và tuân theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đường lối cách mệnh của người càng ngày càng trở thành quan trọng hơn bao giờ hết, nhập vai trò chính yếu trong nghĩ suy và hành động của các ngành chỉ đạo và toàn dân.
– Như chúng ta đã biết, khi sinh tiền Bác Hồ của chúng ta đã khẳng định: Đạo đức là gốc của cách mệnh. Bác coi đạo đức của con người như gốc của cây, như nguồn của sông. Người luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng và hăng hái của đạo đức trong đời sống xã hội. Bởi thế, học tập, đoàn luyện tu dưỡng đạo đức, lối sống theo tấm gương Bác Hồ trong quá trình hiện tại là điều rất cấp thiết và quan trọng.
– Là 1 cán bộ nhân viên, bản thân nhận thức được rằng việc học tập và tuân theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và thực hành tiết kiệm, chống biển thủ, hoang phí, quan liêu là 1 bổn phận đối với bản thân để từng bước hoàn thiện mình. Trong cuộc sống đời tư cũng như trong công tác, bản thân luôn xác định rằng: “Việc gì hữu ích dù bé cũng làm, việc gì có hại dù bé cũng tránh” và tuyệt đối tránh hoang phí cả về tiền nong và thời kì, luôn phát huy tinh thần bảo vệ của công, thân cận, sâu sát với nhân dân quần chúng, lấy tiêu chuẩn người cán bộ cách mệnh để làm chỉ tiêu cố gắng.
Những phẩm giá đạo đức cách mệnh và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nhưng cán bộ, đảng viên, công chức phải thường xuyên học tập và noi theo:
+ Những phẩm giá đạo đức cách mệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
– Trung với nước hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc, phải “tuyệt đối trung thành với Đảng với quần chúng”.
– Tinh thần dân chủ, tôn trọng số đông, tôn trọng nhân dân quần chúng, xoành xoạch ân cần tới mọi người, gắn bó với quần chúng. Mến thương con người, sống có nghĩa, có tình là tạo điều kiện cho mỗi người càng ngày càng văn minh tốt đẹp hơn, phải tiến hành phê bình, tự phê bình thành tâm, giúp nhau tu sửa thiếu sót, phát huy điểm tốt.
– Cần kiệm là phẩm giá của mọi công nhân trong đời sống, trong công việc: biết lao động chăm chỉ, chuyên cần và biết tiết kiệm sức lao động, ngày giờ, tiền tài quần chúng của quốc gia và của bản thân.
– Liêm chính là phẩm giá của người cán bộ lúc thi hành công vụ phải thẳng thắn, ko tà, trong lành, “luôn chí công không lo nghĩ” là hết mực công bình, ko có lòng riêng, thiên vị, thiên tư. Đem lòng chí công không lo nghĩ đối với người, đối với việc.
+ Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh:
– Trọn đời cố gắng, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và loài người.
– Kiên định mục tiêu lý tưởng, bảo vệ chân lý, giữ vững ý kiến, khí phách vượt qua gian khổ thách thức.
– Kính trọng quần chúng, hết dạ, cực kỳ dùng cho quần chúng, dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nguyện làm “người tôi tớ thật trung thành của quần chúng”.
– Nhái ân, vị tha, độ lượng, nhân đức, rất đỗi vì con người, “dành tình thương mến cho tất cả, san sớt với mỗi người nỗi đau”.
– Coi khinh sự sa hoa, sống thật sự cần kiệm giản dị, sống trong lành, ko gợn chút riêng tây.
Đấy chỉ là vấn đề lý thuyết còn thực tiễn thì sao? Gần 5 5 tiến hành cuộc vấn động nước ta đã đạt được những thành quả gì, các chế độ về đạo đức có được chỉnh sửa các hiện trạng quan biển thủ liệu có còn, ấy là những cấu hỏi nhưng khồn chỉ riêng tôi đưa ra nhưng nó là hiện trạng chung của tất cả chúng ta
Lâu nay nay chúng ta chỉ thấy được trên lý thuyết còn phần tiến hành hay ko thực thụ rất khó, yêu cầu mỗi địa phương có cái nhìn nói chung và toàn diện nhất chứ nhất mực khổng thể nhìn nhận bằng những con số trên giấy má nhưng thực tế ko đề đạt đúng.
Là người dân Việt, là những đảng viên trẻ ngày mai chúng ta hãy cần có sự gắn kết giữa lý luận và thực tế sao cho thích hợp học tập theo bác như 1 chuẩn mực 1 tiền đề cho chúng ta tiến bước đi lên, cố gắng cố gắng vì sự tăng trưởng vững bền của quốc gia, hãy tạm gác lại ích lợi tư nhân, hãy bỏ dở những xiềng xích lâu nay nhưng vì quốc gia, vì ích lợi của quần chúng nhưng dùng cho. hãy trình bày hành động trước nhất, các nhà chỉ đạo hãy trình bày bằng tất cả những gì nhưng họ có đi, đừng lời nói rồi bắt người khác phải làm, đừng chỉ là chuyến tham quan dễ dãi nhưng làm tốn kém bao lăm của nả của địa phương, hãy bỏ dở bớt thủ tục để có sự dễ dãi, sự thân thiện giữa “quan” và “dân” hãy trình bày mình là người bình dị và mến khách.
Liên hệ:
Tôi hiện là sinh viên 5 thứ 3 chuyên ngành Giáo dục học – Học Viện Quản Lý Giáo Dục bản thân tôi cũng rất hăng hái tham dự vào các hoạt động của trường đặc thù là lĩnh vực tự nguyện. trong giai đoạn học tập tại trường, Bên phòng công việc – chính trị luôn phát động các cuộc thi liên can đến Người, về tư tưởng tấm gương và đạo đức Hồ Chí Mình.
Đặc trưng là cuộc thi văn nghệ “Tiếng hát toàn Học viện với nội dung về Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 5 2009 lôi cuốn được hấu hết tất cả sinh viên toàn trường tham dự
Là 1 trường mới được thành lập lên các phong trào đưa ra chưa được toàn diện nhưng mà đã lôi cuốn được cộng đồng tham dự, các chủ đề luôn được đưa ra về truyền tụng Đảng, Bác Hồ mến yêu
Các cuộc thi ko chỉ liên can đến phòng chính trị dưới sự lãnh đạo của Chi Bộ Đảng nhà trường, còn có sự tham dự hăng hái của Đoàn thanh niên Học Viện với các cuộc thi với chủ đề học tấp và tuân theo tấm gương đạo đức của Người, gắn kết trong phong trào toàn diện về văn hóa văn nghệ thể dục thể thao
Gắn kết trong phòng trào học tập, chống thụ động trong thi cử, thi đua học tập tốt theo gương Bác
Bản thân là bí thơ lớp tôi cũng thường xuyên đưa ra những buổi bàn luận ở tại lớp về Tấm gương đạo đức hồ chí mình, đặc thù là cuộc thi kể chuyện về Bác đã được tất cả thành viên trong chi đoàn tham dự, qua các bài hùng biện về Người chúng tôi càng hiểu thêm về Bác về công huân lớn béo, về tư tưởng bất hủ của Người và với ước muốn là lứa tuổi đi sau chúng tôi sẽ phấn đấu phát huy tất cả những sở trưởng ưu điểm của mình sao cho hợp với chuẩn mực của đạo đức của tư tưởng của người đã để lại. Tất cả thành viên trong lớp đều học tập đạt kết quả cáo 100% học lực Khá trở lên và phấn đấu cố gắng để biến thành những Đoàn tụ tốt để đạt được vào mục tiêu học thiện cảm Đảng của trường…
Thực hiện đường lối tiết kiệm trong các cuộc thi, các hoạt động, đưa sinh viên thăm quan Lăng Chủ Tich để hiểu thêm về lãnh tụ của quốc gia….
Diễn ra từ Đảng phát động phong trào “Học tập và tuân theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” toàn bộ sinh viên Học Viện luôn có tinh thần cố gắng trong công việc học tập, tu dưỡng và đoàn luyện bản thân, và đã đạt được nhiều thành tựu cao trong công việc của trường, lớp. luôn lấy tư tưởng của người làm ánh sáng soi đường cho chúng ta, tiến bước đi lên như hành trang để tiến đến thành công.
Để thay cho lời kết của mình tôi xin đưa ra 2 câu nói bất hủ của Người:
Nước Việt Nam là 1. Dân tộc Việt Nam là 1. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng mà chân lý đó ko bao giờ chỉnh sửa.”
“Cô giáo, thầy giáo trong cơ chế ta cần phải góp phần vào công cuộc xây dựng XHCN. Phcửa ải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu, hậu lạc”, tức là gian khổ thì chịu trước người đời, phấn kích thì hưởng sau người đời. Người thầy giáo tốt, thầy giáo xứng đáng là thầy giáo, là người vang dội nhất. Dù tăm tiếng ko đăng lên báo, ko được thưởng huân chương, song những người thầy tốt là những người hùng vô danh….”
Tôi, bạn và bạn nữa…cùng chung tay cống hiến vì 1 Việt Nam bừng sáng trên trường quốc tế, cùng học tập thi đua, cố gắng tất cả, chúng ta có đầy đủ điều kiện để đi lên, chúng ta phải hứa hẹn với lòng mình là sẽ thành công. Cùng kết đoàn gắn bó, hợp sức vì ở ấy ta mới thấy mình tự tin hơn, vững vàng hơn
“Kết đoàn, kết đoàn, đại kết đoàn
Thành công, thành công, đại thành công”
Mời độc giả cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục tập huấn trong mục biểu mẫu nhé.
Phiếu bình chọn chất lượng đảng viên
8 Bản kiểm điểm đảng viên cuối 5
Mẫu 7-HSĐV: Sổ danh sách Đảng viên

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Bài #thu #hoạch #đối #tượng #Đảng


#Bài #thu #hoạch #đối #tượng #Đảng

Vik News

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button