Tài Liệu

Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng nâng hạng giáo viên mầm non hạng IV lên hạng III

Bài thu hoạch cuối khóa bồi dưỡng nâng hạng thầy cô giáo măng non hạng IV lên hạng III là tài liệu có lợi để các bạn tham khảo viết bài thu hoạch nâng hạng thầy cô giáo măng non hạng III. Sau đây là nội dung cụ thể mẫu bài thu hoạch, mời các bạn cùng tham khảo.

1. Bài thu hoạch thầy cô giáo măng non hạng 3 số 1

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Trong lĩnh vực giáo dục khái quát và lĩnh vực giáo dục măng non nói riêng nhằm tăng lên năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, tiến hành tốt các nhiệm vụ của nhân viên giảng dạy và trẻ, phục vụ các tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho thầy cô giáo măng non. Cùng lúc nhằm bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh ngề nghiệp thầy cô giáo măng non hạng III và xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp thầy cô giáo măng non hạng III. Với những lý do trên, trong dịp hè 5 20….., Sở Giáo dục và Huấn luyện Bình Dương đã phối hợp với Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lớp bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp thầy cô giáo cho các ngành học trên khu vực tỉnh. Tôi đã mạnh dạng đăng ký tham dự lớp bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho thầy cô giáo măng non hạng III.

Qua công đoạn học tập, nghiên cứu cộng với sự chỉ dẫn, truyền đạt của các thầy, cô giáo gánh vác giảng dạy Chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho thầy cô giáo măng non tôi đã nắm bắt được nội dung của từng chuyên đề

Chuyên đề 1: Tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước

Chuyên đề 2: Luật trẻ con và hệ thống quản lí giáo dục

Chuyên đề 3: Kỹ năng làm việc nhóm

Chuyên đề 4: Kỹ năng quản lí thời kì

Chuyên đề 5: Phát triển chương trình giáo dục măng non của khối lớp

Chuyên đề 6: Xây dựng môi trường tâm lí – xã hội trong giáo dục trẻ ở trường măng non

Chuyên đề 7: Bình chọn sự tăng trưởng của trẻ măng non

Chuyên đề 8: Sáng kiến kinh nghiệm trong giáo dục măng non

Chuyên đề 9: Kỹ năng chỉ dẫn, tham mưu tăng trưởng năng lực nghề nghiệp cho thầy cô giáo

Chuyên đề 10: Tổ chức, huy động số đông tham dự giáo dục trẻ măng non

Chuyên đề 11: Đạo đức của thầy cô giáo măng non trong xử lý cảnh huống sư phạm ở trường măng non

Trong các chuyên đề trên đều là những tri thức hữu dụng dùng cho cho công việc chuyên môn nghiệp vụ của bản thân mỗi thầy cô giáo. 1 trong các chuyên đề giúp tôi hiểu sâu hơn và có thể vận dụng hiệu quả hơn trong hoạt động giáo dục trẻ của bản thân đấy là chuyên đề “Xây dựng môi trường tâm lí – xã hội trong giáo dục trẻ ở trường măng non”. Đây cũng là 1 trong những chuyên đề nhưng mà các đơn vị trường học trên khu vực huyện tôi đã khai triển và đang tiến hành.

Hiện nay ngành giáo dục đang từng bước biến đổi từ chương trình giáo dục tới vẻ ngoài và cách thức giáo dục để đạt hiệu quả cao nhất. Để giải quyết được đề nghị này yêu cầu ngành giáo dục phải “Xây dựng hàng ngũ nhà giáo và cán bộ điều hành giáo dục được chuẩn hóa, bảo đảm chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc trưng chú trọng tăng lên khả năng chính trị, nhân phẩm, đạo đức, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo phê chuẩn việc quản lí, tăng trưởng đúng định hướng và hiệu quả sự nghiệp giáo dục để tăng lên chất lượng tập huấn nguồn nhân công, phục vụ những yêu cầu càng ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, đương đại hóa non sông” – chỉ thị số 40/CT/TW ngày 15/06/2004 của Ban bí thơ.

Trong những 5 vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã và đang đầu cơ kinh phí xây dựng các phòng học, sắm sửa trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi cho các trường măng non được hoạt động hăng hái đổi mới nội dung và cách thức giảng dạy và phát động các cuộc chuyển động, các phong trào thi đua nhằm tăng lên chất lượng giáo dục. Tiêu biểu là công văn số 9761/BGDĐT-GDMN ngày 20/10/2008, chỉ dẫn và khai triển phong trào thi đua “Xây dựng trường học gần gũi, học trò hăng hái” bậc học măng non; chuyên đề “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” với mong muốn khích lệ, khuyến khích giáo viên, cán bộ quản lí, toàn bộ học trò cùng các lực lượng ngoài xã hội hăng hái, chủ động tham dự xây dựng môi trường giáo dục gần gũi, an toàn, tạo nên và phát huy tính hăng hái, chủ động, thông minh ở trẻ, tạo mọi điều kiện tốt nhất để trẻ được tăng trưởng toàn diện về mọi mặt.

Tuy nhiên trên thực tiễn việc xây dựng môi trường gần gũi – môi trường tâm lý – xã hội cho trẻ ở trường măng non chưa đích thực được chú trọng. Trong thời kì mới đây ngành giáo dục luôn phải đương đầu với các vấn nạn về bạo hành trẻ (kể cả thể chất lẫn ý thức, “khủng bố” trẻ bằng lời nói…), đánh trẻ, xâm hại trẻ con xảy ra với môi trường giáo dục làm phụ huynh phải đặt câu hỏi “nơi nào là an toàn cho trẻ nhỏ”, trẻ vẫn chưa thật sự ‘thích” tới trường măng non. Thành ra, kế bên việc xây dựng môi trường vật chất chúng ta cần vô cùng ân cần tới việc xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non để trẻ đích thực cảm thu được “mỗi ngày tới trường là 1 ngày vui”

II. NỘI DUNG:

1. Cơ sở lí luận:

Có thể nói, việc xây dựng môi trường giáo dục trong trường măng non là đích thực cấp thiết và quan trọng. Nó được nếu như người thầy cô giáo thứ 2 trong công việc tổ chức, chỉ dẫn trẻ hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi và hoạt động của trẻ. Thông qua đấy, tư cách của trẻ được tạo nên và tăng trưởng toàn diện.

Môi trường giáo dục trong nhà trường là các nhân tố về vật chất và tâm lý – xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả và chất lượng công đoạn dạy học và giáo dục nhằm tạo nên và tăng trưởng tư cách cho người học. Môi trường tâm lý – xã hội được kiến lập trên cơ sở bầu ko khí sư phạm trong nhà trường, mối quan hệ của người dạy với người học, mối quan hệ của người học với nhau. Môi trường tâm lý – xã hội trong nhà trường tác động rất béo tới sự tạo nên và tăng trưởng nhận thức, tình cảm và hành vi của người học cũng như tác động béo tới hiệu quả của công đoạn giáo dục. Như vậy, môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non là môi trường được kiến lập trên cơ sở bầu ko khí sư phạm trong nhà trường, mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa người béo với trẻ (thầy cô giáo măng non, cán bộ người lao động viên trong trường, phụ huynh, khách), người béo với người béo, trẻ với trẻ.

Trẻ em thế hệ măng non đang trong công đoạn trước nhất của sự tạo nên và tăng trưởng tư cách. Sự tăng trưởng của trẻ được quyết định bởi 1 tổ hợp các điều kiện: đặc điểm tăng trưởng thân thể của trẻ, điều kiện sống, mối quan hệ của trẻ với môi trường bao quanh, chừng độ hăng hái hoạt động của bản thân trẻ. Trẻ chỉ có thể lĩnh hội kinh nghiệm xã hội nhờ sự xúc tiếp với người béo. Việc hình thành bầu ko khí tâm lý – xã hội dựa trên các trị giá trong xây dựng môi trường nhà trường là điều kiện tiên quyết để xúc tiến hiệu quả giáo dục vì nó phục vụ các nhu cầu quan trọng của trẻ. Theo đấy, môi trường nhà trường cần được thiết lập trên nền móng các trị giá. Kết quả nghiên cứu của UNESCO trong chương trình giáo dục trị giá sống thế giới trẻ con cần được sống trong môi trường nhưng mà trẻ cảm thấy: được an toàn, được có trị giá, được mến thương, được hiểu và được tôn trọng.

2. Thực trạng:

Tôi là 1 thầy cô giáo của trường Măng non ……….. trên khu vực huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trường tôi nằm ở điểm trường nông thôn nhưng mà căn bản cán bộ, thầy cô giáo, viên chức trong trường cũng đã phấn đấu xây dựng trường đạt chuẩn non sông chừng độ 1 và đạt danh hiệu trường đạt chuẩn chất lượng giáo dục chừng độ 3 vào 5 …………

Tổng số cán bộ, thầy cô giáo, viên chức trong trường 5 học …….. có …… người nữ. Trong đấy:

– Cán bộ điều hành: ….người

– Giáo viên: …..người

– Nhân viên: …..người

– Tổng số lớp: …..lớp (2 lá, 2 chồi, 1 mầm, 1 nhóm trẻ)

– Tổng số trẻ: …… trẻ nữ (bán trú 100%)

Trong 5 học mới đây, nhà trường đã phát động cho toàn thầy cô giáo tham dự xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, xây dựng trường học an toàn, gần gũi… Bản thân tôi cũng đã hăng hái tham dự các phong trào. Tuy nhiên, tôi chỉ mới nắm bắt được những nội dung căn bản nên lúc bắt tay vào tiến hành thì còn rất bối rối và kết quả đạt được chưa cao. Vì là 1 thầy cô giáo nhiệt huyết với nghề nên kết quả đấy làm tôi rất trằn trọc và tự đặt câu hỏi cho mình: xây dựng môi trường gần gũi, môi trường tâm lý – xã hội là xây dựng thế nào? Phcửa ải vận dụng những biện pháp gì? Thực hiện bằng cách nào và kể từ đâu?… Sau lúc tham dự lớp bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp thầy cô giáo măng non hạng III tôi “bắt gặp” được chuyên đề “xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trong giáo dục trẻ ở trường măng non” với sự truyền đạt, chỉ dẫn, san sớt của Tiến sĩ Phạm Phước Mạnh – giảng sư khoa tâm lý trường Đại học sư phạm thị thành Hồ Chí Minh tôi đã có thân xác định được “hướng đi” cho mình trong việc xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non đạt hiệu quả và tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn lúc 5 học mới 20……..mở đầu.

Căn cứ vào tình hình thực tiễn của nhà trường, của bản thân và kết quả họat động của những 5 mới đây tôi cũng đã xác định được 1 số thuận tiện và gian nan lúc tiến hành chuyên đề này.

* Thuận lợi:

– Được sự chỉ huy, ân cần, phân phối tham mưu của các ngành chỉ đạo, đặc trưng là Ban giám hiệu nhà trường.

– Được sự ân cần của phụ huynh học trò, của số đông.

– Bản thân tôi là 1 thầy cô giáo chủ động, hăng hái trong việc tìm tòi, học hỏi và đã được tham dự bồi dưỡng chuyên đề “xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong giáo dục trẻ ở trường măng non”.

* Khó khăn:

– Giáo viên chưa có nhiều kĩ năng trong việc xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non.

– Kĩ năng giao ứng cứu xử của bản thân thầy cô giáo chưa khôn khéo, nhanh nhạy lúc có cảnh huống bất thần xảy ra.

– Chưa thu được sự cộng tác, phối hợp của 1 vài phụ huynh và thành viên trong nhà trường trong việc xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non.

3. Gicửa ải pháp:

Xuất phát từ những lý do và thực trạng nêu trên và phê chuẩn việc tham dự lớp bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp chỉ mất khoảng mới đây tôi đã nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non nhằm tăng lên chất lượng và giáo dục trẻ. Tôi đã nghiên cứu, sưu tầm và đưa ra những biện pháp xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non như sau:

Gicửa ải pháp 1: Xây dựng môi trường tâm lý – xã hội mang thuộc tính của môi trường gia đình

Trước lúc tới trường măng non, trẻ con được sống trong môi trường gia đình, được , khuyên bảo bằng tình cảm mến thương cật ruột. Điều này ko có được ở trường măng non. Tuy nhiên, với tác dụng, nhiệm vụ của trường măng non là nuôi dưỡng, , giáo dục trẻ con nhằm giúp trẻ con tạo nên những nhân tố ban sơ của tư cách và sẵn sàng cho trẻ vào lớp 1 (Điều lệ trường măng non), phát huy hết những tiềm năng đang nảy nở ở trẻ thì nhà trường cần xây dựng môi trường tâm lý – xã hội mang thuộc tính của môi trường gia đình. Đấy là:

– Môi trường an toàn: Môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non cần bảo đảm trẻ được , giáo dục bằng tình thương cảm yêu. Khi được sự ân cần của tất cả các thành viên trong nhà trường, đặc trưng là cô giáo sẽ tạo ra ở trẻ sự an toàn cả về thể chất lẫn tâm lý. Nhờ đấy trẻ mới cảm thấy yên tâm, mới vui mừng hồn nhiên, mới mạnh dạng dò xét, thí điểm, khám phá toàn cầu bao quanh. Hoạt động trong môi trường tâm lý – xã hội nhà trường mang đặc biệt văn hóa gia đình, trẻ con được người béo , giáo dục bằng tình thương cảm yêu, được thỏa mãn đầy đủ và kịp thời, có lí mọi nhu cầu để tăng trưởng. Đây là điều kiện tiên quyết để trẻ trưởng thành.

Thí dụ: Khi trẻ lần trước nhất bước chân vào trường măng non “ngày trước nhất đi học” nhất là trẻ ở thế hệ vườn trẻ và mầm trẻ sẽ rất là bỡ ngỡ, lo âu và phần nhiều trẻ sẽ khóc vì có thể nói đây là lần trước nhất trẻ rời xa gia đình, rời xa “môi trường an toàn” vốn có. Nếu cô giáo ko ân cần, vỗ về trẻ sẽ cảm thấy ko an toàn và sẽ quấy khóc nhiều hơn. Trẻ cần được cô giáo ân cần, vỗ về, , chuyện trò dần dần trẻ sẽ quen với môi trường mới và ko còn quấy khóc nữa. Vì khi đấy trẻ đã cảm thu được ở trường cũng được an toàn như ở gia đình.

– Môi trường phong phú: Trường măng non có nhiều thành viên như hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, thầy cô giáo, viên chức, trẻ con, phụ huynh của trẻ tạo ra các mối quan hệ phong phú, nhiều chủng loại giữa nhiều đứa ở những độ tuổi và lứa tuổi không giống nhau. Trong môi trường phong phú các mối quan hệ này, trẻ có nhiều thời cơ để giao tiếp, học hỏi, mở mang khiến thức cũng như đoàn luyện các kĩ năng sống cấp thiết (sự tự tin, sự tò mò, bản lĩnh thông minh, kĩ năng cộng tác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xử lý cảnh huống, kĩ năng giữ an toàn tư nhân)

Thí dụ: Khi bước vào môi trường phong phú các mối quan hệ như trường măng non trẻ sẽ trông thấy, nghe thấy và học được các luật lệ xử sự như thế nào cho phù hơp. Khi thấy cô giáo trò chuyện với 3 mẹ mình trẻ sẽ nhìn thấy luật lệ trong giao tiếp như kính trọng, vui mừng, linh hoạt. Trẻ nắm được cách giao tiếp với người béo là phải kính trọng, lễ độ hoặc là lúc chơi với bạn phải biết kết đoàn, ko giành giật hay tự tiện lấy đồ của bạn, biết nói lời cám ơn và xin lỗi lúc cấp thiết…

Để thích hợp với đặc điểm tăng trưởng nhận thức của trẻ măng non là nhận thức cảm tính, trường măng non luôn sẵn có đồ dùng đồ chơi, dụng cụ trực giác như tranh ảnh, mẫu hình, băng hình. Đặc trưng các đồ dùng sinh hoạt như ca cốc, bát thìa, bàn ghế, cây trồng, vật nuôi… đều được thầy cô giáo sử dụng trong công đoạn , giáo dục giúp trẻ mở mang vốn hiểu biết về tên gọi, đặc điểm, tác dụng/lợi ích, cách sử dụng/cách chúng. Cùng lúc tạo nên ở trẻ thái độ đúng mực cũng như các lề thói tốt, các hành vi hăng hái trong xử sự với không gian sống như biết giữ giàng đồ dùng đồ chơi, biết , bảo vệ vật nuôi, cây trồng…

Thí dụ: Hiện nay chúng ta đang tiến hành chuyên đề “lấy trẻ làm trung tâm” trong mọi hoạt động, hăng hái cho trẻ hoạt động trải nghiệm khám phá chứ ko “giam cầm” trẻ trong lớp với 4 bức tường vì lý do “trẻ ra sân khó quản”. Trẻ con rất thích khám phá bao quanh, đặc trưng là những điều mới lạ. Thí dụ lúc cho trẻ trải nghiệm về các cảm quan chúng ta sẽ cho trẻ được tri giác qua tranh ảnh, vật thật… trẻ được tận mắt trông thấy, được dùng mũi để ngửi, dùng tai để nghe, dùng tay để sờ, được dùng mồm để nếm, được cảm nhận sẽ kích thích tất cả các cảm quan tạo điều kiện cho nhận thức của trẻ được mở mang. Kế bên đấy thầy cô giáo luôn nhắc nhở, giáo dục trẻ các hành vi hăng hái như quét dọn sau lúc chơi xong, nhặt rác bỏ vào thùng rác, ko nghịch phá vật dụng, con vật gian nguy…

+ Môi trường nhưng mà người béo , giáo dục trẻ bằng giao tiếp trực tiếp và thường xuyên: Ở mọi nơi, mọi khi, trong mọi cảnh huống của cuộc sống, người béo đều có thể khuyên bảo, khuyên bảo trẻ. Việc nuôi và dạy trẻ trong môi trường tâm lý – xã hội nhà trường cần được liên kết 1 cách khôn khéo và thiên nhiên.

Thí dụ: Trong giờ tổ chức cho trẻ ăn thầy cô giáo có thể chuyện trò, khuyên bảo, chỉ dẫn trẻ các kĩ năng cấp thiết như kĩ năng tự dùng cho (biết lấy chén, lấy muỗng, biết lấy ghế ngồi vào bàn, rửa tay, lau mặt trước và sau lúc ăn xong…), kĩ năng giao tiếp, xử sự (biết mời cô và các bạn lúc ăn, biết cám ơn lúc cô chia cơm, biết xin lỗi lúc lỡ làm đổ cơm của bạn, ko lấy đồ ăn của bạn…). Trong tổ chức giờ ngủ, thầy cô giáo có thể cho trẻ nghe những điệu hát, vần thơ hay để trẻ có thể cảm thu được tinh hoa văn hóa 1 cách nhẹ nhõm, thiên nhiên. Hay trong tổ chức hoạt động dạo chơi ngoài trời lúc có bạn lỡ trượt chân té ngã tận dụng cảnh huống đấy cô giáo dục trẻ biết tương trợ bạn, ko chòng ghẹo bạn và xem bạn có bị trầy xướt gì ko. Qua đấy cô giáo có thể nói cho trẻ biết lúc bị trầy xướt thì nên làm thế nào….

+ Môi trường tự do: Trong môi trường tâm lý – xã hội ở nhà trường, tất cả trẻ con đều được tự do hoạt động, được tạo thời cơ để tăng trưởng tối ưu những tiềm năng sẵn có. Mỗi đứa trẻ là 1 con người biệt lập, có đặc điểm riêng về thể chất và tâm lý, mỗi trẻ có cách tiếp thu kinh nghiệm theo cách riêng, vận tốc riêng của mình. Những nét riêng này cần được tôn trọng và khuyến khích để trẻ tăng trưởng 1 cách độc lập và chủ động.

Môi trường tâm lý – xã hội này giúp cho trẻ tự do hoạt động do chính mình và vì chính mình. Khi trẻ hoạt động, người béo khuyến khích, khích lệ, tạo thời cơ cho trẻ trải nghiệm, khám phá cuộc sống, mày mò, ân cần, san sớt, tương trợ lẫn nhau lúc cấp thiết. Do đấy, mỗi trẻ đều được phát huy bản lĩnh riêng của mình và tạo nên ở trẻ tinh thần kỷ luật, ý thức nghĩa vụ với bản thân, với những người bao quanh, với môi trường nhưng mà trẻ đang sống.

Tuy nhiên trên thực tiễn thì chúng ta vẫn còn “ngại” chỉnh sửa, vẫn còn áp đặt trẻ và dạy theo những thứ chúng ta sẵn có chứ chưa đích thực dạy theo những gì trẻ hứng thú. Ngay trong công đoạn tổ chức hoạt động chúng ta vẫn áp đặt câu giải đáp, ý nghĩ của trẻ. Thí dụ: lúc dạy trẻ mày mò về con mèo chúng ta vẫn thường áp đặt trẻ phải giải đáp con mèo sống trong gia đình, đẻ con, có 4 chân, kêu meo meo, thích ăn cá và bắt chuột… chứ chúng ta chưa ân cần tới mong muốn của trẻ “vì sao con mèo thích bắt chuột? Vì sao nó ngủ ngày? Vì sao nó đi rất êm?… Hoặc lúc trẻ ra sân hoạt động thầy cô giáo thường cấm đoán ko cho trẻ chạy nhảy, hò la. Hay lúc trẻ phát hiện có tổ kiến, con sâu thì chúng túm tụm lại nhưng mà ko theo ý của cô giáo thì khi đấy cô giáo sẽ tới bắt trẻ phải chuyển động tới chỗ khác theo ý cô nhưng mà ko ân cần tới nhu cầu của trẻ là đang muốn mày mò vể con sâu hay tổ kiến đấy.

+ Môi trường có sự tôn trọng, tin cậy lẫn nhau: Trong môi trường tâm lý – xã hội lành mạnh, người béo khái quát, cô giáo và bè bạn đều tôn trọng sự lự chọn hoạt động của trẻ, luôn đặt niềm tin nơi trẻ, tin rằng trẻ có bản lĩnh chấm dứt và chấm dứt tốt những hoạt động nhưng mà trẻ được tự do chọn lọc. Niềm tin của người béo, của bè bạn là động lực mạnh bạo xúc tiến trẻ chấm dứt nhiệm vụ theo cách tốt nhất có thể với bản lĩnh của trẻ.

Thí dụ: Trong 5 học mới rồi lớp tôi có 1 nhỏ thừa cân và đang sẵn sàng chạm mức to phì. Để giảm thiểu sự tăng cân cho nhỏ tôi đã chủ động phối hợp với gia đình chỉnh sửa 1 chút trong cơ chế ăn và tập dượt cho nhỏ. Tôi thường cho nhỏ ăn nhiều rau hơn các bạn khác, cắt cơ chế sữa ở nhà chỉ uống 1 cốc sữa vào sau bữa ăn sáng tại trường, tôi thường tạo thời cơ cho nhỏ tham dự giúp cô quét dọn bàn ghế, tăng mạnh chuyển động hơn các bạn trong các hoạt động. Tuy nhiên trong 2 tháng đầu nhỏ vẫn lên cân nhưng mà với lòng tin nhỏ sẽ giảm được với sự bền chí của mình thì tới tháng thứ tư nhỏ đã ko tăng cân nữa, tới cuối 5 thì chiều cao tăng nhưng mà cân nặng vẫn giữ mức thế là nhỏ ko còn nằm trong kênh sức khỏe cần phải theo dõi. Hay trong giờ cộng đồng dục thì có 1 vài nhỏ rất nhút nhát ko dám tham dự chuyển động cùng các bạn lúc tiến hành 1 số bài tập như choài, trèo nhưng mà với lòng tin của mình đặt vào trẻ tôi đã giúp trẻ mạnh dạng, tự tin tham dự vào hoạt động cùng các bạn.

+ Môi trường khuyến khích trẻ hăng hái, chủ động trong họat động: Với đồ dùng đồ chơi phong phú, nhiều chủng loại, nhiều màu sắc được sắp xếp trên những chiếc giá vừa tầm với trẻ. Với thái độ linh hoạt, vui mừng, với hành vi, cử chỉ nhẹ nhõm, ánh mắt trìu mến của cô giáo, sự động viên của bè bạn, trẻ đích thực được sống trong môi trường an toàn, phong phú. Điều này làm phát sinh ở trẻ những cảm xúc hăng hái và lòng khát khao được tìm tòi, khám phá, trải nghiệm.

Thí dụ: Khi cho trẻ mày mò về nghề xây dựng nhưng mà thầy cô giáo sẵn sàng nhiều đồ dùng đồ chơi liên can tới nghề như cái bay, gạch, cát, xi măng, đồ bảo hộ, tranh ảnh các công trình, video cách trộn hồ, cách xây gạch… sẽ giúp trẻ đơn giản tiếp nhận hơn nghề xây dựng là nghề như thế nào, cần có những đồ dùng gì, tạo ra những thành phầm ra sao… chứ ko chỉ thuần tuý ta chỉ hỗ trợ cho trẻ cái bay và gạch xây dựng nhưng mà trẻ có thể hiểu hết về nghề xây dựng.

Giáo viên phải cho trẻ xúc tiếp với đồ dùng đồ chơi chứ chẳng phải làm để trưng bày.

Thí dụ: Khi thầy cô giáo tổ chức hoạt động cho trẻ in, vẽ hoa quả bằng rau củ ko chỉ sẵn sàng thuốc nước, rau củ nhưng mà thầy cô giáo nên sẵn sàng thêm màu lông, màu sáp, giấy màu… để trẻ có thể xúc tiếp và sử dụng nhiều loại màu không giống nhau để hình thành bức tranh. Và trong công đoạn trẻ tiến hành thầy cô giáo thường xuyên khêu gợi, khích lệ, cổ vũ trẻ thì trẻ sẽ tạo ra được những thành phầm có tính mới lạ, lạ mắt hơn.

Để có thể xây dựng môi trường nhà trường nhân bản và gần gũi, thầy cô giáo cần có 1 số kĩ năng như: biết lắng tai trẻ, có lời nói và cử chỉ trình bày sự ân cần, tôn trọng trẻ, biết san sớt và thấu hiểu những vấn đề trẻ đang gặp phải trong học tập và cuộc sống, công bình với trẻ, ko phân biệt đối xử, tạo điều kiện để trẻ biểu thị bản thân, biết cách cổ vũ và khích lệ trẻ để trẻ thích ứng với môi trường lớp học, vượt qua những trở lực…

Gicửa ải pháp 2: Xây dựng hệ thống nội quy, luật lệ giao tiếp, xử sự trong trường măng non

Để xây dựng được môi trường tâm lý – xã hội mang thuộc tính của môi trường gia đình, môi trường tâm lý – xã hội lành mạnh, an toàn, gần gũi trong trường măng non thì chúng ta cũng cần phải xây dựng 1 hệ thống nội quy, luật lệ xử sự, các mối quan hệ và hành vi hăng hái trong trường măng non.

Việc xây hệ thống nội quy, luật lệ xử sự phải dựa trên ý thức hiệp tác, có những nội quy, luật lệ chung và riêng thích hợp cho từng nhân vật nhưng mà phải dựa vào các nhân tố như sau:

– Tôn trọng tư cách nhân vật giao tiếp: tức là phải coi nhân vật giao tiếp là 1 tư nhân, 1 con người, 1 chủ thể với đầy đủ các quyền vui chơi, học tập, lao động… với những đặc biệt tâm lý biệt lập, họ có quyền đồng đẳng với mọi người trong các mối quan hệ xã hội. Trong xã hội, vị thế có không giống nhau nhưng mà tư cách là đồng đẳng. Nhu cầu được tôn trọng là nhu cầu đặc biệt của con người. Tôn trọng tư cách sẽ giúp họ linh hoạt, tự tin trong giao tiếp. Tôn trọng người khác là tôn trọng chính mình.

Thí dụ: Trong lớp học của chúng ta có những đứa trẻ gia đình có điều kiện nên khi nào cũng tinh tươm, sạch bong còn có những đứa trẻ gia đình gian nan hơn 1 chút, nhìn bề ngoài có yếu đuối hơn ko vì vậy nhưng mà ta cứ vấn vít bên đứa trẻ tinh tươm kia nhưng mà quên đứa trẻ có gia đạo gian nan. Chính những đứa trẻ yếu đuối, gian nan đấy mới là nhân vật nhưng mà chúng ta cần phải ân cần nhiều hơn chứ chẳng phải bỏ mặc.

– Thiện ý trong giao tiếp: Trong các mối quan hệ xã hội đặc trưng là trường măng non rất cần sự nhã ý. Thiện ý trong giao tiếp tức là luôn nghĩ tốt, luôn tạo điều kiện thuận tiện cho nhân vật giao tiếp. Cung cách xử sự trình bày cái tâm của con người, người có tâm nhân từ dễ cảm thông, san sớt với xấu số, không may, vui với thành công của người khác, mong muốn người khác tân tiến, thành đạt. Cái tâm nhân từ giúp chủ thể thiết lập được các mối quan hệ tốt đẹp với những người bao quanh và ngược lại sức có tâm ko nhân từ thường ích kỉ, thiếu tôn trọng người khác, ko biết thông cảm, san sớt, hay đố kỵ với thành công của người khác.

– Không lo nghĩ trong giao tiếp: tức là trong giao tiếp chủ thể ko bao giờ được hưởng dụng nhân vật giao tiếp cả về vật chất và ý thức. Đây là điều kiện để xây dựng, duy trì các mối quan hệ dài lâu, tốt đẹp với những người bao quanh.

– Đồng cảm trong giao tiếp: tức là chủ thể giao tiếp biết đặt mình vào địa điểm của nhân vật giao tiếp, vào tình cảnh, vào thế hệ để thông cảm, san sớt thú vui, nổi buồn của họ. Suy nghĩ, thái độ, hành động của mỗi người là không giống nhau. Nếu ta cứ một mực bắt người khác phải theo mình khó tránh khỏi những bất bình. Đồng cảm giúp nhân vật giao tiếp linh hoạt hơn và tạo được niềm tin, tạo ra sự thân cận, thân tình, tạo ra cảm giác an toàn và hứng thú lúc giao tiếp với nhau.

Thí dụ: Trong lớp có 1 vài phụ huynh thường đưa con đi học rất sớm hoặc đón rất muộn nhưng mà ko vì vậy nhưng mà ta cáu gắt, gian nan với trẻ với phụ huynh nhưng mà phải biết mày mò lý do và cảm thông cho họ tương tự mới kiến lập được mối quan hệ tốt và tạo được cảm giác an toàn cho trẻ.

Ở đơn vị tôi cũng đã xây dựng những bảng nội quy cho toàn bộ cán bộ, thầy cô giáo, viên chức và phụ huynh của trường không những thế còn mang thuộc tính chung chung chưa được chi tiết hóa như trong biện pháp đã nêu. Nhà trường xây dựng 1 bảng nội quy dành chung cho phụ huynh và trẻ chỉ thuần tuý là quy định giờ giấc đón – trả trẻ, đồng phục, tư trang của trẻ lúc vào trường, nhân vật phụ huynh được đón trẻ chứ chưa xây dựng nội quy, luật lệ xử sự, giao tiếp. Sau lúc được mày mò chuyên đề, với cương vị là 1 thầy cô giáo – 1 tổ trưởng chuyên môn căn cứ vào Quy định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/04/2008 quy định về đạo đức nhà giáo; căn cứ quyết định số 03/2007/QĐ-BNV luật lệ xử sự của cán bộ công chức nhân viên làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương; căn cứ vào Điều lệ trường măng non tôi cũng đã mạnh dạng xây dựng được bảng nội quy, luật lệ giao tiếp, xử sự với từng nhân vật trong trường măng non và tôi sẽ tham vấn Ban giám hiệu bổ sung, biên tập và vận dụng trong 5 học mới như sau:

– Nội quy, luật lệ giao tiếp, xử sự của thầy cô giáo với trẻ măng non:

+ Mến thương trẻ như con em của mình.

+ Giao tiếp, xử sự chân tình, nhã ý. Biết lắng tai và cùng san sớt những gian nan trong cuộc sống. Không phân biệt đối xử, công bình với trẻ. Giúp đỡ, ân cần trẻ có tình cảnh đặc trưng.

+ Thỏa mãn cân đối các nhu cầu căn bản của trẻ (nhu cầu an toàn, tự khẳng định, vui chơi, giao tiếp, nhu cầu tình cảm…). Mềm dẻo nhưng mà cương quyết đưa trẻ vào nền nếp nhà trường.

…………………

2. Bài thu hoạch thầy cô giáo măng non hạng 3 số 2

Bài thu hoạch cuối khóa
Lớp bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp hạng 3

Tên đề tài: “Đạo đức của thầy cô giáo măng non trong xử lí cảnh huống sư phạm ở trường măng non“.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Giáo dục măng non là cấp học trước nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền tảng cho sự tăng trưởng về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ con. Việc thừa hưởng sự và tăng trưởng tốt từ thế hệ ấu thơ sẽ góp phần tạo nền tảng cứng cáp cho sự tăng trưởng trong mai sau của trẻ. Những kĩ năng nhưng mà trẻ được tiếp nhận qua chương trình giáo dục măng non sẽ là nền móng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ, là nguồn nhân công chất lượng cao cho non sông.

Trẻ được béo lên tăng trưởng toàn diện là nhờ sự của gia đình nhà trường. Mẹ là môi trường học trước nhất của con và cô là môi trường học thứ 2 của con sau mẹ, con mãi là niềm hạnh phúc của mẹ. Là niềm tin của cô giáo là mai sau của dân tộc, là 1 công dân của toàn cầu mai sau. Việc bảo vệ và giáo dục trẻ ngày nay, đang là nghĩa vụ của mỗi gia đình, nhà trường và của toàn xã hội, vậy phải làm như thế nào đây để chúng ta có được những người công dân bổ ích cho xã hội đấy là nhiệm vụ của mỗi chúng ta. Những người béo phải biết chăm lo, bồi dưỡng và tăng trưởng trẻ con thành những con người toàn diện.

Đối với trẻ măng non cô giáo phải là người vừa dạy, vừa dỗ, vừa là người mẹ vừa là bạn cùng chơi với trẻ, để từ đấy mới có những giải pháp giáo dục phù hợp với từng nhân vật trẻ mang đến hiệu quả tốt nhất cho trẻ, để từ đấy mới có những giải pháp giáo dục phù hợp với từng nhân vật trẻ mang đến hiệu quả tốt nhất cho trẻ.

Tuy nhiên vẫn còn còn đó nhiều giảm thiểu trong công việc giáo dục măng non. Tiêu biểu là các vụ bạo hành trẻ con đã bị tạp chí bóc trần vừa qua, đã làm mất đi hình tượng 1 người mẹ hiền trong mắt của trẻ và phụ huynh.

Chính vì thế qua công đoạn học tôi thấy tâm đắc nhất với chuyên đề : “Đạo đức của thầy cô giáo măng non trong việc xử lý các cảnh huống sư phạm măng non”.

Chuyên đề này giúp tôi thông suốt hơn về các định nghĩa cảnh huống sư phạm trong nhóm, lớp học măng non. Hiểu đạo đức của thầy cô giáo măng non và cách biểu lộ hành vi đạo đức trong việc xử lý các cảnh huống sư phạm trong nhóm, lớp học măng non. Thực hành cách biểu lộ hành vi đạo đức trong việc xử lý các cảnh huống sư phạm thực tiễn.

II. CƠ SỞ LÍ LUẬN:

Giáo dục măng non là nền móng của hệ thống giáo dục quốc dân, Điều 23 mục 1 chương 2 Luật giáo dục có chỉ rõ “Nội dung giáo dục măng non là phải đảm bảo thích hợp với sự tăng trưởng tâm sinh lý của trẻ con, hài hoà giữa nuôi dưỡng, và giáo dục giúp trẻ con tăng trưởng hợp lý khoẻ mạnh, nhanh nhảu biết kính trọng, yêu quý, lễ độ với người béo, bè bạn,…thực thà, bạo dạn, hồn nhiên thích thú cái đẹp, ham hiểu biết, thích đi học. Điều 24 có quy định “Chương trình giáo dục măng non trình bày tiêu chí giáo dục măng non, chi tiết hoá các đề nghị về nuôi dưỡng, , giáo dục trẻ con ở từng độ tuổi, quy định việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ tăng trưởng về thể chất, tình cảm, trí óc, thẩm mĩ chỉ dẫn phương pháp bình chọn sự tăng trưởng của trẻ con ở tuổi măng non.

Trong giáo dục ngày nay muốn tiến hành tốt tiêu chí và nội dung trên, hơn người nào hết, những thầy giáo, cô giáo cần tinh thần được nghĩa vụ béo lao của mình để từ đấy ko dừng bồi dưỡng, tăng lên những nhân phẩm đạo đức, kĩ năng xử lý cảnh huống sư phạm, chấm dứt tốt sự nghiệp trồng người, xứng đáng là tâm gương sáng để học trò noi theo.

III. CƠ SỞ THỰC TIỄN:

Qua 12 5 công việc tôi nhận thấy: Trẻ măng non rất nghịch ngợm, hiếu động nhưng mà người béo thường thấy ngộ nghĩnh, cute. Song kế bên đấy còn có những trẻ có biểu lộ khác lạ khiến cô giáo rất trằn trọc… đấy là trẻ có những biểu lộ khác lạ ko giống các bạn khác ở trong lớp hay còn gọi là trẻ “cá biệt” những trẻ này thường có những biểu lộ:

– Trẻ nhút nhát, e lệ, hay khóc ko thích tham dự vào các hoạt động cùng bạn, lười ăn, phản ứng chậm .

Trẻ quá hiếu động, tự do cười nói trong giờ học, giờ ăn, ko tuân theo sự chỉ dẫn của cô, hay vứt đồ chơi và giành giật đồ chơi với bạn, ko nghe lời cô giáo ông bà, ba má.

Trước hiện tượng lớp học như thế, bản thân tôi nhận thấy thiết yếu giải pháp nào đấy với mục tiêu làm giảm, giảm thiểu tới mức cho phép các hành vi nhưng mà trẻ “cá biệt” gây ra, làm bất biến nền nếp của lớp học tạo điều kiện cho trẻ có tính nhút nhát e lệ phát huy được tính hăng hái hoà chung với ko khí học tập của lớp, giúp trẻ nhìn thấy vẻ ngoài sai lầm của mình với phương châm “dạy trẻ từ thủa còn thơ” để trẻ cá biệt nói riêng trẻ măng non khái quát có bước đệm sau này trong việc tạo nên tư cách con người mới xuất sắc.

Trong giáo dục ngành học sư phạm măng non, các cảnh huống thường xuyên xảy ra và muôn màu, muôn vẻ: Khi thì do tranh chấp của trẻ và điều kiện sống, lúc thì yêu cầu của người béo bao quanh với bản lĩnh và tính tình của trẻ, có lúc lại do tranh chấp của chính trẻ con với nhau trong hoạt động.

Cảnh huống trong giáo dục măng non cực kỳ phong phú và nhiều chủng loại bởi sự tăng trưởng của trẻ rất không giống nhau. Mỗi cháu 1 tính tình riêng, 1 bản lĩnh riêng, cảnh huống lại xảy ra trong những thời khắc và ko gian không giống nhau. Không thể có 1 biện pháp nào chung cho mọi đứa trẻ vì mỗi nhỏ là 1 con người biệt lập.

Thời gian qua, ở 1 vài tỉnh, thành trong nước liên tục xảy ra những vụ việc thầy cô giáo măng non bạo hành trẻ bé, gây tâm lý căm thù trong xã hội. Trong thực tiễn tại trường tôi công việc, đôi lúc thầy cô giáo chưa kìm chế được xúc cảm nên vẫn còn hiện trạng la mắng, quát tháo học trò.

Thành ra, vấn đề tăng lên chuẩn mực đạo đức của người dạy và trông trẻ đang được ngành Giáo dục Cà Mau nói riêng và cả nước khái quát cực kỳ ân cần. Với nhiều giải pháp quyết liệt của các cơ sở giáo dục măng non trên khu vực tỉnh, hàng ngũ thầy cô giáo măng non đã và đang dần phấn đấu tự hoàn thiện bản thân, tạo niềm tin đối với các bậc phụ huynh.

* Những nguyên cớ dẫn tới những thực trạng đấy là:

– GV chưa hiểu trẻ và phục vụ nhu cầu cho trẻ trong các hoạt động ở trường măng non.

– GV đôi lúc ko kìm chế được xúc cảm nên tác động tới trẻ.

– Trẻ trong lớp quá đông cũng tạo nhiều sức ép cho GV, GV sẽ thường xuyên bị căng thẳng, từ đấy nhưng mà tâm cảnh ko tốt.

– Do khối lượng công tác quá nhiều, sức ép của công tác khiến GV cảm thấy mỏi mệt sẽ tác động nhiều tới giao tiếp với trẻ.

– GV có quan niệm sai trái lúc cho rằng trẻ tuổi này rất bướng, rất lỳ, và phải giáo dục nghiêm khắc, phải trách phạt, la mắng cho trẻ biết sợ, biết chừa, thường cấm đoán và chỉ mong trẻ biết nghe lời.

Chính vì thế Khả năng truyền đạt cho trẻ măng non phải được trau dồi liên tiếp. Để tạo điều kiện cho cô giáo măng non đỡ bối rối lúc tìm các biện pháp cho các cảnh huống có thể xảy ra lúc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ,

IV. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP:

Biện pháp 1: Đạo đức phải có của người GVMN trong giao ứng cứu xử với trẻ măng non:

– Trong , giáo dục trẻ GV cần phải xoành xoạch mến thương trẻ như con, khôn khéo và thỏa mãn những nhu cầu căn bản của trẻ.

– Giáo viên cần dành mọi nghĩ suy, hành động ưu ái cho trẻ, vì trẻ bảo đảm cho trẻ tăng trưởng tối đa những tiềm năng vốn có.

– Giao ứng cứu xử với trẻ bằng những hành vi cử chỉ dịu hiền, nhẹ nhõm, linh hoạt, vui mừng tạo cho trẻ 1 cảm giác an toàn, bình an, thoải mái được lúc tới trường.

– Tạo ra 1 bầu ko khí gần gũi, linh hoạt trong suốt công đoạn và giáo dục trẻ là điều rất quan trọng.

– Giáo viên cần hiểu trẻ, nên tìm những điểm cộng, điểm hăng hái của trẻ để nêu gương, cổ vũ trẻ tạo cho trẻ có được sự tự tin, phấn chấn.

– Cần tôn trọng trẻ, lắng tai quan điểm của trẻ và chuẩn bị trả lời mọi thắc mắc của trẻ, ko nên lờ đi trước quan điểm của trẻ.

– Giáo viên xử sự công bình với tất cả trẻ, ko phân biệt, so sánh trẻ này với trẻ khác

Biện pháp 2: Phcửa ải có kĩ năng trong xử lí cảnh huống:

– Trước mỗi cảnh huống, GV cần tĩnh tâm ko nên vội vã, hot nẩy.

– Cần linh động trong cách xử lý cảnh huống với trẻ, ko nên cứng nhắc vì mỗi trẻ là 1 cá thể biệt lập, 1 tính cách và thị hiếu không giống nhau.

– Thường xuyên sinh hoạt chuyên môn, cán bộ điều hành có thể nêu ra các cảnh huống để thầy cô giáo khắc phục.

– Chỉ dẫn thầy cô giáo cách phân tách cảnh huống dựa trên đặc điểm của trẻ từ đấy đưa ra cách khắc phục cảnh huống trong giao tiếp, xử sự với trẻ mang tính phần mềm cao.

Biện pháp 3: Đoàn luyện hành vi/ lề thói đạo đức của GVMN trong các cảnh huống giao tiếp, xử sự với trẻ măng non:

– Chấp hành tiến hành mọi chủ trương cơ chế, quy định của Ngành, của bậc học.

– Cùng cộng đồng thầy cô giáo trong nhà trường xây dựng các quy định, đề nghị về đạo đức trong các mối quan hệ với đồng nghiệp, với trẻ, với phụ huynh.

– Phcửa ải là tấm gương sáng, mẫu mực về cá tính trước cộng đồng từ việc đi đứng, nói năng điềm đạm, ăn mặc giản dị, đúng đắn; cách làm việc khoa học.

– Tạo ra 1 bầu ko khí gần gũi, linh hoạt, công bình cùng san sớt, ân cần, tương trợ lẫn nhau là điều rất quan trọng.

– Không dừng tăng lên nhận thức của GVMN về đặc dằn bụng sinh lý của trẻ

– Tổ chức luận bàn, bàn luận về những đặc điểm đặc biệt của trẻ từ đấy cùng nhau đưa ra những giải pháp trong việc giao tiếp, xử sự với trẻ đạt hiệu quả như mong muốn.

Biện pháp 4: Bảo đảm điều kiện làm việc, môi trường làm việc để giảm sức ép đối với thầy cô giáo măng non

Nhiều người nghĩ rằng làm nghề thầy cô giáo măng non dễ chịu và tự do, nhưng mà thực tiễn hoàn toàn chẳng phải tương tự, để lo cho từng bữa ăn giấc ngủ của trẻ, thầy cô giáo măng non phải chịu rất nhiều sức ép. Người thầy cô giáo măng non cũng là người phải xử lý trực tiếp những cảnh huống hay gặp của trẻ bé độ tuổi từ 3 tới 5 như quậy phá, lười ăn, hay mắc tín hiệu của bệnh tự kỷ ….

Hiện trạng quá tải số lượng trẻ tính trên 1 thầy cô giáo đang là vấn đề gây nhiều nhức nhói cho xã hội, và vấn đề này cũng là 1 trong những điều gây sức ép nhất đến các thầy cô giáo măng non. Việc điều hành quá nhiều trẻ bé, từ việc soạn giáo án, chăm lo, tổ chức trò chơi, lên bảng theo dõi công đoạn học tập, chú ý đến tâm lý từng nhỏ khiến các cô luôn phải bận rộn suốt cả ngày, sức ép về thời kì và nghĩa vụ là cực kỳ béo.

Giáo viên măng non ko chỉ là 1 cô giáo thuần tuý nhưng mà chừng như thầy cô giáo măng non giống như người mẹ hiền, người cha làm tất cả cho cả công tác từ bé nhất tới béo nhất, do vậy cần có quan điểm đề nghị với ban giám hiệu nên tạo cho cô giáo 1 môi trường làm việc thỏa mái, ko áp đặt, gò bó, tạo môi trường gần gũi hòa đồng lẫn nhau, cho cô và trẻ cùng trải nghiệm thực tiễn, thăm quan, tham dự vào nhiều phong trào lễ hội thân cận với tự nhiên

Biện pháp 5: Cổ vũ, đãi ngộ và suy tôn người thầy cô giáo măng non:

– Cán bộ điều hành thường xuyên ân cần tới tâm sự, ước vọng của thầy cô giáo măng non và chuẩn bị tương trợ, khích lệ lúc cấp thiết.

– Cần bảo đảm các cơ chế cơ chế cho thầy cô giáo măng non như lợi quyền của công nhân trong việc hưởng lương và phụ cấp, cơ chế nghỉ ốm, nghỉ thai sản….

– Hàng 5 trong các hội nghị cấp quận/huyện,phường/xã, cấp trường vinh danh những GV có trình độ chuyên môn và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục.

– Thực hiện tốt công việc tuyên truyền cho phần đông quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội trên khu vực về vai trò quan trọng của người GVMN trong sự nghiệp đổi mới ngày nay.

* Sau công đoạn học tập bản thân tôi đã thực hành những lý thuyết đã học vào thực tế công việc của mình và đã khắc phục thành công 1 số cảnh huống thường gặp trong công việc của mình như sau:

Cảnh huống 1:

Trong giờ vẽ theo mẫu (vẽ bông hoa) chủ đề “Thực Vật”, mọi trẻ đều say sưa vẽ, nhỏ Thành ngồi im ko vẽ, Cô giáo tới gần và hỏi: “Sao Thành ko vẽ đi, các bạn vẽ rất đẹp và gần xong rồi”. Nhỏ giải đáp: “Con ko thích vẽ bài này”.

Cách khắc phục:

– Cô thử hướng trẻ vào nội dung bài vẽ giống các bạn: “cô thấy Thành vẽ rất đẹp, đẹp hơn nhiều bạn trong lớp. Con vẽ nhé nếu con thấy khó cô sẽ vẽ cùng con”.

– Nếu Thành vẫn ko vẽ, cô sẽ giúp trẻ bằng cách gợi ý hoặc giảng giải trình tự hoặc thể hiện mẫu… tùy theo bản lĩnh của trẻ.

– Nếu trẻ vẫn nhất mực ko vẽ, cô hỏi Thành thích vẽ gì? Cô sẽ đưa mấu tỉ dụ như “vẽ quả bóng” cho con vẽ, nếu trẻ vẽ xong theo thị hiếu cô khích lệ trẻ tiến hành bài học trên.

– Cuối giờ cô nhận xét bài vẽ của cả lớp và dành thời kì nhận xét bài vẽ của Thành nên luôn dành những lời khen ngợi để tiết sau em chủ động hơn.

Cảnh huống 2:

Khi dạy trẻ hát và vỗ tay theo nhịp bài hát: “Chú quân nhân đi xa” nhịp ¾ có 1 số trẻ ko biết vỗ tay theo nhịp nhưng mà vỗ trái lại…

Cách khắc phục:

– Cô dạy trẻ thuộc lời bài hát và chỉ dẫn trẻ vỗ đệm theo nhịp từng câu 1 tới hết bài.

– Nếu trẻ vẫn ko tiến hành được cô cho trẻ đứng vòng tròn hoặc đứng hàng dọc, bước nhúng vào phách mạnh của nhịp, thuở đầu có thể đếm, sau đấy thì ghép nhạc.

Cảnh huống 3:

Trong giờ làm quen với tác phẩm văn chương (dạy trẻ kể chuyện), cô đang say sưa kể chuyện cho trẻ nghe, bỗng 1 nhỏ kêu đau bụng và khóc rất bự.

Cách khắc phục:

– Cô tới gần cháu đấy bế trẻ và công bố cho cả lớp biết tình hình sức khỏe của bạn và đề nghị lớp thứ tự tuân theo đề nghị của bạn lớp trưởng.

– Cô giao nhiệm vụ cho lớp trưởng cho cả lớp đọc thơ, hát hoặc chỉ định các bạn hát, đọc thơ…

– Cô đưa nhỏ bị đau bụng vào phòng nghỉ hoặc trải chiếu cho nhỏ nằm, hỏi nhỏ đã ăn những thức ăn gì, có thể xoa dầu cho nhỏ và theo dõi.

– Nếu thấy cháu ko đỡ cô nhờ cô giáo gánh vác lớp kế bên điều hành lớp và cho cháu xuống phòng y tế của trường theo dõi và xử lí kịp thời, có lí.

Cảnh huống 4:

Trong giờ chơi theo góc của trẻ mẫu giáo, ở góc chơi “Nhỏ tập làm thầy thuốc”, nhỏ Hoa đang hăm hở bế búp bê tới thầy thuốc Mai khám bệnh. Nhỏ Hoa bế búp bê ngồi vào ghế dành cho bệnh nhân, thầy thuốc Mai cứ ngồi nghịch ống nghe nhưng mà ko biết Hoa đang ngồi chờ khám bệnh. Chờ 1 khi nhỏ Hoa bế búp bê đứng dậy, vừa đi vừa quay lại nhìn thầy thuốc Mai. Thầy thuốc Mai vẫn ngồi nghịch ống nghe say sưa

Cách khắc phục:

– Cô nhập vai bệnh nhân tới khám bênh và rủ nhỏ Hoa đồng hành.

– Cô chào thầy thuốc Mai và nhờ thầy thuốc khám bệnh. Khi thầy thuốc khám xong, cô hỏi thầy thuốc Mai xem cô bị bệnh gì? Uống thuốc gì?… Cô nhận thuốc và cảm ơn thầy thuốc, chào thầy thuốc và ra về cố nhắc bệnh nhân Hoa vào khám.

– Cô quan sát, nếu Hoa ko biết giao tiếp với thầy thuốc, cô chỉ dẫn Hoa đóng vai bênh nhân để tiến hành ý nghĩ chơi “mẹ bệnh nhân”.

Cảnh huống 5:

Trong lúc rửa mặt cho trẻ, phát hiện 1 trẻ bị đau mắt thì cần xử lí như thế nào ?

Cách khắc phục:

– Để lại cháu đấy và rửa sau cuối, sau lúc rửa xong cho cháu đấy, khăn mặt phải để ở chậu riêng, giặt bằng xà phòng, luộc nước sôi rồi phơi nắng.

– Cô rửa sạch tay bằng xà phòng, sát khuẩn bằng cồn để tránh lây truyền sang các nhỏ khác.

– Giờ trả nhỏ luận bàn với gia đình để cùng phối hợp (có thể cho trẻ nghỉ học để tránh lây sang các bạn khác).

Cảnh huống 6:

Ở lớp mẫu giáo, giờ đi dạo sân trường, cô tổ chức cho trẻ chơi dịch vụ sửa nhà với cát và nước. Khi thời kì đã hết, cô đề nghị trẻ đi rửa tay, chân để chuyển hoạt động khác. Cháu Hùng nhất mực ko nghe, cứ ngồi chơi mãi, tiếp diễn nghịch cát. Hãy giảng giải hiện tượng trên. Nếu là thầy cô giáo tổ chức hoạt động đấy, bạn sẽ xử lí như thế nào?

Gicửa ải thích:

Biểu hiện tính ngang bướng. Ở tuổi này là khi cái tôi hiện ra. Trẻ đang tự muốn khẳng định mình. Đặc trưng là trẻ rất thích chơi với cát, nước, đất và ít có dịp được chơi nên lúc cô đề nghị trẻ vệ sinh trẻ làm trái lại.

Cách khắc phục:

– Cô nhẹ nhõm giảng giải cho trẻ hiểu thời kì chơi đã hết và gợi ý cho trẻ hoạt động tiếp theo có nhiều đồ chơi, trò chơi rất hay (cô lấy tỉ dụ trò chơi có ở hoạt động tiếp theo).

– Thông báo cho trẻ biết kế hoạch của buổi hoạt động ngoài trời trong tuần (tháng) và cho biết khi đấy nếu nhỏ thích chơi thì nhỏ sẽ chơi tiếp (nếu có nội dung chơi này).

– Nếu cháu vẫn ko chịu cô cho trẻ chơi thêm vào giao hứa với cháu lúc cô rửa tay, chân xong cho bạn rốt cuộc thì tới lượt cháu và cô cháu mình cùng thi rửa tay, chân xem người nào rửa sạch hơn…

Cảnh huống 7:

Trong giờ hoạt động góc của lớp mẫu giáo béo đã diễn ra được khoảng 30 phút. Ở góc chơi xây dựng, trẻ đã xây xong công trình “trường măng non của nhỏ”. Cô giáo đi đến, đứng lại và hỏi trẻ: “Các con xây xong chưa ?“, trẻ giải đáp: “Thưa cô, xong rồi ạ”. Cô giáo đứng ngắm công trình nhà xinh của trẻ 1 lát rồi đi làm việc khác. Trẻ ở góc chơi đấy nhìn theo và hy vọng cô.

Cách khắc phục:

– Cô chuyện trò với trẻ về công trình xây dựng để nắm bắt được ý nghĩ chơi của trẻ.

– Cô và trẻ cùng thảo luận về công trình xây dựng: bố cục, kỹ năng xây dựng của trẻ, cái gì được cô khích lệ, khuyến khích, cái gì chưa được cô gợi ý cho trẻ rút kinh nghiệm.

– Nếu còn thời kì, cô gợi ý xem trẻ có muốn xây dựng thêm gì cho công trình đẹp hơn, hoặc có nhu cầu chơi xây dựng gì nữa (tùy theo thời kì tiến hành chủ đề để gợi ý) và có sẵn sàng đồ chơi cho trẻ tiếp diễn chơi.

Cảnh huống 8:

Cô giáo tập sự ở lớp mẫu giáo béo, cô sẵn sàng dạy trẻ bài hát: “Em thêm 1 tuổi” (Chủ đề tết và mùa xuân), cô giới thiệu tên bài hát, tác giả bài hát và hát cho trẻ nghe. Cô đang hát bỗng 1 nhỏ trai đứng lên nói: “Thôi cô ơi, cô đừng hát nữa, cô hát sai hết cả rồi”, làm cô giáo lúng túng, bối rối và lại càng hát lạc giọng hẳn đi.

Cách khắc phục

– Tới gần cô giáo bảo nhỏ để mình dạy thay và nói với trẻ: “Bữa nay cô Nga dạy lớp mình hơi mệt, nên cô Nga bị mất giọng, cô sẽ giúp cô Nga dạy lớp mình bài hát này nhé”.

– Cô khen nhỏ trai đã biết được nhạc điệu bài hát nhưng mà lần sau nếu muốn phát biểu các nhỏ giơ tay xin phát biểu ko được nói leo nhất là lúc cô giáo đang hát và con bảo nhỏ vào tai cô thôi vì có lúc cô giáo hôm đấy bị ốm nhưng mà vẫn phấn đấu để dạy cả lớp mình để ko tác động đến các bạn khác.

– Góp ý với cô giáo trong nhóm nên sẵn sàng chăm chút trước lúc đi dạy trẻ, nếu hát chưa hay nhưng mà phải hát đúng để bảo đảm chất lượng giờ dạy.

Cảnh huống 9:

Trong giờ ngủ trưa, có 1 số nhỏ chưa ngủ được. Nhỏ thì nằm mở mắt trao tráo, trăn trở suốt buổi trưa, nhỏ thì nằm mãi cảm thấy thừa chân, thừa tay cấu véo bạn nằm kế bên để bạn khóc ré lên, có nhỏ thì lại khóc đòi về với mẹ.

Cách khắc phục:

– Tạo cho trẻ lề thói ngay từ buổi trước nhất lúc cho tới hiện tại ngủ.

– Cô kể chuyện, không tính bự, kể nhè nhẹ để trẻ thứ tự, yên lặng nghe và đơn giản đi vào giấc ngủ hoặc cô hát ru và ân cần tới những nhỏ khó ngủ.

– Trường hợp nhỏ ko muốn ngủ ko nên cưỡng ép trẻ, nên tách trẻ sang phòng khác cho trẻ chơi trò chơi tĩnh như: xếp hình, vẽ, nặn và cùng lúc luận bàn với phụ huynh để bảo đảm cho trẻ được ngủ đủ số thời kì quy định trong 1 ngày.

Cảnh huống 10:

Trong giờ chơi tập có chủ đích (nhân vật trẻ 36 – 48 tháng) với nội dung “ Chọn đồ chơi màu đỏ”. Khi cô giáo đề nghị: “Các con chọn cho cô nơ màu đỏ” thì có 1 số trẻ chọn nơ màu xanh.

Có thể do 3 nguyên cớ:

– Trẻ chưa để mắt nghe đề nghị của cô.

– Trẻ chưa nhận mặt được màu đỏ.

– Trẻ thích làm trái lại đề nghị của cô.

Cách xử lí:

– Cô tới gần và hỏi trẻ trên tay nhỏ đang cầm nơ màu gì và nhắc lại đề nghị để trẻ chọn đúng. Hoặc cho trẻ nhắc lại đề nghị hoặc cầm nơ màu đỏ lên để trẻ so sánh.

– Nếu trẻ ko tìm được cô giúp trẻ tìm và cho trẻ nhắc lại cùng cô màu sắc của nơ cô và trẻ vừa tìm được.

Xã hội càng ngày càng tăng trưởng yêu cầu chất lượng giáo dục càng ngày càng cao hơn, đặt nhiều hy vọng hơn vào lứa tuổi sau. Chính vì thế, người thầy cô giáo phải ko dừng tự cập nhật, tự trau dồi tri thức để phục vụ đề nghị của xã hội, kế bên đấy,việc tăng lên nhân phẩm chính trị, tinh thần đạo đức nghề nghiệp, lối sống và cá tính sư phạm, xây dựng hàng ngũ nhà giáo và cán bộ điều hành giáo dục trong lành, lớn mạnh là việc làm có ý nghĩa cần thiết. Người thầy cô giáo phải ko dừng tự hoàn thiện mình để xứng đáng với niềm tin, niềm hi vọng của quần chúng, xứng đáng là người đi “gieo hạt giống đẹp bao tâm hồn”.

* ĐỀ XUẤT:

+ Đối với Ban Giám Hiệu:

– Thường xuyên xây dựng các chuyên đề không giống nhau để thầy cô giáo kiến giảng học hỏi kinh nghiệm, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ qua các buổi sinh hoạt chuyên môn theo nhu cầu cảu thầy cô giáo.

– Giúp cho thầy cô giáo tăng trưởng và thực hành áp dụng các chuyên đề đã học vào công việc.

+ Đối với Phòng Giáo dục và cấp trên:

Tất cả 11 chuyên đề đều rất thiết thực và cấp thiết đối với người thầy cô giáo măng non nhưng mà em nhận thấy rằng các tri thức đôi lúc còn nặng về phần lý thuyết. Giáo viên được thực hành và trải nghiệm còn giảm thiểu.Thời gian học và viết bài thu hoạch, bài rà soát ít nên học viên còn sẵn sàng chưa được tỉ mỉ, số liệu minh chứng ít. Nên em có 1 số đề nghị sau:

– Thường xuyên xây dựng các chuyên đề tại các trường điểm để cán bộ, thầy cô giáo được tham quan học tập.

– Cấp trên đầu cơ thêm kinh phí, hạ tầng để nhà giáo dục có điều kiện tiến hành các chuyên đề được tốt hơn.

– Nên tổ chức huấn luyện cho tất cả cán bộ, thầy cô giáo theo vẻ ngoài học qua mạng để các học viên được học và thực hành ở mọi khi mọi nơi.

Nhìn chung công tác của thầy cô giáo măng non là muôn nghìn gian nan và sức ép bởi thế cần có sự thông cảm của nhà trường và số đông xã hội, phụ huynh, để chung tay cộng với thầy cô giáo để càng ngày càng tăng lên chất lượng giáo dục trẻ được tốt hơn.

Đề phục vụ nhu cầu giáo dục ngày nay, tôi mong rằng các ngành chỉ đạo có thẩm quyền cần ân cần đặc trưng đối với hàng ngũ thầy cô giáo học thăng hạng như chúng tôi, tạo điều kiện tốt nhất để thầy cô giáo được nâng ngạch công chức sớm nhất.

Em xin thật tình cảm ơn quý thầy cô!.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin có lợi khác trên phân mục Tài liệu của Vik News VN.

Xem thêm thông tin Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng nâng hạng giáo viên mầm non hạng IV lên hạng III

Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng nâng hạng thầy cô giáo măng non hạng IV lên hạng III

Bài thu hoạch cuối khóa bồi dưỡng nâng hạng thầy cô giáo măng non hạng IV lên hạng III là tài liệu có lợi để các bạn tham khảo viết bài thu hoạch nâng hạng thầy cô giáo măng non hạng III. Sau đây là nội dung cụ thể mẫu bài thu hoạch, mời các bạn cùng tham khảo.
1. Bài thu hoạch thầy cô giáo măng non hạng 3 số 1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong lĩnh vực giáo dục khái quát và lĩnh vực giáo dục măng non nói riêng nhằm tăng lên năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, tiến hành tốt các nhiệm vụ của nhân viên giảng dạy và trẻ, phục vụ các tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho thầy cô giáo măng non. Cùng lúc nhằm bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh ngề nghiệp thầy cô giáo măng non hạng III và xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp thầy cô giáo măng non hạng III. Với những lý do trên, trong dịp hè 5 20….., Sở Giáo dục và Huấn luyện Bình Dương đã phối hợp với Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lớp bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp thầy cô giáo cho các ngành học trên khu vực tỉnh. Tôi đã mạnh dạng đăng ký tham dự lớp bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho thầy cô giáo măng non hạng III.
Qua công đoạn học tập, nghiên cứu cộng với sự chỉ dẫn, truyền đạt của các thầy, cô giáo gánh vác giảng dạy Chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho thầy cô giáo măng non tôi đã nắm bắt được nội dung của từng chuyên đề
Chuyên đề 1: Tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước
Chuyên đề 2: Luật trẻ con và hệ thống quản lí giáo dục
Chuyên đề 3: Kỹ năng làm việc nhóm
Chuyên đề 4: Kỹ năng quản lí thời kì
Chuyên đề 5: Phát triển chương trình giáo dục măng non của khối lớp
Chuyên đề 6: Xây dựng môi trường tâm lí – xã hội trong giáo dục trẻ ở trường măng non
Chuyên đề 7: Bình chọn sự tăng trưởng của trẻ măng non
Chuyên đề 8: Sáng kiến kinh nghiệm trong giáo dục măng non
Chuyên đề 9: Kỹ năng chỉ dẫn, tham mưu tăng trưởng năng lực nghề nghiệp cho thầy cô giáo
Chuyên đề 10: Tổ chức, huy động số đông tham dự giáo dục trẻ măng non
Chuyên đề 11: Đạo đức của thầy cô giáo măng non trong xử lý cảnh huống sư phạm ở trường măng non
Trong các chuyên đề trên đều là những tri thức hữu dụng dùng cho cho công việc chuyên môn nghiệp vụ của bản thân mỗi thầy cô giáo. 1 trong các chuyên đề giúp tôi hiểu sâu hơn và có thể vận dụng hiệu quả hơn trong hoạt động giáo dục trẻ của bản thân đấy là chuyên đề “Xây dựng môi trường tâm lí – xã hội trong giáo dục trẻ ở trường măng non”. Đây cũng là 1 trong những chuyên đề nhưng mà các đơn vị trường học trên khu vực huyện tôi đã khai triển và đang tiến hành.
Hiện nay ngành giáo dục đang từng bước biến đổi từ chương trình giáo dục tới vẻ ngoài và cách thức giáo dục để đạt hiệu quả cao nhất. Để giải quyết được đề nghị này yêu cầu ngành giáo dục phải “Xây dựng hàng ngũ nhà giáo và cán bộ điều hành giáo dục được chuẩn hóa, bảo đảm chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc trưng chú trọng tăng lên khả năng chính trị, nhân phẩm, đạo đức, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo phê chuẩn việc quản lí, tăng trưởng đúng định hướng và hiệu quả sự nghiệp giáo dục để tăng lên chất lượng tập huấn nguồn nhân công, phục vụ những yêu cầu càng ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, đương đại hóa non sông” – chỉ thị số 40/CT/TW ngày 15/06/2004 của Ban bí thơ.
Trong những 5 vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã và đang đầu cơ kinh phí xây dựng các phòng học, sắm sửa trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi cho các trường măng non được hoạt động hăng hái đổi mới nội dung và cách thức giảng dạy và phát động các cuộc chuyển động, các phong trào thi đua nhằm tăng lên chất lượng giáo dục. Tiêu biểu là công văn số 9761/BGDĐT-GDMN ngày 20/10/2008, chỉ dẫn và khai triển phong trào thi đua “Xây dựng trường học gần gũi, học trò hăng hái” bậc học măng non; chuyên đề “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” với mong muốn khích lệ, khuyến khích giáo viên, cán bộ quản lí, toàn bộ học trò cùng các lực lượng ngoài xã hội hăng hái, chủ động tham dự xây dựng môi trường giáo dục gần gũi, an toàn, tạo nên và phát huy tính hăng hái, chủ động, thông minh ở trẻ, tạo mọi điều kiện tốt nhất để trẻ được tăng trưởng toàn diện về mọi mặt.
Tuy nhiên trên thực tiễn việc xây dựng môi trường gần gũi – môi trường tâm lý – xã hội cho trẻ ở trường măng non chưa đích thực được chú trọng. Trong thời kì mới đây ngành giáo dục luôn phải đương đầu với các vấn nạn về bạo hành trẻ (kể cả thể chất lẫn ý thức, “khủng bố” trẻ bằng lời nói…), đánh trẻ, xâm hại trẻ con xảy ra với môi trường giáo dục làm phụ huynh phải đặt câu hỏi “nơi nào là an toàn cho trẻ nhỏ”, trẻ vẫn chưa thật sự ‘thích” tới trường măng non. Thành ra, kế bên việc xây dựng môi trường vật chất chúng ta cần vô cùng ân cần tới việc xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non để trẻ đích thực cảm thu được “mỗi ngày tới trường là 1 ngày vui”
II. NỘI DUNG:
1. Cơ sở lí luận:
Có thể nói, việc xây dựng môi trường giáo dục trong trường măng non là đích thực cấp thiết và quan trọng. Nó được nếu như người thầy cô giáo thứ 2 trong công việc tổ chức, chỉ dẫn trẻ hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi và hoạt động của trẻ. Thông qua đấy, tư cách của trẻ được tạo nên và tăng trưởng toàn diện.
Môi trường giáo dục trong nhà trường là các nhân tố về vật chất và tâm lý – xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả và chất lượng công đoạn dạy học và giáo dục nhằm tạo nên và tăng trưởng tư cách cho người học. Môi trường tâm lý – xã hội được kiến lập trên cơ sở bầu ko khí sư phạm trong nhà trường, mối quan hệ của người dạy với người học, mối quan hệ của người học với nhau. Môi trường tâm lý – xã hội trong nhà trường tác động rất béo tới sự tạo nên và tăng trưởng nhận thức, tình cảm và hành vi của người học cũng như tác động béo tới hiệu quả của công đoạn giáo dục. Như vậy, môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non là môi trường được kiến lập trên cơ sở bầu ko khí sư phạm trong nhà trường, mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa người béo với trẻ (thầy cô giáo măng non, cán bộ người lao động viên trong trường, phụ huynh, khách), người béo với người béo, trẻ với trẻ.
Trẻ em thế hệ măng non đang trong công đoạn trước nhất của sự tạo nên và tăng trưởng tư cách. Sự tăng trưởng của trẻ được quyết định bởi 1 tổ hợp các điều kiện: đặc điểm tăng trưởng thân thể của trẻ, điều kiện sống, mối quan hệ của trẻ với môi trường bao quanh, chừng độ hăng hái hoạt động của bản thân trẻ. Trẻ chỉ có thể lĩnh hội kinh nghiệm xã hội nhờ sự xúc tiếp với người béo. Việc hình thành bầu ko khí tâm lý – xã hội dựa trên các trị giá trong xây dựng môi trường nhà trường là điều kiện tiên quyết để xúc tiến hiệu quả giáo dục vì nó phục vụ các nhu cầu quan trọng của trẻ. Theo đấy, môi trường nhà trường cần được thiết lập trên nền móng các trị giá. Kết quả nghiên cứu của UNESCO trong chương trình giáo dục trị giá sống thế giới trẻ con cần được sống trong môi trường nhưng mà trẻ cảm thấy: được an toàn, được có trị giá, được mến thương, được hiểu và được tôn trọng.
2. Thực trạng:
Tôi là 1 thầy cô giáo của trường Măng non ……….. trên khu vực huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trường tôi nằm ở điểm trường nông thôn nhưng mà căn bản cán bộ, thầy cô giáo, viên chức trong trường cũng đã phấn đấu xây dựng trường đạt chuẩn non sông chừng độ 1 và đạt danh hiệu trường đạt chuẩn chất lượng giáo dục chừng độ 3 vào 5 …………
Tổng số cán bộ, thầy cô giáo, viên chức trong trường 5 học …….. có …… người nữ. Trong đấy:
– Cán bộ điều hành: ….người
– Giáo viên: …..người
– Nhân viên: …..người
– Tổng số lớp: …..lớp (2 lá, 2 chồi, 1 mầm, 1 nhóm trẻ)
– Tổng số trẻ: …… trẻ nữ (bán trú 100%)
Trong 5 học mới đây, nhà trường đã phát động cho toàn thầy cô giáo tham dự xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, xây dựng trường học an toàn, gần gũi… Bản thân tôi cũng đã hăng hái tham dự các phong trào. Tuy nhiên, tôi chỉ mới nắm bắt được những nội dung căn bản nên lúc bắt tay vào tiến hành thì còn rất bối rối và kết quả đạt được chưa cao. Vì là 1 thầy cô giáo nhiệt huyết với nghề nên kết quả đấy làm tôi rất trằn trọc và tự đặt câu hỏi cho mình: xây dựng môi trường gần gũi, môi trường tâm lý – xã hội là xây dựng thế nào? Phcửa ải vận dụng những biện pháp gì? Thực hiện bằng cách nào và kể từ đâu?… Sau lúc tham dự lớp bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp thầy cô giáo măng non hạng III tôi “bắt gặp” được chuyên đề “xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trong giáo dục trẻ ở trường măng non” với sự truyền đạt, chỉ dẫn, san sớt của Tiến sĩ Phạm Phước Mạnh – giảng sư khoa tâm lý trường Đại học sư phạm thị thành Hồ Chí Minh tôi đã có thân xác định được “hướng đi” cho mình trong việc xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non đạt hiệu quả và tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn lúc 5 học mới 20……..mở đầu.
Căn cứ vào tình hình thực tiễn của nhà trường, của bản thân và kết quả họat động của những 5 mới đây tôi cũng đã xác định được 1 số thuận tiện và gian nan lúc tiến hành chuyên đề này.
* Thuận lợi:
– Được sự chỉ huy, ân cần, phân phối tham mưu của các ngành chỉ đạo, đặc trưng là Ban giám hiệu nhà trường.
– Được sự ân cần của phụ huynh học trò, của số đông.
– Bản thân tôi là 1 thầy cô giáo chủ động, hăng hái trong việc tìm tòi, học hỏi và đã được tham dự bồi dưỡng chuyên đề “xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong giáo dục trẻ ở trường măng non”.
* Khó khăn:
– Giáo viên chưa có nhiều kĩ năng trong việc xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non.
– Kĩ năng giao ứng cứu xử của bản thân thầy cô giáo chưa khôn khéo, nhanh nhạy lúc có cảnh huống bất thần xảy ra.
– Chưa thu được sự cộng tác, phối hợp của 1 vài phụ huynh và thành viên trong nhà trường trong việc xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non.
3. Gicửa ải pháp:
Xuất phát từ những lý do và thực trạng nêu trên và phê chuẩn việc tham dự lớp bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp chỉ mất khoảng mới đây tôi đã nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non nhằm tăng lên chất lượng và giáo dục trẻ. Tôi đã nghiên cứu, sưu tầm và đưa ra những biện pháp xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non như sau:
Gicửa ải pháp 1: Xây dựng môi trường tâm lý – xã hội mang thuộc tính của môi trường gia đình
Trước lúc tới trường măng non, trẻ con được sống trong môi trường gia đình, được , khuyên bảo bằng tình cảm mến thương cật ruột. Điều này ko có được ở trường măng non. Tuy nhiên, với tác dụng, nhiệm vụ của trường măng non là nuôi dưỡng, , giáo dục trẻ con nhằm giúp trẻ con tạo nên những nhân tố ban sơ của tư cách và sẵn sàng cho trẻ vào lớp 1 (Điều lệ trường măng non), phát huy hết những tiềm năng đang nảy nở ở trẻ thì nhà trường cần xây dựng môi trường tâm lý – xã hội mang thuộc tính của môi trường gia đình. Đấy là:
– Môi trường an toàn: Môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non cần bảo đảm trẻ được , giáo dục bằng tình thương cảm yêu. Khi được sự ân cần của tất cả các thành viên trong nhà trường, đặc trưng là cô giáo sẽ tạo ra ở trẻ sự an toàn cả về thể chất lẫn tâm lý. Nhờ đấy trẻ mới cảm thấy yên tâm, mới vui mừng hồn nhiên, mới mạnh dạng dò xét, thí điểm, khám phá toàn cầu bao quanh. Hoạt động trong môi trường tâm lý – xã hội nhà trường mang đặc biệt văn hóa gia đình, trẻ con được người béo , giáo dục bằng tình thương cảm yêu, được thỏa mãn đầy đủ và kịp thời, có lí mọi nhu cầu để tăng trưởng. Đây là điều kiện tiên quyết để trẻ trưởng thành.
Thí dụ: Khi trẻ lần trước nhất bước chân vào trường măng non “ngày trước nhất đi học” nhất là trẻ ở thế hệ vườn trẻ và mầm trẻ sẽ rất là bỡ ngỡ, lo âu và phần nhiều trẻ sẽ khóc vì có thể nói đây là lần trước nhất trẻ rời xa gia đình, rời xa “môi trường an toàn” vốn có. Nếu cô giáo ko ân cần, vỗ về trẻ sẽ cảm thấy ko an toàn và sẽ quấy khóc nhiều hơn. Trẻ cần được cô giáo ân cần, vỗ về, , chuyện trò dần dần trẻ sẽ quen với môi trường mới và ko còn quấy khóc nữa. Vì khi đấy trẻ đã cảm thu được ở trường cũng được an toàn như ở gia đình.
– Môi trường phong phú: Trường măng non có nhiều thành viên như hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, thầy cô giáo, viên chức, trẻ con, phụ huynh của trẻ tạo ra các mối quan hệ phong phú, nhiều chủng loại giữa nhiều đứa ở những độ tuổi và lứa tuổi không giống nhau. Trong môi trường phong phú các mối quan hệ này, trẻ có nhiều thời cơ để giao tiếp, học hỏi, mở mang khiến thức cũng như đoàn luyện các kĩ năng sống cấp thiết (sự tự tin, sự tò mò, bản lĩnh thông minh, kĩ năng cộng tác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xử lý cảnh huống, kĩ năng giữ an toàn tư nhân)
Thí dụ: Khi bước vào môi trường phong phú các mối quan hệ như trường măng non trẻ sẽ trông thấy, nghe thấy và học được các luật lệ xử sự như thế nào cho phù hơp. Khi thấy cô giáo trò chuyện với 3 mẹ mình trẻ sẽ nhìn thấy luật lệ trong giao tiếp như kính trọng, vui mừng, linh hoạt. Trẻ nắm được cách giao tiếp với người béo là phải kính trọng, lễ độ hoặc là lúc chơi với bạn phải biết kết đoàn, ko giành giật hay tự tiện lấy đồ của bạn, biết nói lời cám ơn và xin lỗi lúc cấp thiết…
Để thích hợp với đặc điểm tăng trưởng nhận thức của trẻ măng non là nhận thức cảm tính, trường măng non luôn sẵn có đồ dùng đồ chơi, dụng cụ trực giác như tranh ảnh, mẫu hình, băng hình. Đặc trưng các đồ dùng sinh hoạt như ca cốc, bát thìa, bàn ghế, cây trồng, vật nuôi… đều được thầy cô giáo sử dụng trong công đoạn , giáo dục giúp trẻ mở mang vốn hiểu biết về tên gọi, đặc điểm, tác dụng/lợi ích, cách sử dụng/cách chúng. Cùng lúc tạo nên ở trẻ thái độ đúng mực cũng như các lề thói tốt, các hành vi hăng hái trong xử sự với không gian sống như biết giữ giàng đồ dùng đồ chơi, biết , bảo vệ vật nuôi, cây trồng…
Thí dụ: Hiện nay chúng ta đang tiến hành chuyên đề “lấy trẻ làm trung tâm” trong mọi hoạt động, hăng hái cho trẻ hoạt động trải nghiệm khám phá chứ ko “giam cầm” trẻ trong lớp với 4 bức tường vì lý do “trẻ ra sân khó quản”. Trẻ con rất thích khám phá bao quanh, đặc trưng là những điều mới lạ. Thí dụ lúc cho trẻ trải nghiệm về các cảm quan chúng ta sẽ cho trẻ được tri giác qua tranh ảnh, vật thật… trẻ được tận mắt trông thấy, được dùng mũi để ngửi, dùng tai để nghe, dùng tay để sờ, được dùng mồm để nếm, được cảm nhận sẽ kích thích tất cả các cảm quan tạo điều kiện cho nhận thức của trẻ được mở mang. Kế bên đấy thầy cô giáo luôn nhắc nhở, giáo dục trẻ các hành vi hăng hái như quét dọn sau lúc chơi xong, nhặt rác bỏ vào thùng rác, ko nghịch phá vật dụng, con vật gian nguy…
+ Môi trường nhưng mà người béo , giáo dục trẻ bằng giao tiếp trực tiếp và thường xuyên: Ở mọi nơi, mọi khi, trong mọi cảnh huống của cuộc sống, người béo đều có thể khuyên bảo, khuyên bảo trẻ. Việc nuôi và dạy trẻ trong môi trường tâm lý – xã hội nhà trường cần được liên kết 1 cách khôn khéo và thiên nhiên.
Thí dụ: Trong giờ tổ chức cho trẻ ăn thầy cô giáo có thể chuyện trò, khuyên bảo, chỉ dẫn trẻ các kĩ năng cấp thiết như kĩ năng tự dùng cho (biết lấy chén, lấy muỗng, biết lấy ghế ngồi vào bàn, rửa tay, lau mặt trước và sau lúc ăn xong…), kĩ năng giao tiếp, xử sự (biết mời cô và các bạn lúc ăn, biết cám ơn lúc cô chia cơm, biết xin lỗi lúc lỡ làm đổ cơm của bạn, ko lấy đồ ăn của bạn…). Trong tổ chức giờ ngủ, thầy cô giáo có thể cho trẻ nghe những điệu hát, vần thơ hay để trẻ có thể cảm thu được tinh hoa văn hóa 1 cách nhẹ nhõm, thiên nhiên. Hay trong tổ chức hoạt động dạo chơi ngoài trời lúc có bạn lỡ trượt chân té ngã tận dụng cảnh huống đấy cô giáo dục trẻ biết tương trợ bạn, ko chòng ghẹo bạn và xem bạn có bị trầy xướt gì ko. Qua đấy cô giáo có thể nói cho trẻ biết lúc bị trầy xướt thì nên làm thế nào….
+ Môi trường tự do: Trong môi trường tâm lý – xã hội ở nhà trường, tất cả trẻ con đều được tự do hoạt động, được tạo thời cơ để tăng trưởng tối ưu những tiềm năng sẵn có. Mỗi đứa trẻ là 1 con người biệt lập, có đặc điểm riêng về thể chất và tâm lý, mỗi trẻ có cách tiếp thu kinh nghiệm theo cách riêng, vận tốc riêng của mình. Những nét riêng này cần được tôn trọng và khuyến khích để trẻ tăng trưởng 1 cách độc lập và chủ động.
Môi trường tâm lý – xã hội này giúp cho trẻ tự do hoạt động do chính mình và vì chính mình. Khi trẻ hoạt động, người béo khuyến khích, khích lệ, tạo thời cơ cho trẻ trải nghiệm, khám phá cuộc sống, mày mò, ân cần, san sớt, tương trợ lẫn nhau lúc cấp thiết. Do đấy, mỗi trẻ đều được phát huy bản lĩnh riêng của mình và tạo nên ở trẻ tinh thần kỷ luật, ý thức nghĩa vụ với bản thân, với những người bao quanh, với môi trường nhưng mà trẻ đang sống.
Tuy nhiên trên thực tiễn thì chúng ta vẫn còn “ngại” chỉnh sửa, vẫn còn áp đặt trẻ và dạy theo những thứ chúng ta sẵn có chứ chưa đích thực dạy theo những gì trẻ hứng thú. Ngay trong công đoạn tổ chức hoạt động chúng ta vẫn áp đặt câu giải đáp, ý nghĩ của trẻ. Thí dụ: lúc dạy trẻ mày mò về con mèo chúng ta vẫn thường áp đặt trẻ phải giải đáp con mèo sống trong gia đình, đẻ con, có 4 chân, kêu meo meo, thích ăn cá và bắt chuột… chứ chúng ta chưa ân cần tới mong muốn của trẻ “vì sao con mèo thích bắt chuột? Vì sao nó ngủ ngày? Vì sao nó đi rất êm?… Hoặc lúc trẻ ra sân hoạt động thầy cô giáo thường cấm đoán ko cho trẻ chạy nhảy, hò la. Hay lúc trẻ phát hiện có tổ kiến, con sâu thì chúng túm tụm lại nhưng mà ko theo ý của cô giáo thì khi đấy cô giáo sẽ tới bắt trẻ phải chuyển động tới chỗ khác theo ý cô nhưng mà ko ân cần tới nhu cầu của trẻ là đang muốn mày mò vể con sâu hay tổ kiến đấy.
+ Môi trường có sự tôn trọng, tin cậy lẫn nhau: Trong môi trường tâm lý – xã hội lành mạnh, người béo khái quát, cô giáo và bè bạn đều tôn trọng sự lự chọn hoạt động của trẻ, luôn đặt niềm tin nơi trẻ, tin rằng trẻ có bản lĩnh chấm dứt và chấm dứt tốt những hoạt động nhưng mà trẻ được tự do chọn lọc. Niềm tin của người béo, của bè bạn là động lực mạnh bạo xúc tiến trẻ chấm dứt nhiệm vụ theo cách tốt nhất có thể với bản lĩnh của trẻ.
Thí dụ: Trong 5 học mới rồi lớp tôi có 1 nhỏ thừa cân và đang sẵn sàng chạm mức to phì. Để giảm thiểu sự tăng cân cho nhỏ tôi đã chủ động phối hợp với gia đình chỉnh sửa 1 chút trong cơ chế ăn và tập dượt cho nhỏ. Tôi thường cho nhỏ ăn nhiều rau hơn các bạn khác, cắt cơ chế sữa ở nhà chỉ uống 1 cốc sữa vào sau bữa ăn sáng tại trường, tôi thường tạo thời cơ cho nhỏ tham dự giúp cô quét dọn bàn ghế, tăng mạnh chuyển động hơn các bạn trong các hoạt động. Tuy nhiên trong 2 tháng đầu nhỏ vẫn lên cân nhưng mà với lòng tin nhỏ sẽ giảm được với sự bền chí của mình thì tới tháng thứ tư nhỏ đã ko tăng cân nữa, tới cuối 5 thì chiều cao tăng nhưng mà cân nặng vẫn giữ mức thế là nhỏ ko còn nằm trong kênh sức khỏe cần phải theo dõi. Hay trong giờ cộng đồng dục thì có 1 vài nhỏ rất nhút nhát ko dám tham dự chuyển động cùng các bạn lúc tiến hành 1 số bài tập như choài, trèo nhưng mà với lòng tin của mình đặt vào trẻ tôi đã giúp trẻ mạnh dạng, tự tin tham dự vào hoạt động cùng các bạn.
+ Môi trường khuyến khích trẻ hăng hái, chủ động trong họat động: Với đồ dùng đồ chơi phong phú, nhiều chủng loại, nhiều màu sắc được sắp xếp trên những chiếc giá vừa tầm với trẻ. Với thái độ linh hoạt, vui mừng, với hành vi, cử chỉ nhẹ nhõm, ánh mắt trìu mến của cô giáo, sự động viên của bè bạn, trẻ đích thực được sống trong môi trường an toàn, phong phú. Điều này làm phát sinh ở trẻ những cảm xúc hăng hái và lòng khát khao được tìm tòi, khám phá, trải nghiệm.
Thí dụ: Khi cho trẻ mày mò về nghề xây dựng nhưng mà thầy cô giáo sẵn sàng nhiều đồ dùng đồ chơi liên can tới nghề như cái bay, gạch, cát, xi măng, đồ bảo hộ, tranh ảnh các công trình, video cách trộn hồ, cách xây gạch… sẽ giúp trẻ đơn giản tiếp nhận hơn nghề xây dựng là nghề như thế nào, cần có những đồ dùng gì, tạo ra những thành phầm ra sao… chứ ko chỉ thuần tuý ta chỉ hỗ trợ cho trẻ cái bay và gạch xây dựng nhưng mà trẻ có thể hiểu hết về nghề xây dựng.
Giáo viên phải cho trẻ xúc tiếp với đồ dùng đồ chơi chứ chẳng phải làm để trưng bày.
Thí dụ: Khi thầy cô giáo tổ chức hoạt động cho trẻ in, vẽ hoa quả bằng rau củ ko chỉ sẵn sàng thuốc nước, rau củ nhưng mà thầy cô giáo nên sẵn sàng thêm màu lông, màu sáp, giấy màu… để trẻ có thể xúc tiếp và sử dụng nhiều loại màu không giống nhau để hình thành bức tranh. Và trong công đoạn trẻ tiến hành thầy cô giáo thường xuyên khêu gợi, khích lệ, cổ vũ trẻ thì trẻ sẽ tạo ra được những thành phầm có tính mới lạ, lạ mắt hơn.
Để có thể xây dựng môi trường nhà trường nhân bản và gần gũi, thầy cô giáo cần có 1 số kĩ năng như: biết lắng tai trẻ, có lời nói và cử chỉ trình bày sự ân cần, tôn trọng trẻ, biết san sớt và thấu hiểu những vấn đề trẻ đang gặp phải trong học tập và cuộc sống, công bình với trẻ, ko phân biệt đối xử, tạo điều kiện để trẻ biểu thị bản thân, biết cách cổ vũ và khích lệ trẻ để trẻ thích ứng với môi trường lớp học, vượt qua những trở lực…
Gicửa ải pháp 2: Xây dựng hệ thống nội quy, luật lệ giao tiếp, xử sự trong trường măng non
Để xây dựng được môi trường tâm lý – xã hội mang thuộc tính của môi trường gia đình, môi trường tâm lý – xã hội lành mạnh, an toàn, gần gũi trong trường măng non thì chúng ta cũng cần phải xây dựng 1 hệ thống nội quy, luật lệ xử sự, các mối quan hệ và hành vi hăng hái trong trường măng non.
Việc xây hệ thống nội quy, luật lệ xử sự phải dựa trên ý thức hiệp tác, có những nội quy, luật lệ chung và riêng thích hợp cho từng nhân vật nhưng mà phải dựa vào các nhân tố như sau:
– Tôn trọng tư cách nhân vật giao tiếp: tức là phải coi nhân vật giao tiếp là 1 tư nhân, 1 con người, 1 chủ thể với đầy đủ các quyền vui chơi, học tập, lao động… với những đặc biệt tâm lý biệt lập, họ có quyền đồng đẳng với mọi người trong các mối quan hệ xã hội. Trong xã hội, vị thế có không giống nhau nhưng mà tư cách là đồng đẳng. Nhu cầu được tôn trọng là nhu cầu đặc biệt của con người. Tôn trọng tư cách sẽ giúp họ linh hoạt, tự tin trong giao tiếp. Tôn trọng người khác là tôn trọng chính mình.
Thí dụ: Trong lớp học của chúng ta có những đứa trẻ gia đình có điều kiện nên khi nào cũng tinh tươm, sạch bong còn có những đứa trẻ gia đình gian nan hơn 1 chút, nhìn bề ngoài có yếu đuối hơn ko vì vậy nhưng mà ta cứ vấn vít bên đứa trẻ tinh tươm kia nhưng mà quên đứa trẻ có gia đạo gian nan. Chính những đứa trẻ yếu đuối, gian nan đấy mới là nhân vật nhưng mà chúng ta cần phải ân cần nhiều hơn chứ chẳng phải bỏ mặc.
– Thiện ý trong giao tiếp: Trong các mối quan hệ xã hội đặc trưng là trường măng non rất cần sự nhã ý. Thiện ý trong giao tiếp tức là luôn nghĩ tốt, luôn tạo điều kiện thuận tiện cho nhân vật giao tiếp. Cung cách xử sự trình bày cái tâm của con người, người có tâm nhân từ dễ cảm thông, san sớt với xấu số, không may, vui với thành công của người khác, mong muốn người khác tân tiến, thành đạt. Cái tâm nhân từ giúp chủ thể thiết lập được các mối quan hệ tốt đẹp với những người bao quanh và ngược lại sức có tâm ko nhân từ thường ích kỉ, thiếu tôn trọng người khác, ko biết thông cảm, san sớt, hay đố kỵ với thành công của người khác.
– Không lo nghĩ trong giao tiếp: tức là trong giao tiếp chủ thể ko bao giờ được hưởng dụng nhân vật giao tiếp cả về vật chất và ý thức. Đây là điều kiện để xây dựng, duy trì các mối quan hệ dài lâu, tốt đẹp với những người bao quanh.
– Đồng cảm trong giao tiếp: tức là chủ thể giao tiếp biết đặt mình vào địa điểm của nhân vật giao tiếp, vào tình cảnh, vào thế hệ để thông cảm, san sớt thú vui, nổi buồn của họ. Suy nghĩ, thái độ, hành động của mỗi người là không giống nhau. Nếu ta cứ một mực bắt người khác phải theo mình khó tránh khỏi những bất bình. Đồng cảm giúp nhân vật giao tiếp linh hoạt hơn và tạo được niềm tin, tạo ra sự thân cận, thân tình, tạo ra cảm giác an toàn và hứng thú lúc giao tiếp với nhau.
Thí dụ: Trong lớp có 1 vài phụ huynh thường đưa con đi học rất sớm hoặc đón rất muộn nhưng mà ko vì vậy nhưng mà ta cáu gắt, gian nan với trẻ với phụ huynh nhưng mà phải biết mày mò lý do và cảm thông cho họ tương tự mới kiến lập được mối quan hệ tốt và tạo được cảm giác an toàn cho trẻ.
Ở đơn vị tôi cũng đã xây dựng những bảng nội quy cho toàn bộ cán bộ, thầy cô giáo, viên chức và phụ huynh của trường không những thế còn mang thuộc tính chung chung chưa được chi tiết hóa như trong biện pháp đã nêu. Nhà trường xây dựng 1 bảng nội quy dành chung cho phụ huynh và trẻ chỉ thuần tuý là quy định giờ giấc đón – trả trẻ, đồng phục, tư trang của trẻ lúc vào trường, nhân vật phụ huynh được đón trẻ chứ chưa xây dựng nội quy, luật lệ xử sự, giao tiếp. Sau lúc được mày mò chuyên đề, với cương vị là 1 thầy cô giáo – 1 tổ trưởng chuyên môn căn cứ vào Quy định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/04/2008 quy định về đạo đức nhà giáo; căn cứ quyết định số 03/2007/QĐ-BNV luật lệ xử sự của cán bộ công chức nhân viên làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương; căn cứ vào Điều lệ trường măng non tôi cũng đã mạnh dạng xây dựng được bảng nội quy, luật lệ giao tiếp, xử sự với từng nhân vật trong trường măng non và tôi sẽ tham vấn Ban giám hiệu bổ sung, biên tập và vận dụng trong 5 học mới như sau:
– Nội quy, luật lệ giao tiếp, xử sự của thầy cô giáo với trẻ măng non:
+ Mến thương trẻ như con em của mình.
+ Giao tiếp, xử sự chân tình, nhã ý. Biết lắng tai và cùng san sớt những gian nan trong cuộc sống. Không phân biệt đối xử, công bình với trẻ. Giúp đỡ, ân cần trẻ có tình cảnh đặc trưng.
+ Thỏa mãn cân đối các nhu cầu căn bản của trẻ (nhu cầu an toàn, tự khẳng định, vui chơi, giao tiếp, nhu cầu tình cảm…). Mềm dẻo nhưng mà cương quyết đưa trẻ vào nền nếp nhà trường.
…………………
2. Bài thu hoạch thầy cô giáo măng non hạng 3 số 2
Bài thu hoạch cuối khóaLớp bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp hạng 3
Tên đề tài: “Đạo đức của thầy cô giáo măng non trong xử lí cảnh huống sư phạm ở trường măng non“.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Giáo dục măng non là cấp học trước nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền tảng cho sự tăng trưởng về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ con. Việc thừa hưởng sự và tăng trưởng tốt từ thế hệ ấu thơ sẽ góp phần tạo nền tảng cứng cáp cho sự tăng trưởng trong mai sau của trẻ. Những kĩ năng nhưng mà trẻ được tiếp nhận qua chương trình giáo dục măng non sẽ là nền móng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ, là nguồn nhân công chất lượng cao cho non sông.
Trẻ được béo lên tăng trưởng toàn diện là nhờ sự của gia đình nhà trường. Mẹ là môi trường học trước nhất của con và cô là môi trường học thứ 2 của con sau mẹ, con mãi là niềm hạnh phúc của mẹ. Là niềm tin của cô giáo là mai sau của dân tộc, là 1 công dân của toàn cầu mai sau. Việc bảo vệ và giáo dục trẻ ngày nay, đang là nghĩa vụ của mỗi gia đình, nhà trường và của toàn xã hội, vậy phải làm như thế nào đây để chúng ta có được những người công dân bổ ích cho xã hội đấy là nhiệm vụ của mỗi chúng ta. Những người béo phải biết chăm lo, bồi dưỡng và tăng trưởng trẻ con thành những con người toàn diện.
Đối với trẻ măng non cô giáo phải là người vừa dạy, vừa dỗ, vừa là người mẹ vừa là bạn cùng chơi với trẻ, để từ đấy mới có những giải pháp giáo dục phù hợp với từng nhân vật trẻ mang đến hiệu quả tốt nhất cho trẻ, để từ đấy mới có những giải pháp giáo dục phù hợp với từng nhân vật trẻ mang đến hiệu quả tốt nhất cho trẻ.
Tuy nhiên vẫn còn còn đó nhiều giảm thiểu trong công việc giáo dục măng non. Tiêu biểu là các vụ bạo hành trẻ con đã bị tạp chí bóc trần vừa qua, đã làm mất đi hình tượng 1 người mẹ hiền trong mắt của trẻ và phụ huynh.
Chính vì thế qua công đoạn học tôi thấy tâm đắc nhất với chuyên đề : “Đạo đức của thầy cô giáo măng non trong việc xử lý các cảnh huống sư phạm măng non”.
Chuyên đề này giúp tôi thông suốt hơn về các định nghĩa cảnh huống sư phạm trong nhóm, lớp học măng non. Hiểu đạo đức của thầy cô giáo măng non và cách biểu lộ hành vi đạo đức trong việc xử lý các cảnh huống sư phạm trong nhóm, lớp học măng non. Thực hành cách biểu lộ hành vi đạo đức trong việc xử lý các cảnh huống sư phạm thực tiễn.
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Giáo dục măng non là nền móng của hệ thống giáo dục quốc dân, Điều 23 mục 1 chương 2 Luật giáo dục có chỉ rõ “Nội dung giáo dục măng non là phải đảm bảo thích hợp với sự tăng trưởng tâm sinh lý của trẻ con, hài hoà giữa nuôi dưỡng, và giáo dục giúp trẻ con tăng trưởng hợp lý khoẻ mạnh, nhanh nhảu biết kính trọng, yêu quý, lễ độ với người béo, bè bạn,…thực thà, bạo dạn, hồn nhiên thích thú cái đẹp, ham hiểu biết, thích đi học. Điều 24 có quy định “Chương trình giáo dục măng non trình bày tiêu chí giáo dục măng non, chi tiết hoá các đề nghị về nuôi dưỡng, , giáo dục trẻ con ở từng độ tuổi, quy định việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ tăng trưởng về thể chất, tình cảm, trí óc, thẩm mĩ chỉ dẫn phương pháp bình chọn sự tăng trưởng của trẻ con ở tuổi măng non.
Trong giáo dục ngày nay muốn tiến hành tốt tiêu chí và nội dung trên, hơn người nào hết, những thầy giáo, cô giáo cần tinh thần được nghĩa vụ béo lao của mình để từ đấy ko dừng bồi dưỡng, tăng lên những nhân phẩm đạo đức, kĩ năng xử lý cảnh huống sư phạm, chấm dứt tốt sự nghiệp trồng người, xứng đáng là tâm gương sáng để học trò noi theo.
III. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Qua 12 5 công việc tôi nhận thấy: Trẻ măng non rất nghịch ngợm, hiếu động nhưng mà người béo thường thấy ngộ nghĩnh, cute. Song kế bên đấy còn có những trẻ có biểu lộ khác lạ khiến cô giáo rất trằn trọc… đấy là trẻ có những biểu lộ khác lạ ko giống các bạn khác ở trong lớp hay còn gọi là trẻ “cá biệt” những trẻ này thường có những biểu lộ:
– Trẻ nhút nhát, e lệ, hay khóc ko thích tham dự vào các hoạt động cùng bạn, lười ăn, phản ứng chậm .
Trẻ quá hiếu động, tự do cười nói trong giờ học, giờ ăn, ko tuân theo sự chỉ dẫn của cô, hay vứt đồ chơi và giành giật đồ chơi với bạn, ko nghe lời cô giáo ông bà, ba má.
Trước hiện tượng lớp học như thế, bản thân tôi nhận thấy thiết yếu giải pháp nào đấy với mục tiêu làm giảm, giảm thiểu tới mức cho phép các hành vi nhưng mà trẻ “cá biệt” gây ra, làm bất biến nền nếp của lớp học tạo điều kiện cho trẻ có tính nhút nhát e lệ phát huy được tính hăng hái hoà chung với ko khí học tập của lớp, giúp trẻ nhìn thấy vẻ ngoài sai lầm của mình với phương châm “dạy trẻ từ thủa còn thơ” để trẻ cá biệt nói riêng trẻ măng non khái quát có bước đệm sau này trong việc tạo nên tư cách con người mới xuất sắc.
Trong giáo dục ngành học sư phạm măng non, các cảnh huống thường xuyên xảy ra và muôn màu, muôn vẻ: Khi thì do tranh chấp của trẻ và điều kiện sống, lúc thì yêu cầu của người béo bao quanh với bản lĩnh và tính tình của trẻ, có lúc lại do tranh chấp của chính trẻ con với nhau trong hoạt động.
Cảnh huống trong giáo dục măng non cực kỳ phong phú và nhiều chủng loại bởi sự tăng trưởng của trẻ rất không giống nhau. Mỗi cháu 1 tính tình riêng, 1 bản lĩnh riêng, cảnh huống lại xảy ra trong những thời khắc và ko gian không giống nhau. Không thể có 1 biện pháp nào chung cho mọi đứa trẻ vì mỗi nhỏ là 1 con người biệt lập.
Thời gian qua, ở 1 vài tỉnh, thành trong nước liên tục xảy ra những vụ việc thầy cô giáo măng non bạo hành trẻ bé, gây tâm lý căm thù trong xã hội. Trong thực tiễn tại trường tôi công việc, đôi lúc thầy cô giáo chưa kìm chế được xúc cảm nên vẫn còn hiện trạng la mắng, quát tháo học trò.
Thành ra, vấn đề tăng lên chuẩn mực đạo đức của người dạy và trông trẻ đang được ngành Giáo dục Cà Mau nói riêng và cả nước khái quát cực kỳ ân cần. Với nhiều giải pháp quyết liệt của các cơ sở giáo dục măng non trên khu vực tỉnh, hàng ngũ thầy cô giáo măng non đã và đang dần phấn đấu tự hoàn thiện bản thân, tạo niềm tin đối với các bậc phụ huynh.
* Những nguyên cớ dẫn tới những thực trạng đấy là:
– GV chưa hiểu trẻ và phục vụ nhu cầu cho trẻ trong các hoạt động ở trường măng non.
– GV đôi lúc ko kìm chế được xúc cảm nên tác động tới trẻ.
– Trẻ trong lớp quá đông cũng tạo nhiều sức ép cho GV, GV sẽ thường xuyên bị căng thẳng, từ đấy nhưng mà tâm cảnh ko tốt.
– Do khối lượng công tác quá nhiều, sức ép của công tác khiến GV cảm thấy mỏi mệt sẽ tác động nhiều tới giao tiếp với trẻ.
– GV có quan niệm sai trái lúc cho rằng trẻ tuổi này rất bướng, rất lỳ, và phải giáo dục nghiêm khắc, phải trách phạt, la mắng cho trẻ biết sợ, biết chừa, thường cấm đoán và chỉ mong trẻ biết nghe lời.
Chính vì thế Khả năng truyền đạt cho trẻ măng non phải được trau dồi liên tiếp. Để tạo điều kiện cho cô giáo măng non đỡ bối rối lúc tìm các biện pháp cho các cảnh huống có thể xảy ra lúc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ,
IV. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP:
Biện pháp 1: Đạo đức phải có của người GVMN trong giao ứng cứu xử với trẻ măng non:
– Trong , giáo dục trẻ GV cần phải xoành xoạch mến thương trẻ như con, khôn khéo và thỏa mãn những nhu cầu căn bản của trẻ.
– Giáo viên cần dành mọi nghĩ suy, hành động ưu ái cho trẻ, vì trẻ bảo đảm cho trẻ tăng trưởng tối đa những tiềm năng vốn có.
– Giao ứng cứu xử với trẻ bằng những hành vi cử chỉ dịu hiền, nhẹ nhõm, linh hoạt, vui mừng tạo cho trẻ 1 cảm giác an toàn, bình an, thoải mái được lúc tới trường.
– Tạo ra 1 bầu ko khí gần gũi, linh hoạt trong suốt công đoạn và giáo dục trẻ là điều rất quan trọng.
– Giáo viên cần hiểu trẻ, nên tìm những điểm cộng, điểm hăng hái của trẻ để nêu gương, cổ vũ trẻ tạo cho trẻ có được sự tự tin, phấn chấn.
– Cần tôn trọng trẻ, lắng tai quan điểm của trẻ và chuẩn bị trả lời mọi thắc mắc của trẻ, ko nên lờ đi trước quan điểm của trẻ.
– Giáo viên xử sự công bình với tất cả trẻ, ko phân biệt, so sánh trẻ này với trẻ khác
Biện pháp 2: Phcửa ải có kĩ năng trong xử lí cảnh huống:
– Trước mỗi cảnh huống, GV cần tĩnh tâm ko nên vội vã, hot nẩy.
– Cần linh động trong cách xử lý cảnh huống với trẻ, ko nên cứng nhắc vì mỗi trẻ là 1 cá thể biệt lập, 1 tính cách và thị hiếu không giống nhau.
– Thường xuyên sinh hoạt chuyên môn, cán bộ điều hành có thể nêu ra các cảnh huống để thầy cô giáo khắc phục.
– Chỉ dẫn thầy cô giáo cách phân tách cảnh huống dựa trên đặc điểm của trẻ từ đấy đưa ra cách khắc phục cảnh huống trong giao tiếp, xử sự với trẻ mang tính phần mềm cao.
Biện pháp 3: Đoàn luyện hành vi/ lề thói đạo đức của GVMN trong các cảnh huống giao tiếp, xử sự với trẻ măng non:
– Chấp hành tiến hành mọi chủ trương cơ chế, quy định của Ngành, của bậc học.
– Cùng cộng đồng thầy cô giáo trong nhà trường xây dựng các quy định, đề nghị về đạo đức trong các mối quan hệ với đồng nghiệp, với trẻ, với phụ huynh.
– Phcửa ải là tấm gương sáng, mẫu mực về cá tính trước cộng đồng từ việc đi đứng, nói năng điềm đạm, ăn mặc giản dị, đúng đắn; cách làm việc khoa học.
– Tạo ra 1 bầu ko khí gần gũi, linh hoạt, công bình cùng san sớt, ân cần, tương trợ lẫn nhau là điều rất quan trọng.
– Không dừng tăng lên nhận thức của GVMN về đặc dằn bụng sinh lý của trẻ
– Tổ chức luận bàn, bàn luận về những đặc điểm đặc biệt của trẻ từ đấy cùng nhau đưa ra những giải pháp trong việc giao tiếp, xử sự với trẻ đạt hiệu quả như mong muốn.
Biện pháp 4: Bảo đảm điều kiện làm việc, môi trường làm việc để giảm sức ép đối với thầy cô giáo măng non
Nhiều người nghĩ rằng làm nghề thầy cô giáo măng non dễ chịu và tự do, nhưng mà thực tiễn hoàn toàn chẳng phải tương tự, để lo cho từng bữa ăn giấc ngủ của trẻ, thầy cô giáo măng non phải chịu rất nhiều sức ép. Người thầy cô giáo măng non cũng là người phải xử lý trực tiếp những cảnh huống hay gặp của trẻ bé độ tuổi từ 3 tới 5 như quậy phá, lười ăn, hay mắc tín hiệu của bệnh tự kỷ ….
Hiện trạng quá tải số lượng trẻ tính trên 1 thầy cô giáo đang là vấn đề gây nhiều nhức nhói cho xã hội, và vấn đề này cũng là 1 trong những điều gây sức ép nhất đến các thầy cô giáo măng non. Việc điều hành quá nhiều trẻ bé, từ việc soạn giáo án, chăm lo, tổ chức trò chơi, lên bảng theo dõi công đoạn học tập, chú ý đến tâm lý từng nhỏ khiến các cô luôn phải bận rộn suốt cả ngày, sức ép về thời kì và nghĩa vụ là cực kỳ béo.
Giáo viên măng non ko chỉ là 1 cô giáo thuần tuý nhưng mà chừng như thầy cô giáo măng non giống như người mẹ hiền, người cha làm tất cả cho cả công tác từ bé nhất tới béo nhất, do vậy cần có quan điểm đề nghị với ban giám hiệu nên tạo cho cô giáo 1 môi trường làm việc thỏa mái, ko áp đặt, gò bó, tạo môi trường gần gũi hòa đồng lẫn nhau, cho cô và trẻ cùng trải nghiệm thực tiễn, thăm quan, tham dự vào nhiều phong trào lễ hội thân cận với tự nhiên
Biện pháp 5: Cổ vũ, đãi ngộ và suy tôn người thầy cô giáo măng non:
– Cán bộ điều hành thường xuyên ân cần tới tâm sự, ước vọng của thầy cô giáo măng non và chuẩn bị tương trợ, khích lệ lúc cấp thiết.
– Cần bảo đảm các cơ chế cơ chế cho thầy cô giáo măng non như lợi quyền của công nhân trong việc hưởng lương và phụ cấp, cơ chế nghỉ ốm, nghỉ thai sản….
– Hàng 5 trong các hội nghị cấp quận/huyện,phường/xã, cấp trường vinh danh những GV có trình độ chuyên môn và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục.
– Thực hiện tốt công việc tuyên truyền cho phần đông quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội trên khu vực về vai trò quan trọng của người GVMN trong sự nghiệp đổi mới ngày nay.
* Sau công đoạn học tập bản thân tôi đã thực hành những lý thuyết đã học vào thực tế công việc của mình và đã khắc phục thành công 1 số cảnh huống thường gặp trong công việc của mình như sau:
Cảnh huống 1:
Trong giờ vẽ theo mẫu (vẽ bông hoa) chủ đề “Thực Vật”, mọi trẻ đều say sưa vẽ, nhỏ Thành ngồi im ko vẽ, Cô giáo tới gần và hỏi: “Sao Thành ko vẽ đi, các bạn vẽ rất đẹp và gần xong rồi”. Nhỏ giải đáp: “Con ko thích vẽ bài này”.
Cách khắc phục:
– Cô thử hướng trẻ vào nội dung bài vẽ giống các bạn: “cô thấy Thành vẽ rất đẹp, đẹp hơn nhiều bạn trong lớp. Con vẽ nhé nếu con thấy khó cô sẽ vẽ cùng con”.
– Nếu Thành vẫn ko vẽ, cô sẽ giúp trẻ bằng cách gợi ý hoặc giảng giải trình tự hoặc thể hiện mẫu… tùy theo bản lĩnh của trẻ.
– Nếu trẻ vẫn nhất mực ko vẽ, cô hỏi Thành thích vẽ gì? Cô sẽ đưa mấu tỉ dụ như “vẽ quả bóng” cho con vẽ, nếu trẻ vẽ xong theo thị hiếu cô khích lệ trẻ tiến hành bài học trên.
– Cuối giờ cô nhận xét bài vẽ của cả lớp và dành thời kì nhận xét bài vẽ của Thành nên luôn dành những lời khen ngợi để tiết sau em chủ động hơn.
Cảnh huống 2:
Khi dạy trẻ hát và vỗ tay theo nhịp bài hát: “Chú quân nhân đi xa” nhịp ¾ có 1 số trẻ ko biết vỗ tay theo nhịp nhưng mà vỗ trái lại…
Cách khắc phục:
– Cô dạy trẻ thuộc lời bài hát và chỉ dẫn trẻ vỗ đệm theo nhịp từng câu 1 tới hết bài.
– Nếu trẻ vẫn ko tiến hành được cô cho trẻ đứng vòng tròn hoặc đứng hàng dọc, bước nhúng vào phách mạnh của nhịp, thuở đầu có thể đếm, sau đấy thì ghép nhạc.
Cảnh huống 3:
Trong giờ làm quen với tác phẩm văn chương (dạy trẻ kể chuyện), cô đang say sưa kể chuyện cho trẻ nghe, bỗng 1 nhỏ kêu đau bụng và khóc rất bự.
Cách khắc phục:
– Cô tới gần cháu đấy bế trẻ và công bố cho cả lớp biết tình hình sức khỏe của bạn và đề nghị lớp thứ tự tuân theo đề nghị của bạn lớp trưởng.
– Cô giao nhiệm vụ cho lớp trưởng cho cả lớp đọc thơ, hát hoặc chỉ định các bạn hát, đọc thơ…
– Cô đưa nhỏ bị đau bụng vào phòng nghỉ hoặc trải chiếu cho nhỏ nằm, hỏi nhỏ đã ăn những thức ăn gì, có thể xoa dầu cho nhỏ và theo dõi.
– Nếu thấy cháu ko đỡ cô nhờ cô giáo gánh vác lớp kế bên điều hành lớp và cho cháu xuống phòng y tế của trường theo dõi và xử lí kịp thời, có lí.
Cảnh huống 4:
Trong giờ chơi theo góc của trẻ mẫu giáo, ở góc chơi “Nhỏ tập làm thầy thuốc”, nhỏ Hoa đang hăm hở bế búp bê tới thầy thuốc Mai khám bệnh. Nhỏ Hoa bế búp bê ngồi vào ghế dành cho bệnh nhân, thầy thuốc Mai cứ ngồi nghịch ống nghe nhưng mà ko biết Hoa đang ngồi chờ khám bệnh. Chờ 1 khi nhỏ Hoa bế búp bê đứng dậy, vừa đi vừa quay lại nhìn thầy thuốc Mai. Thầy thuốc Mai vẫn ngồi nghịch ống nghe say sưa
Cách khắc phục:
– Cô nhập vai bệnh nhân tới khám bênh và rủ nhỏ Hoa đồng hành.
– Cô chào thầy thuốc Mai và nhờ thầy thuốc khám bệnh. Khi thầy thuốc khám xong, cô hỏi thầy thuốc Mai xem cô bị bệnh gì? Uống thuốc gì?… Cô nhận thuốc và cảm ơn thầy thuốc, chào thầy thuốc và ra về cố nhắc bệnh nhân Hoa vào khám.
– Cô quan sát, nếu Hoa ko biết giao tiếp với thầy thuốc, cô chỉ dẫn Hoa đóng vai bênh nhân để tiến hành ý nghĩ chơi “mẹ bệnh nhân”.
Cảnh huống 5:
Trong lúc rửa mặt cho trẻ, phát hiện 1 trẻ bị đau mắt thì cần xử lí như thế nào ?
Cách khắc phục:
– Để lại cháu đấy và rửa sau cuối, sau lúc rửa xong cho cháu đấy, khăn mặt phải để ở chậu riêng, giặt bằng xà phòng, luộc nước sôi rồi phơi nắng.
– Cô rửa sạch tay bằng xà phòng, sát khuẩn bằng cồn để tránh lây truyền sang các nhỏ khác.
– Giờ trả nhỏ luận bàn với gia đình để cùng phối hợp (có thể cho trẻ nghỉ học để tránh lây sang các bạn khác).
Cảnh huống 6:
Ở lớp mẫu giáo, giờ đi dạo sân trường, cô tổ chức cho trẻ chơi dịch vụ sửa nhà với cát và nước. Khi thời kì đã hết, cô đề nghị trẻ đi rửa tay, chân để chuyển hoạt động khác. Cháu Hùng nhất mực ko nghe, cứ ngồi chơi mãi, tiếp diễn nghịch cát. Hãy giảng giải hiện tượng trên. Nếu là thầy cô giáo tổ chức hoạt động đấy, bạn sẽ xử lí như thế nào?
Gicửa ải thích:
Biểu hiện tính ngang bướng. Ở tuổi này là khi cái tôi hiện ra. Trẻ đang tự muốn khẳng định mình. Đặc trưng là trẻ rất thích chơi với cát, nước, đất và ít có dịp được chơi nên lúc cô đề nghị trẻ vệ sinh trẻ làm trái lại.
Cách khắc phục:
– Cô nhẹ nhõm giảng giải cho trẻ hiểu thời kì chơi đã hết và gợi ý cho trẻ hoạt động tiếp theo có nhiều đồ chơi, trò chơi rất hay (cô lấy tỉ dụ trò chơi có ở hoạt động tiếp theo).
– Thông báo cho trẻ biết kế hoạch của buổi hoạt động ngoài trời trong tuần (tháng) và cho biết khi đấy nếu nhỏ thích chơi thì nhỏ sẽ chơi tiếp (nếu có nội dung chơi này).
– Nếu cháu vẫn ko chịu cô cho trẻ chơi thêm vào giao hứa với cháu lúc cô rửa tay, chân xong cho bạn rốt cuộc thì tới lượt cháu và cô cháu mình cùng thi rửa tay, chân xem người nào rửa sạch hơn…
Cảnh huống 7:
Trong giờ hoạt động góc của lớp mẫu giáo béo đã diễn ra được khoảng 30 phút. Ở góc chơi xây dựng, trẻ đã xây xong công trình “trường măng non của nhỏ”. Cô giáo đi đến, đứng lại và hỏi trẻ: “Các con xây xong chưa ?“, trẻ giải đáp: “Thưa cô, xong rồi ạ”. Cô giáo đứng ngắm công trình nhà xinh của trẻ 1 lát rồi đi làm việc khác. Trẻ ở góc chơi đấy nhìn theo và hy vọng cô.
Cách khắc phục:
– Cô chuyện trò với trẻ về công trình xây dựng để nắm bắt được ý nghĩ chơi của trẻ.
– Cô và trẻ cùng thảo luận về công trình xây dựng: bố cục, kỹ năng xây dựng của trẻ, cái gì được cô khích lệ, khuyến khích, cái gì chưa được cô gợi ý cho trẻ rút kinh nghiệm.
– Nếu còn thời kì, cô gợi ý xem trẻ có muốn xây dựng thêm gì cho công trình đẹp hơn, hoặc có nhu cầu chơi xây dựng gì nữa (tùy theo thời kì tiến hành chủ đề để gợi ý) và có sẵn sàng đồ chơi cho trẻ tiếp diễn chơi.
Cảnh huống 8:
Cô giáo tập sự ở lớp mẫu giáo béo, cô sẵn sàng dạy trẻ bài hát: “Em thêm 1 tuổi” (Chủ đề tết và mùa xuân), cô giới thiệu tên bài hát, tác giả bài hát và hát cho trẻ nghe. Cô đang hát bỗng 1 nhỏ trai đứng lên nói: “Thôi cô ơi, cô đừng hát nữa, cô hát sai hết cả rồi”, làm cô giáo lúng túng, bối rối và lại càng hát lạc giọng hẳn đi.
Cách khắc phục
– Tới gần cô giáo bảo nhỏ để mình dạy thay và nói với trẻ: “Bữa nay cô Nga dạy lớp mình hơi mệt, nên cô Nga bị mất giọng, cô sẽ giúp cô Nga dạy lớp mình bài hát này nhé”.
– Cô khen nhỏ trai đã biết được nhạc điệu bài hát nhưng mà lần sau nếu muốn phát biểu các nhỏ giơ tay xin phát biểu ko được nói leo nhất là lúc cô giáo đang hát và con bảo nhỏ vào tai cô thôi vì có lúc cô giáo hôm đấy bị ốm nhưng mà vẫn phấn đấu để dạy cả lớp mình để ko tác động đến các bạn khác.
– Góp ý với cô giáo trong nhóm nên sẵn sàng chăm chút trước lúc đi dạy trẻ, nếu hát chưa hay nhưng mà phải hát đúng để bảo đảm chất lượng giờ dạy.
Cảnh huống 9:
Trong giờ ngủ trưa, có 1 số nhỏ chưa ngủ được. Nhỏ thì nằm mở mắt trao tráo, trăn trở suốt buổi trưa, nhỏ thì nằm mãi cảm thấy thừa chân, thừa tay cấu véo bạn nằm kế bên để bạn khóc ré lên, có nhỏ thì lại khóc đòi về với mẹ.
Cách khắc phục:
– Tạo cho trẻ lề thói ngay từ buổi trước nhất lúc cho tới hiện tại ngủ.
– Cô kể chuyện, không tính bự, kể nhè nhẹ để trẻ thứ tự, yên lặng nghe và đơn giản đi vào giấc ngủ hoặc cô hát ru và ân cần tới những nhỏ khó ngủ.
– Trường hợp nhỏ ko muốn ngủ ko nên cưỡng ép trẻ, nên tách trẻ sang phòng khác cho trẻ chơi trò chơi tĩnh như: xếp hình, vẽ, nặn và cùng lúc luận bàn với phụ huynh để bảo đảm cho trẻ được ngủ đủ số thời kì quy định trong 1 ngày.
Cảnh huống 10:
Trong giờ chơi tập có chủ đích (nhân vật trẻ 36 – 48 tháng) với nội dung “ Chọn đồ chơi màu đỏ”. Khi cô giáo đề nghị: “Các con chọn cho cô nơ màu đỏ” thì có 1 số trẻ chọn nơ màu xanh.
Có thể do 3 nguyên cớ:
– Trẻ chưa để mắt nghe đề nghị của cô.
– Trẻ chưa nhận mặt được màu đỏ.
– Trẻ thích làm trái lại đề nghị của cô.
Cách xử lí:
– Cô tới gần và hỏi trẻ trên tay nhỏ đang cầm nơ màu gì và nhắc lại đề nghị để trẻ chọn đúng. Hoặc cho trẻ nhắc lại đề nghị hoặc cầm nơ màu đỏ lên để trẻ so sánh.
– Nếu trẻ ko tìm được cô giúp trẻ tìm và cho trẻ nhắc lại cùng cô màu sắc của nơ cô và trẻ vừa tìm được.
Xã hội càng ngày càng tăng trưởng yêu cầu chất lượng giáo dục càng ngày càng cao hơn, đặt nhiều hy vọng hơn vào lứa tuổi sau. Chính vì thế, người thầy cô giáo phải ko dừng tự cập nhật, tự trau dồi tri thức để phục vụ đề nghị của xã hội, kế bên đấy,việc tăng lên nhân phẩm chính trị, tinh thần đạo đức nghề nghiệp, lối sống và cá tính sư phạm, xây dựng hàng ngũ nhà giáo và cán bộ điều hành giáo dục trong lành, lớn mạnh là việc làm có ý nghĩa cần thiết. Người thầy cô giáo phải ko dừng tự hoàn thiện mình để xứng đáng với niềm tin, niềm hi vọng của quần chúng, xứng đáng là người đi “gieo hạt giống đẹp bao tâm hồn”.
* ĐỀ XUẤT:
+ Đối với Ban Giám Hiệu:
– Thường xuyên xây dựng các chuyên đề không giống nhau để thầy cô giáo kiến giảng học hỏi kinh nghiệm, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ qua các buổi sinh hoạt chuyên môn theo nhu cầu cảu thầy cô giáo.
– Giúp cho thầy cô giáo tăng trưởng và thực hành áp dụng các chuyên đề đã học vào công việc.
+ Đối với Phòng Giáo dục và cấp trên:
Tất cả 11 chuyên đề đều rất thiết thực và cấp thiết đối với người thầy cô giáo măng non nhưng mà em nhận thấy rằng các tri thức đôi lúc còn nặng về phần lý thuyết. Giáo viên được thực hành và trải nghiệm còn giảm thiểu.Thời gian học và viết bài thu hoạch, bài rà soát ít nên học viên còn sẵn sàng chưa được tỉ mỉ, số liệu minh chứng ít. Nên em có 1 số đề nghị sau:
– Thường xuyên xây dựng các chuyên đề tại các trường điểm để cán bộ, thầy cô giáo được tham quan học tập.
– Cấp trên đầu cơ thêm kinh phí, hạ tầng để nhà giáo dục có điều kiện tiến hành các chuyên đề được tốt hơn.
– Nên tổ chức huấn luyện cho tất cả cán bộ, thầy cô giáo theo vẻ ngoài học qua mạng để các học viên được học và thực hành ở mọi khi mọi nơi.
Nhìn chung công tác của thầy cô giáo măng non là muôn nghìn gian nan và sức ép bởi thế cần có sự thông cảm của nhà trường và số đông xã hội, phụ huynh, để chung tay cộng với thầy cô giáo để càng ngày càng tăng lên chất lượng giáo dục trẻ được tốt hơn.
Đề phục vụ nhu cầu giáo dục ngày nay, tôi mong rằng các ngành chỉ đạo có thẩm quyền cần ân cần đặc trưng đối với hàng ngũ thầy cô giáo học thăng hạng như chúng tôi, tạo điều kiện tốt nhất để thầy cô giáo được nâng ngạch công chức sớm nhất.
Em xin thật tình cảm ơn quý thầy cô!.
Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin có lợi khác trên phân mục Tài liệu của Vik News VN.

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Bài #thu #hoạch #lớp #bồi #dưỡng #nâng #hạng #giáo #viên #mầm #hạng #lên #hạng #III

Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng nâng hạng thầy cô giáo măng non hạng IV lên hạng III

Bài thu hoạch cuối khóa bồi dưỡng nâng hạng thầy cô giáo măng non hạng IV lên hạng III là tài liệu có lợi để các bạn tham khảo viết bài thu hoạch nâng hạng thầy cô giáo măng non hạng III. Sau đây là nội dung cụ thể mẫu bài thu hoạch, mời các bạn cùng tham khảo.
1. Bài thu hoạch thầy cô giáo măng non hạng 3 số 1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong lĩnh vực giáo dục khái quát và lĩnh vực giáo dục măng non nói riêng nhằm tăng lên năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, tiến hành tốt các nhiệm vụ của nhân viên giảng dạy và trẻ, phục vụ các tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho thầy cô giáo măng non. Cùng lúc nhằm bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh ngề nghiệp thầy cô giáo măng non hạng III và xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp thầy cô giáo măng non hạng III. Với những lý do trên, trong dịp hè 5 20….., Sở Giáo dục và Huấn luyện Bình Dương đã phối hợp với Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lớp bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp thầy cô giáo cho các ngành học trên khu vực tỉnh. Tôi đã mạnh dạng đăng ký tham dự lớp bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho thầy cô giáo măng non hạng III.
Qua công đoạn học tập, nghiên cứu cộng với sự chỉ dẫn, truyền đạt của các thầy, cô giáo gánh vác giảng dạy Chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho thầy cô giáo măng non tôi đã nắm bắt được nội dung của từng chuyên đề
Chuyên đề 1: Tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước
Chuyên đề 2: Luật trẻ con và hệ thống quản lí giáo dục
Chuyên đề 3: Kỹ năng làm việc nhóm
Chuyên đề 4: Kỹ năng quản lí thời kì
Chuyên đề 5: Phát triển chương trình giáo dục măng non của khối lớp
Chuyên đề 6: Xây dựng môi trường tâm lí – xã hội trong giáo dục trẻ ở trường măng non
Chuyên đề 7: Bình chọn sự tăng trưởng của trẻ măng non
Chuyên đề 8: Sáng kiến kinh nghiệm trong giáo dục măng non
Chuyên đề 9: Kỹ năng chỉ dẫn, tham mưu tăng trưởng năng lực nghề nghiệp cho thầy cô giáo
Chuyên đề 10: Tổ chức, huy động số đông tham dự giáo dục trẻ măng non
Chuyên đề 11: Đạo đức của thầy cô giáo măng non trong xử lý cảnh huống sư phạm ở trường măng non
Trong các chuyên đề trên đều là những tri thức hữu dụng dùng cho cho công việc chuyên môn nghiệp vụ của bản thân mỗi thầy cô giáo. 1 trong các chuyên đề giúp tôi hiểu sâu hơn và có thể vận dụng hiệu quả hơn trong hoạt động giáo dục trẻ của bản thân đấy là chuyên đề “Xây dựng môi trường tâm lí – xã hội trong giáo dục trẻ ở trường măng non”. Đây cũng là 1 trong những chuyên đề nhưng mà các đơn vị trường học trên khu vực huyện tôi đã khai triển và đang tiến hành.
Hiện nay ngành giáo dục đang từng bước biến đổi từ chương trình giáo dục tới vẻ ngoài và cách thức giáo dục để đạt hiệu quả cao nhất. Để giải quyết được đề nghị này yêu cầu ngành giáo dục phải “Xây dựng hàng ngũ nhà giáo và cán bộ điều hành giáo dục được chuẩn hóa, bảo đảm chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc trưng chú trọng tăng lên khả năng chính trị, nhân phẩm, đạo đức, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo phê chuẩn việc quản lí, tăng trưởng đúng định hướng và hiệu quả sự nghiệp giáo dục để tăng lên chất lượng tập huấn nguồn nhân công, phục vụ những yêu cầu càng ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, đương đại hóa non sông” – chỉ thị số 40/CT/TW ngày 15/06/2004 của Ban bí thơ.
Trong những 5 vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã và đang đầu cơ kinh phí xây dựng các phòng học, sắm sửa trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi cho các trường măng non được hoạt động hăng hái đổi mới nội dung và cách thức giảng dạy và phát động các cuộc chuyển động, các phong trào thi đua nhằm tăng lên chất lượng giáo dục. Tiêu biểu là công văn số 9761/BGDĐT-GDMN ngày 20/10/2008, chỉ dẫn và khai triển phong trào thi đua “Xây dựng trường học gần gũi, học trò hăng hái” bậc học măng non; chuyên đề “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” với mong muốn khích lệ, khuyến khích giáo viên, cán bộ quản lí, toàn bộ học trò cùng các lực lượng ngoài xã hội hăng hái, chủ động tham dự xây dựng môi trường giáo dục gần gũi, an toàn, tạo nên và phát huy tính hăng hái, chủ động, thông minh ở trẻ, tạo mọi điều kiện tốt nhất để trẻ được tăng trưởng toàn diện về mọi mặt.
Tuy nhiên trên thực tiễn việc xây dựng môi trường gần gũi – môi trường tâm lý – xã hội cho trẻ ở trường măng non chưa đích thực được chú trọng. Trong thời kì mới đây ngành giáo dục luôn phải đương đầu với các vấn nạn về bạo hành trẻ (kể cả thể chất lẫn ý thức, “khủng bố” trẻ bằng lời nói…), đánh trẻ, xâm hại trẻ con xảy ra với môi trường giáo dục làm phụ huynh phải đặt câu hỏi “nơi nào là an toàn cho trẻ nhỏ”, trẻ vẫn chưa thật sự ‘thích” tới trường măng non. Thành ra, kế bên việc xây dựng môi trường vật chất chúng ta cần vô cùng ân cần tới việc xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non để trẻ đích thực cảm thu được “mỗi ngày tới trường là 1 ngày vui”
II. NỘI DUNG:
1. Cơ sở lí luận:
Có thể nói, việc xây dựng môi trường giáo dục trong trường măng non là đích thực cấp thiết và quan trọng. Nó được nếu như người thầy cô giáo thứ 2 trong công việc tổ chức, chỉ dẫn trẻ hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi và hoạt động của trẻ. Thông qua đấy, tư cách của trẻ được tạo nên và tăng trưởng toàn diện.
Môi trường giáo dục trong nhà trường là các nhân tố về vật chất và tâm lý – xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả và chất lượng công đoạn dạy học và giáo dục nhằm tạo nên và tăng trưởng tư cách cho người học. Môi trường tâm lý – xã hội được kiến lập trên cơ sở bầu ko khí sư phạm trong nhà trường, mối quan hệ của người dạy với người học, mối quan hệ của người học với nhau. Môi trường tâm lý – xã hội trong nhà trường tác động rất béo tới sự tạo nên và tăng trưởng nhận thức, tình cảm và hành vi của người học cũng như tác động béo tới hiệu quả của công đoạn giáo dục. Như vậy, môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non là môi trường được kiến lập trên cơ sở bầu ko khí sư phạm trong nhà trường, mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa người béo với trẻ (thầy cô giáo măng non, cán bộ người lao động viên trong trường, phụ huynh, khách), người béo với người béo, trẻ với trẻ.
Trẻ em thế hệ măng non đang trong công đoạn trước nhất của sự tạo nên và tăng trưởng tư cách. Sự tăng trưởng của trẻ được quyết định bởi 1 tổ hợp các điều kiện: đặc điểm tăng trưởng thân thể của trẻ, điều kiện sống, mối quan hệ của trẻ với môi trường bao quanh, chừng độ hăng hái hoạt động của bản thân trẻ. Trẻ chỉ có thể lĩnh hội kinh nghiệm xã hội nhờ sự xúc tiếp với người béo. Việc hình thành bầu ko khí tâm lý – xã hội dựa trên các trị giá trong xây dựng môi trường nhà trường là điều kiện tiên quyết để xúc tiến hiệu quả giáo dục vì nó phục vụ các nhu cầu quan trọng của trẻ. Theo đấy, môi trường nhà trường cần được thiết lập trên nền móng các trị giá. Kết quả nghiên cứu của UNESCO trong chương trình giáo dục trị giá sống thế giới trẻ con cần được sống trong môi trường nhưng mà trẻ cảm thấy: được an toàn, được có trị giá, được mến thương, được hiểu và được tôn trọng.
2. Thực trạng:
Tôi là 1 thầy cô giáo của trường Măng non ……….. trên khu vực huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trường tôi nằm ở điểm trường nông thôn nhưng mà căn bản cán bộ, thầy cô giáo, viên chức trong trường cũng đã phấn đấu xây dựng trường đạt chuẩn non sông chừng độ 1 và đạt danh hiệu trường đạt chuẩn chất lượng giáo dục chừng độ 3 vào 5 …………
Tổng số cán bộ, thầy cô giáo, viên chức trong trường 5 học …….. có …… người nữ. Trong đấy:
– Cán bộ điều hành: ….người
– Giáo viên: …..người
– Nhân viên: …..người
– Tổng số lớp: …..lớp (2 lá, 2 chồi, 1 mầm, 1 nhóm trẻ)
– Tổng số trẻ: …… trẻ nữ (bán trú 100%)
Trong 5 học mới đây, nhà trường đã phát động cho toàn thầy cô giáo tham dự xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, xây dựng trường học an toàn, gần gũi… Bản thân tôi cũng đã hăng hái tham dự các phong trào. Tuy nhiên, tôi chỉ mới nắm bắt được những nội dung căn bản nên lúc bắt tay vào tiến hành thì còn rất bối rối và kết quả đạt được chưa cao. Vì là 1 thầy cô giáo nhiệt huyết với nghề nên kết quả đấy làm tôi rất trằn trọc và tự đặt câu hỏi cho mình: xây dựng môi trường gần gũi, môi trường tâm lý – xã hội là xây dựng thế nào? Phcửa ải vận dụng những biện pháp gì? Thực hiện bằng cách nào và kể từ đâu?… Sau lúc tham dự lớp bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp thầy cô giáo măng non hạng III tôi “bắt gặp” được chuyên đề “xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trong giáo dục trẻ ở trường măng non” với sự truyền đạt, chỉ dẫn, san sớt của Tiến sĩ Phạm Phước Mạnh – giảng sư khoa tâm lý trường Đại học sư phạm thị thành Hồ Chí Minh tôi đã có thân xác định được “hướng đi” cho mình trong việc xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non đạt hiệu quả và tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn lúc 5 học mới 20……..mở đầu.
Căn cứ vào tình hình thực tiễn của nhà trường, của bản thân và kết quả họat động của những 5 mới đây tôi cũng đã xác định được 1 số thuận tiện và gian nan lúc tiến hành chuyên đề này.
* Thuận lợi:
– Được sự chỉ huy, ân cần, phân phối tham mưu của các ngành chỉ đạo, đặc trưng là Ban giám hiệu nhà trường.
– Được sự ân cần của phụ huynh học trò, của số đông.
– Bản thân tôi là 1 thầy cô giáo chủ động, hăng hái trong việc tìm tòi, học hỏi và đã được tham dự bồi dưỡng chuyên đề “xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong giáo dục trẻ ở trường măng non”.
* Khó khăn:
– Giáo viên chưa có nhiều kĩ năng trong việc xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non.
– Kĩ năng giao ứng cứu xử của bản thân thầy cô giáo chưa khôn khéo, nhanh nhạy lúc có cảnh huống bất thần xảy ra.
– Chưa thu được sự cộng tác, phối hợp của 1 vài phụ huynh và thành viên trong nhà trường trong việc xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non.
3. Gicửa ải pháp:
Xuất phát từ những lý do và thực trạng nêu trên và phê chuẩn việc tham dự lớp bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp chỉ mất khoảng mới đây tôi đã nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non nhằm tăng lên chất lượng và giáo dục trẻ. Tôi đã nghiên cứu, sưu tầm và đưa ra những biện pháp xây dựng môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non như sau:
Gicửa ải pháp 1: Xây dựng môi trường tâm lý – xã hội mang thuộc tính của môi trường gia đình
Trước lúc tới trường măng non, trẻ con được sống trong môi trường gia đình, được , khuyên bảo bằng tình cảm mến thương cật ruột. Điều này ko có được ở trường măng non. Tuy nhiên, với tác dụng, nhiệm vụ của trường măng non là nuôi dưỡng, , giáo dục trẻ con nhằm giúp trẻ con tạo nên những nhân tố ban sơ của tư cách và sẵn sàng cho trẻ vào lớp 1 (Điều lệ trường măng non), phát huy hết những tiềm năng đang nảy nở ở trẻ thì nhà trường cần xây dựng môi trường tâm lý – xã hội mang thuộc tính của môi trường gia đình. Đấy là:
– Môi trường an toàn: Môi trường tâm lý – xã hội trong trường măng non cần bảo đảm trẻ được , giáo dục bằng tình thương cảm yêu. Khi được sự ân cần của tất cả các thành viên trong nhà trường, đặc trưng là cô giáo sẽ tạo ra ở trẻ sự an toàn cả về thể chất lẫn tâm lý. Nhờ đấy trẻ mới cảm thấy yên tâm, mới vui mừng hồn nhiên, mới mạnh dạng dò xét, thí điểm, khám phá toàn cầu bao quanh. Hoạt động trong môi trường tâm lý – xã hội nhà trường mang đặc biệt văn hóa gia đình, trẻ con được người béo , giáo dục bằng tình thương cảm yêu, được thỏa mãn đầy đủ và kịp thời, có lí mọi nhu cầu để tăng trưởng. Đây là điều kiện tiên quyết để trẻ trưởng thành.
Thí dụ: Khi trẻ lần trước nhất bước chân vào trường măng non “ngày trước nhất đi học” nhất là trẻ ở thế hệ vườn trẻ và mầm trẻ sẽ rất là bỡ ngỡ, lo âu và phần nhiều trẻ sẽ khóc vì có thể nói đây là lần trước nhất trẻ rời xa gia đình, rời xa “môi trường an toàn” vốn có. Nếu cô giáo ko ân cần, vỗ về trẻ sẽ cảm thấy ko an toàn và sẽ quấy khóc nhiều hơn. Trẻ cần được cô giáo ân cần, vỗ về, , chuyện trò dần dần trẻ sẽ quen với môi trường mới và ko còn quấy khóc nữa. Vì khi đấy trẻ đã cảm thu được ở trường cũng được an toàn như ở gia đình.
– Môi trường phong phú: Trường măng non có nhiều thành viên như hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, thầy cô giáo, viên chức, trẻ con, phụ huynh của trẻ tạo ra các mối quan hệ phong phú, nhiều chủng loại giữa nhiều đứa ở những độ tuổi và lứa tuổi không giống nhau. Trong môi trường phong phú các mối quan hệ này, trẻ có nhiều thời cơ để giao tiếp, học hỏi, mở mang khiến thức cũng như đoàn luyện các kĩ năng sống cấp thiết (sự tự tin, sự tò mò, bản lĩnh thông minh, kĩ năng cộng tác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xử lý cảnh huống, kĩ năng giữ an toàn tư nhân)
Thí dụ: Khi bước vào môi trường phong phú các mối quan hệ như trường măng non trẻ sẽ trông thấy, nghe thấy và học được các luật lệ xử sự như thế nào cho phù hơp. Khi thấy cô giáo trò chuyện với 3 mẹ mình trẻ sẽ nhìn thấy luật lệ trong giao tiếp như kính trọng, vui mừng, linh hoạt. Trẻ nắm được cách giao tiếp với người béo là phải kính trọng, lễ độ hoặc là lúc chơi với bạn phải biết kết đoàn, ko giành giật hay tự tiện lấy đồ của bạn, biết nói lời cám ơn và xin lỗi lúc cấp thiết…
Để thích hợp với đặc điểm tăng trưởng nhận thức của trẻ măng non là nhận thức cảm tính, trường măng non luôn sẵn có đồ dùng đồ chơi, dụng cụ trực giác như tranh ảnh, mẫu hình, băng hình. Đặc trưng các đồ dùng sinh hoạt như ca cốc, bát thìa, bàn ghế, cây trồng, vật nuôi… đều được thầy cô giáo sử dụng trong công đoạn , giáo dục giúp trẻ mở mang vốn hiểu biết về tên gọi, đặc điểm, tác dụng/lợi ích, cách sử dụng/cách chúng. Cùng lúc tạo nên ở trẻ thái độ đúng mực cũng như các lề thói tốt, các hành vi hăng hái trong xử sự với không gian sống như biết giữ giàng đồ dùng đồ chơi, biết , bảo vệ vật nuôi, cây trồng…
Thí dụ: Hiện nay chúng ta đang tiến hành chuyên đề “lấy trẻ làm trung tâm” trong mọi hoạt động, hăng hái cho trẻ hoạt động trải nghiệm khám phá chứ ko “giam cầm” trẻ trong lớp với 4 bức tường vì lý do “trẻ ra sân khó quản”. Trẻ con rất thích khám phá bao quanh, đặc trưng là những điều mới lạ. Thí dụ lúc cho trẻ trải nghiệm về các cảm quan chúng ta sẽ cho trẻ được tri giác qua tranh ảnh, vật thật… trẻ được tận mắt trông thấy, được dùng mũi để ngửi, dùng tai để nghe, dùng tay để sờ, được dùng mồm để nếm, được cảm nhận sẽ kích thích tất cả các cảm quan tạo điều kiện cho nhận thức của trẻ được mở mang. Kế bên đấy thầy cô giáo luôn nhắc nhở, giáo dục trẻ các hành vi hăng hái như quét dọn sau lúc chơi xong, nhặt rác bỏ vào thùng rác, ko nghịch phá vật dụng, con vật gian nguy…
+ Môi trường nhưng mà người béo , giáo dục trẻ bằng giao tiếp trực tiếp và thường xuyên: Ở mọi nơi, mọi khi, trong mọi cảnh huống của cuộc sống, người béo đều có thể khuyên bảo, khuyên bảo trẻ. Việc nuôi và dạy trẻ trong môi trường tâm lý – xã hội nhà trường cần được liên kết 1 cách khôn khéo và thiên nhiên.
Thí dụ: Trong giờ tổ chức cho trẻ ăn thầy cô giáo có thể chuyện trò, khuyên bảo, chỉ dẫn trẻ các kĩ năng cấp thiết như kĩ năng tự dùng cho (biết lấy chén, lấy muỗng, biết lấy ghế ngồi vào bàn, rửa tay, lau mặt trước và sau lúc ăn xong…), kĩ năng giao tiếp, xử sự (biết mời cô và các bạn lúc ăn, biết cám ơn lúc cô chia cơm, biết xin lỗi lúc lỡ làm đổ cơm của bạn, ko lấy đồ ăn của bạn…). Trong tổ chức giờ ngủ, thầy cô giáo có thể cho trẻ nghe những điệu hát, vần thơ hay để trẻ có thể cảm thu được tinh hoa văn hóa 1 cách nhẹ nhõm, thiên nhiên. Hay trong tổ chức hoạt động dạo chơi ngoài trời lúc có bạn lỡ trượt chân té ngã tận dụng cảnh huống đấy cô giáo dục trẻ biết tương trợ bạn, ko chòng ghẹo bạn và xem bạn có bị trầy xướt gì ko. Qua đấy cô giáo có thể nói cho trẻ biết lúc bị trầy xướt thì nên làm thế nào….
+ Môi trường tự do: Trong môi trường tâm lý – xã hội ở nhà trường, tất cả trẻ con đều được tự do hoạt động, được tạo thời cơ để tăng trưởng tối ưu những tiềm năng sẵn có. Mỗi đứa trẻ là 1 con người biệt lập, có đặc điểm riêng về thể chất và tâm lý, mỗi trẻ có cách tiếp thu kinh nghiệm theo cách riêng, vận tốc riêng của mình. Những nét riêng này cần được tôn trọng và khuyến khích để trẻ tăng trưởng 1 cách độc lập và chủ động.
Môi trường tâm lý – xã hội này giúp cho trẻ tự do hoạt động do chính mình và vì chính mình. Khi trẻ hoạt động, người béo khuyến khích, khích lệ, tạo thời cơ cho trẻ trải nghiệm, khám phá cuộc sống, mày mò, ân cần, san sớt, tương trợ lẫn nhau lúc cấp thiết. Do đấy, mỗi trẻ đều được phát huy bản lĩnh riêng của mình và tạo nên ở trẻ tinh thần kỷ luật, ý thức nghĩa vụ với bản thân, với những người bao quanh, với môi trường nhưng mà trẻ đang sống.
Tuy nhiên trên thực tiễn thì chúng ta vẫn còn “ngại” chỉnh sửa, vẫn còn áp đặt trẻ và dạy theo những thứ chúng ta sẵn có chứ chưa đích thực dạy theo những gì trẻ hứng thú. Ngay trong công đoạn tổ chức hoạt động chúng ta vẫn áp đặt câu giải đáp, ý nghĩ của trẻ. Thí dụ: lúc dạy trẻ mày mò về con mèo chúng ta vẫn thường áp đặt trẻ phải giải đáp con mèo sống trong gia đình, đẻ con, có 4 chân, kêu meo meo, thích ăn cá và bắt chuột… chứ chúng ta chưa ân cần tới mong muốn của trẻ “vì sao con mèo thích bắt chuột? Vì sao nó ngủ ngày? Vì sao nó đi rất êm?… Hoặc lúc trẻ ra sân hoạt động thầy cô giáo thường cấm đoán ko cho trẻ chạy nhảy, hò la. Hay lúc trẻ phát hiện có tổ kiến, con sâu thì chúng túm tụm lại nhưng mà ko theo ý của cô giáo thì khi đấy cô giáo sẽ tới bắt trẻ phải chuyển động tới chỗ khác theo ý cô nhưng mà ko ân cần tới nhu cầu của trẻ là đang muốn mày mò vể con sâu hay tổ kiến đấy.
+ Môi trường có sự tôn trọng, tin cậy lẫn nhau: Trong môi trường tâm lý – xã hội lành mạnh, người béo khái quát, cô giáo và bè bạn đều tôn trọng sự lự chọn hoạt động của trẻ, luôn đặt niềm tin nơi trẻ, tin rằng trẻ có bản lĩnh chấm dứt và chấm dứt tốt những hoạt động nhưng mà trẻ được tự do chọn lọc. Niềm tin của người béo, của bè bạn là động lực mạnh bạo xúc tiến trẻ chấm dứt nhiệm vụ theo cách tốt nhất có thể với bản lĩnh của trẻ.
Thí dụ: Trong 5 học mới rồi lớp tôi có 1 nhỏ thừa cân và đang sẵn sàng chạm mức to phì. Để giảm thiểu sự tăng cân cho nhỏ tôi đã chủ động phối hợp với gia đình chỉnh sửa 1 chút trong cơ chế ăn và tập dượt cho nhỏ. Tôi thường cho nhỏ ăn nhiều rau hơn các bạn khác, cắt cơ chế sữa ở nhà chỉ uống 1 cốc sữa vào sau bữa ăn sáng tại trường, tôi thường tạo thời cơ cho nhỏ tham dự giúp cô quét dọn bàn ghế, tăng mạnh chuyển động hơn các bạn trong các hoạt động. Tuy nhiên trong 2 tháng đầu nhỏ vẫn lên cân nhưng mà với lòng tin nhỏ sẽ giảm được với sự bền chí của mình thì tới tháng thứ tư nhỏ đã ko tăng cân nữa, tới cuối 5 thì chiều cao tăng nhưng mà cân nặng vẫn giữ mức thế là nhỏ ko còn nằm trong kênh sức khỏe cần phải theo dõi. Hay trong giờ cộng đồng dục thì có 1 vài nhỏ rất nhút nhát ko dám tham dự chuyển động cùng các bạn lúc tiến hành 1 số bài tập như choài, trèo nhưng mà với lòng tin của mình đặt vào trẻ tôi đã giúp trẻ mạnh dạng, tự tin tham dự vào hoạt động cùng các bạn.
+ Môi trường khuyến khích trẻ hăng hái, chủ động trong họat động: Với đồ dùng đồ chơi phong phú, nhiều chủng loại, nhiều màu sắc được sắp xếp trên những chiếc giá vừa tầm với trẻ. Với thái độ linh hoạt, vui mừng, với hành vi, cử chỉ nhẹ nhõm, ánh mắt trìu mến của cô giáo, sự động viên của bè bạn, trẻ đích thực được sống trong môi trường an toàn, phong phú. Điều này làm phát sinh ở trẻ những cảm xúc hăng hái và lòng khát khao được tìm tòi, khám phá, trải nghiệm.
Thí dụ: Khi cho trẻ mày mò về nghề xây dựng nhưng mà thầy cô giáo sẵn sàng nhiều đồ dùng đồ chơi liên can tới nghề như cái bay, gạch, cát, xi măng, đồ bảo hộ, tranh ảnh các công trình, video cách trộn hồ, cách xây gạch… sẽ giúp trẻ đơn giản tiếp nhận hơn nghề xây dựng là nghề như thế nào, cần có những đồ dùng gì, tạo ra những thành phầm ra sao… chứ ko chỉ thuần tuý ta chỉ hỗ trợ cho trẻ cái bay và gạch xây dựng nhưng mà trẻ có thể hiểu hết về nghề xây dựng.
Giáo viên phải cho trẻ xúc tiếp với đồ dùng đồ chơi chứ chẳng phải làm để trưng bày.
Thí dụ: Khi thầy cô giáo tổ chức hoạt động cho trẻ in, vẽ hoa quả bằng rau củ ko chỉ sẵn sàng thuốc nước, rau củ nhưng mà thầy cô giáo nên sẵn sàng thêm màu lông, màu sáp, giấy màu… để trẻ có thể xúc tiếp và sử dụng nhiều loại màu không giống nhau để hình thành bức tranh. Và trong công đoạn trẻ tiến hành thầy cô giáo thường xuyên khêu gợi, khích lệ, cổ vũ trẻ thì trẻ sẽ tạo ra được những thành phầm có tính mới lạ, lạ mắt hơn.
Để có thể xây dựng môi trường nhà trường nhân bản và gần gũi, thầy cô giáo cần có 1 số kĩ năng như: biết lắng tai trẻ, có lời nói và cử chỉ trình bày sự ân cần, tôn trọng trẻ, biết san sớt và thấu hiểu những vấn đề trẻ đang gặp phải trong học tập và cuộc sống, công bình với trẻ, ko phân biệt đối xử, tạo điều kiện để trẻ biểu thị bản thân, biết cách cổ vũ và khích lệ trẻ để trẻ thích ứng với môi trường lớp học, vượt qua những trở lực…
Gicửa ải pháp 2: Xây dựng hệ thống nội quy, luật lệ giao tiếp, xử sự trong trường măng non
Để xây dựng được môi trường tâm lý – xã hội mang thuộc tính của môi trường gia đình, môi trường tâm lý – xã hội lành mạnh, an toàn, gần gũi trong trường măng non thì chúng ta cũng cần phải xây dựng 1 hệ thống nội quy, luật lệ xử sự, các mối quan hệ và hành vi hăng hái trong trường măng non.
Việc xây hệ thống nội quy, luật lệ xử sự phải dựa trên ý thức hiệp tác, có những nội quy, luật lệ chung và riêng thích hợp cho từng nhân vật nhưng mà phải dựa vào các nhân tố như sau:
– Tôn trọng tư cách nhân vật giao tiếp: tức là phải coi nhân vật giao tiếp là 1 tư nhân, 1 con người, 1 chủ thể với đầy đủ các quyền vui chơi, học tập, lao động… với những đặc biệt tâm lý biệt lập, họ có quyền đồng đẳng với mọi người trong các mối quan hệ xã hội. Trong xã hội, vị thế có không giống nhau nhưng mà tư cách là đồng đẳng. Nhu cầu được tôn trọng là nhu cầu đặc biệt của con người. Tôn trọng tư cách sẽ giúp họ linh hoạt, tự tin trong giao tiếp. Tôn trọng người khác là tôn trọng chính mình.
Thí dụ: Trong lớp học của chúng ta có những đứa trẻ gia đình có điều kiện nên khi nào cũng tinh tươm, sạch bong còn có những đứa trẻ gia đình gian nan hơn 1 chút, nhìn bề ngoài có yếu đuối hơn ko vì vậy nhưng mà ta cứ vấn vít bên đứa trẻ tinh tươm kia nhưng mà quên đứa trẻ có gia đạo gian nan. Chính những đứa trẻ yếu đuối, gian nan đấy mới là nhân vật nhưng mà chúng ta cần phải ân cần nhiều hơn chứ chẳng phải bỏ mặc.
– Thiện ý trong giao tiếp: Trong các mối quan hệ xã hội đặc trưng là trường măng non rất cần sự nhã ý. Thiện ý trong giao tiếp tức là luôn nghĩ tốt, luôn tạo điều kiện thuận tiện cho nhân vật giao tiếp. Cung cách xử sự trình bày cái tâm của con người, người có tâm nhân từ dễ cảm thông, san sớt với xấu số, không may, vui với thành công của người khác, mong muốn người khác tân tiến, thành đạt. Cái tâm nhân từ giúp chủ thể thiết lập được các mối quan hệ tốt đẹp với những người bao quanh và ngược lại sức có tâm ko nhân từ thường ích kỉ, thiếu tôn trọng người khác, ko biết thông cảm, san sớt, hay đố kỵ với thành công của người khác.
– Không lo nghĩ trong giao tiếp: tức là trong giao tiếp chủ thể ko bao giờ được hưởng dụng nhân vật giao tiếp cả về vật chất và ý thức. Đây là điều kiện để xây dựng, duy trì các mối quan hệ dài lâu, tốt đẹp với những người bao quanh.
– Đồng cảm trong giao tiếp: tức là chủ thể giao tiếp biết đặt mình vào địa điểm của nhân vật giao tiếp, vào tình cảnh, vào thế hệ để thông cảm, san sớt thú vui, nổi buồn của họ. Suy nghĩ, thái độ, hành động của mỗi người là không giống nhau. Nếu ta cứ một mực bắt người khác phải theo mình khó tránh khỏi những bất bình. Đồng cảm giúp nhân vật giao tiếp linh hoạt hơn và tạo được niềm tin, tạo ra sự thân cận, thân tình, tạo ra cảm giác an toàn và hứng thú lúc giao tiếp với nhau.
Thí dụ: Trong lớp có 1 vài phụ huynh thường đưa con đi học rất sớm hoặc đón rất muộn nhưng mà ko vì vậy nhưng mà ta cáu gắt, gian nan với trẻ với phụ huynh nhưng mà phải biết mày mò lý do và cảm thông cho họ tương tự mới kiến lập được mối quan hệ tốt và tạo được cảm giác an toàn cho trẻ.
Ở đơn vị tôi cũng đã xây dựng những bảng nội quy cho toàn bộ cán bộ, thầy cô giáo, viên chức và phụ huynh của trường không những thế còn mang thuộc tính chung chung chưa được chi tiết hóa như trong biện pháp đã nêu. Nhà trường xây dựng 1 bảng nội quy dành chung cho phụ huynh và trẻ chỉ thuần tuý là quy định giờ giấc đón – trả trẻ, đồng phục, tư trang của trẻ lúc vào trường, nhân vật phụ huynh được đón trẻ chứ chưa xây dựng nội quy, luật lệ xử sự, giao tiếp. Sau lúc được mày mò chuyên đề, với cương vị là 1 thầy cô giáo – 1 tổ trưởng chuyên môn căn cứ vào Quy định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/04/2008 quy định về đạo đức nhà giáo; căn cứ quyết định số 03/2007/QĐ-BNV luật lệ xử sự của cán bộ công chức nhân viên làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương; căn cứ vào Điều lệ trường măng non tôi cũng đã mạnh dạng xây dựng được bảng nội quy, luật lệ giao tiếp, xử sự với từng nhân vật trong trường măng non và tôi sẽ tham vấn Ban giám hiệu bổ sung, biên tập và vận dụng trong 5 học mới như sau:
– Nội quy, luật lệ giao tiếp, xử sự của thầy cô giáo với trẻ măng non:
+ Mến thương trẻ như con em của mình.
+ Giao tiếp, xử sự chân tình, nhã ý. Biết lắng tai và cùng san sớt những gian nan trong cuộc sống. Không phân biệt đối xử, công bình với trẻ. Giúp đỡ, ân cần trẻ có tình cảnh đặc trưng.
+ Thỏa mãn cân đối các nhu cầu căn bản của trẻ (nhu cầu an toàn, tự khẳng định, vui chơi, giao tiếp, nhu cầu tình cảm…). Mềm dẻo nhưng mà cương quyết đưa trẻ vào nền nếp nhà trường.
…………………
2. Bài thu hoạch thầy cô giáo măng non hạng 3 số 2
Bài thu hoạch cuối khóaLớp bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp hạng 3
Tên đề tài: “Đạo đức của thầy cô giáo măng non trong xử lí cảnh huống sư phạm ở trường măng non“.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Giáo dục măng non là cấp học trước nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền tảng cho sự tăng trưởng về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ con. Việc thừa hưởng sự và tăng trưởng tốt từ thế hệ ấu thơ sẽ góp phần tạo nền tảng cứng cáp cho sự tăng trưởng trong mai sau của trẻ. Những kĩ năng nhưng mà trẻ được tiếp nhận qua chương trình giáo dục măng non sẽ là nền móng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ, là nguồn nhân công chất lượng cao cho non sông.
Trẻ được béo lên tăng trưởng toàn diện là nhờ sự của gia đình nhà trường. Mẹ là môi trường học trước nhất của con và cô là môi trường học thứ 2 của con sau mẹ, con mãi là niềm hạnh phúc của mẹ. Là niềm tin của cô giáo là mai sau của dân tộc, là 1 công dân của toàn cầu mai sau. Việc bảo vệ và giáo dục trẻ ngày nay, đang là nghĩa vụ của mỗi gia đình, nhà trường và của toàn xã hội, vậy phải làm như thế nào đây để chúng ta có được những người công dân bổ ích cho xã hội đấy là nhiệm vụ của mỗi chúng ta. Những người béo phải biết chăm lo, bồi dưỡng và tăng trưởng trẻ con thành những con người toàn diện.
Đối với trẻ măng non cô giáo phải là người vừa dạy, vừa dỗ, vừa là người mẹ vừa là bạn cùng chơi với trẻ, để từ đấy mới có những giải pháp giáo dục phù hợp với từng nhân vật trẻ mang đến hiệu quả tốt nhất cho trẻ, để từ đấy mới có những giải pháp giáo dục phù hợp với từng nhân vật trẻ mang đến hiệu quả tốt nhất cho trẻ.
Tuy nhiên vẫn còn còn đó nhiều giảm thiểu trong công việc giáo dục măng non. Tiêu biểu là các vụ bạo hành trẻ con đã bị tạp chí bóc trần vừa qua, đã làm mất đi hình tượng 1 người mẹ hiền trong mắt của trẻ và phụ huynh.
Chính vì thế qua công đoạn học tôi thấy tâm đắc nhất với chuyên đề : “Đạo đức của thầy cô giáo măng non trong việc xử lý các cảnh huống sư phạm măng non”.
Chuyên đề này giúp tôi thông suốt hơn về các định nghĩa cảnh huống sư phạm trong nhóm, lớp học măng non. Hiểu đạo đức của thầy cô giáo măng non và cách biểu lộ hành vi đạo đức trong việc xử lý các cảnh huống sư phạm trong nhóm, lớp học măng non. Thực hành cách biểu lộ hành vi đạo đức trong việc xử lý các cảnh huống sư phạm thực tiễn.
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Giáo dục măng non là nền móng của hệ thống giáo dục quốc dân, Điều 23 mục 1 chương 2 Luật giáo dục có chỉ rõ “Nội dung giáo dục măng non là phải đảm bảo thích hợp với sự tăng trưởng tâm sinh lý của trẻ con, hài hoà giữa nuôi dưỡng, và giáo dục giúp trẻ con tăng trưởng hợp lý khoẻ mạnh, nhanh nhảu biết kính trọng, yêu quý, lễ độ với người béo, bè bạn,…thực thà, bạo dạn, hồn nhiên thích thú cái đẹp, ham hiểu biết, thích đi học. Điều 24 có quy định “Chương trình giáo dục măng non trình bày tiêu chí giáo dục măng non, chi tiết hoá các đề nghị về nuôi dưỡng, , giáo dục trẻ con ở từng độ tuổi, quy định việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ tăng trưởng về thể chất, tình cảm, trí óc, thẩm mĩ chỉ dẫn phương pháp bình chọn sự tăng trưởng của trẻ con ở tuổi măng non.
Trong giáo dục ngày nay muốn tiến hành tốt tiêu chí và nội dung trên, hơn người nào hết, những thầy giáo, cô giáo cần tinh thần được nghĩa vụ béo lao của mình để từ đấy ko dừng bồi dưỡng, tăng lên những nhân phẩm đạo đức, kĩ năng xử lý cảnh huống sư phạm, chấm dứt tốt sự nghiệp trồng người, xứng đáng là tâm gương sáng để học trò noi theo.
III. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Qua 12 5 công việc tôi nhận thấy: Trẻ măng non rất nghịch ngợm, hiếu động nhưng mà người béo thường thấy ngộ nghĩnh, cute. Song kế bên đấy còn có những trẻ có biểu lộ khác lạ khiến cô giáo rất trằn trọc… đấy là trẻ có những biểu lộ khác lạ ko giống các bạn khác ở trong lớp hay còn gọi là trẻ “cá biệt” những trẻ này thường có những biểu lộ:
– Trẻ nhút nhát, e lệ, hay khóc ko thích tham dự vào các hoạt động cùng bạn, lười ăn, phản ứng chậm .
Trẻ quá hiếu động, tự do cười nói trong giờ học, giờ ăn, ko tuân theo sự chỉ dẫn của cô, hay vứt đồ chơi và giành giật đồ chơi với bạn, ko nghe lời cô giáo ông bà, ba má.
Trước hiện tượng lớp học như thế, bản thân tôi nhận thấy thiết yếu giải pháp nào đấy với mục tiêu làm giảm, giảm thiểu tới mức cho phép các hành vi nhưng mà trẻ “cá biệt” gây ra, làm bất biến nền nếp của lớp học tạo điều kiện cho trẻ có tính nhút nhát e lệ phát huy được tính hăng hái hoà chung với ko khí học tập của lớp, giúp trẻ nhìn thấy vẻ ngoài sai lầm của mình với phương châm “dạy trẻ từ thủa còn thơ” để trẻ cá biệt nói riêng trẻ măng non khái quát có bước đệm sau này trong việc tạo nên tư cách con người mới xuất sắc.
Trong giáo dục ngành học sư phạm măng non, các cảnh huống thường xuyên xảy ra và muôn màu, muôn vẻ: Khi thì do tranh chấp của trẻ và điều kiện sống, lúc thì yêu cầu của người béo bao quanh với bản lĩnh và tính tình của trẻ, có lúc lại do tranh chấp của chính trẻ con với nhau trong hoạt động.
Cảnh huống trong giáo dục măng non cực kỳ phong phú và nhiều chủng loại bởi sự tăng trưởng của trẻ rất không giống nhau. Mỗi cháu 1 tính tình riêng, 1 bản lĩnh riêng, cảnh huống lại xảy ra trong những thời khắc và ko gian không giống nhau. Không thể có 1 biện pháp nào chung cho mọi đứa trẻ vì mỗi nhỏ là 1 con người biệt lập.
Thời gian qua, ở 1 vài tỉnh, thành trong nước liên tục xảy ra những vụ việc thầy cô giáo măng non bạo hành trẻ bé, gây tâm lý căm thù trong xã hội. Trong thực tiễn tại trường tôi công việc, đôi lúc thầy cô giáo chưa kìm chế được xúc cảm nên vẫn còn hiện trạng la mắng, quát tháo học trò.
Thành ra, vấn đề tăng lên chuẩn mực đạo đức của người dạy và trông trẻ đang được ngành Giáo dục Cà Mau nói riêng và cả nước khái quát cực kỳ ân cần. Với nhiều giải pháp quyết liệt của các cơ sở giáo dục măng non trên khu vực tỉnh, hàng ngũ thầy cô giáo măng non đã và đang dần phấn đấu tự hoàn thiện bản thân, tạo niềm tin đối với các bậc phụ huynh.
* Những nguyên cớ dẫn tới những thực trạng đấy là:
– GV chưa hiểu trẻ và phục vụ nhu cầu cho trẻ trong các hoạt động ở trường măng non.
– GV đôi lúc ko kìm chế được xúc cảm nên tác động tới trẻ.
– Trẻ trong lớp quá đông cũng tạo nhiều sức ép cho GV, GV sẽ thường xuyên bị căng thẳng, từ đấy nhưng mà tâm cảnh ko tốt.
– Do khối lượng công tác quá nhiều, sức ép của công tác khiến GV cảm thấy mỏi mệt sẽ tác động nhiều tới giao tiếp với trẻ.
– GV có quan niệm sai trái lúc cho rằng trẻ tuổi này rất bướng, rất lỳ, và phải giáo dục nghiêm khắc, phải trách phạt, la mắng cho trẻ biết sợ, biết chừa, thường cấm đoán và chỉ mong trẻ biết nghe lời.
Chính vì thế Khả năng truyền đạt cho trẻ măng non phải được trau dồi liên tiếp. Để tạo điều kiện cho cô giáo măng non đỡ bối rối lúc tìm các biện pháp cho các cảnh huống có thể xảy ra lúc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ,
IV. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP:
Biện pháp 1: Đạo đức phải có của người GVMN trong giao ứng cứu xử với trẻ măng non:
– Trong , giáo dục trẻ GV cần phải xoành xoạch mến thương trẻ như con, khôn khéo và thỏa mãn những nhu cầu căn bản của trẻ.
– Giáo viên cần dành mọi nghĩ suy, hành động ưu ái cho trẻ, vì trẻ bảo đảm cho trẻ tăng trưởng tối đa những tiềm năng vốn có.
– Giao ứng cứu xử với trẻ bằng những hành vi cử chỉ dịu hiền, nhẹ nhõm, linh hoạt, vui mừng tạo cho trẻ 1 cảm giác an toàn, bình an, thoải mái được lúc tới trường.
– Tạo ra 1 bầu ko khí gần gũi, linh hoạt trong suốt công đoạn và giáo dục trẻ là điều rất quan trọng.
– Giáo viên cần hiểu trẻ, nên tìm những điểm cộng, điểm hăng hái của trẻ để nêu gương, cổ vũ trẻ tạo cho trẻ có được sự tự tin, phấn chấn.
– Cần tôn trọng trẻ, lắng tai quan điểm của trẻ và chuẩn bị trả lời mọi thắc mắc của trẻ, ko nên lờ đi trước quan điểm của trẻ.
– Giáo viên xử sự công bình với tất cả trẻ, ko phân biệt, so sánh trẻ này với trẻ khác
Biện pháp 2: Phcửa ải có kĩ năng trong xử lí cảnh huống:
– Trước mỗi cảnh huống, GV cần tĩnh tâm ko nên vội vã, hot nẩy.
– Cần linh động trong cách xử lý cảnh huống với trẻ, ko nên cứng nhắc vì mỗi trẻ là 1 cá thể biệt lập, 1 tính cách và thị hiếu không giống nhau.
– Thường xuyên sinh hoạt chuyên môn, cán bộ điều hành có thể nêu ra các cảnh huống để thầy cô giáo khắc phục.
– Chỉ dẫn thầy cô giáo cách phân tách cảnh huống dựa trên đặc điểm của trẻ từ đấy đưa ra cách khắc phục cảnh huống trong giao tiếp, xử sự với trẻ mang tính phần mềm cao.
Biện pháp 3: Đoàn luyện hành vi/ lề thói đạo đức của GVMN trong các cảnh huống giao tiếp, xử sự với trẻ măng non:
– Chấp hành tiến hành mọi chủ trương cơ chế, quy định của Ngành, của bậc học.
– Cùng cộng đồng thầy cô giáo trong nhà trường xây dựng các quy định, đề nghị về đạo đức trong các mối quan hệ với đồng nghiệp, với trẻ, với phụ huynh.
– Phcửa ải là tấm gương sáng, mẫu mực về cá tính trước cộng đồng từ việc đi đứng, nói năng điềm đạm, ăn mặc giản dị, đúng đắn; cách làm việc khoa học.
– Tạo ra 1 bầu ko khí gần gũi, linh hoạt, công bình cùng san sớt, ân cần, tương trợ lẫn nhau là điều rất quan trọng.
– Không dừng tăng lên nhận thức của GVMN về đặc dằn bụng sinh lý của trẻ
– Tổ chức luận bàn, bàn luận về những đặc điểm đặc biệt của trẻ từ đấy cùng nhau đưa ra những giải pháp trong việc giao tiếp, xử sự với trẻ đạt hiệu quả như mong muốn.
Biện pháp 4: Bảo đảm điều kiện làm việc, môi trường làm việc để giảm sức ép đối với thầy cô giáo măng non
Nhiều người nghĩ rằng làm nghề thầy cô giáo măng non dễ chịu và tự do, nhưng mà thực tiễn hoàn toàn chẳng phải tương tự, để lo cho từng bữa ăn giấc ngủ của trẻ, thầy cô giáo măng non phải chịu rất nhiều sức ép. Người thầy cô giáo măng non cũng là người phải xử lý trực tiếp những cảnh huống hay gặp của trẻ bé độ tuổi từ 3 tới 5 như quậy phá, lười ăn, hay mắc tín hiệu của bệnh tự kỷ ….
Hiện trạng quá tải số lượng trẻ tính trên 1 thầy cô giáo đang là vấn đề gây nhiều nhức nhói cho xã hội, và vấn đề này cũng là 1 trong những điều gây sức ép nhất đến các thầy cô giáo măng non. Việc điều hành quá nhiều trẻ bé, từ việc soạn giáo án, chăm lo, tổ chức trò chơi, lên bảng theo dõi công đoạn học tập, chú ý đến tâm lý từng nhỏ khiến các cô luôn phải bận rộn suốt cả ngày, sức ép về thời kì và nghĩa vụ là cực kỳ béo.
Giáo viên măng non ko chỉ là 1 cô giáo thuần tuý nhưng mà chừng như thầy cô giáo măng non giống như người mẹ hiền, người cha làm tất cả cho cả công tác từ bé nhất tới béo nhất, do vậy cần có quan điểm đề nghị với ban giám hiệu nên tạo cho cô giáo 1 môi trường làm việc thỏa mái, ko áp đặt, gò bó, tạo môi trường gần gũi hòa đồng lẫn nhau, cho cô và trẻ cùng trải nghiệm thực tiễn, thăm quan, tham dự vào nhiều phong trào lễ hội thân cận với tự nhiên
Biện pháp 5: Cổ vũ, đãi ngộ và suy tôn người thầy cô giáo măng non:
– Cán bộ điều hành thường xuyên ân cần tới tâm sự, ước vọng của thầy cô giáo măng non và chuẩn bị tương trợ, khích lệ lúc cấp thiết.
– Cần bảo đảm các cơ chế cơ chế cho thầy cô giáo măng non như lợi quyền của công nhân trong việc hưởng lương và phụ cấp, cơ chế nghỉ ốm, nghỉ thai sản….
– Hàng 5 trong các hội nghị cấp quận/huyện,phường/xã, cấp trường vinh danh những GV có trình độ chuyên môn và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục.
– Thực hiện tốt công việc tuyên truyền cho phần đông quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội trên khu vực về vai trò quan trọng của người GVMN trong sự nghiệp đổi mới ngày nay.
* Sau công đoạn học tập bản thân tôi đã thực hành những lý thuyết đã học vào thực tế công việc của mình và đã khắc phục thành công 1 số cảnh huống thường gặp trong công việc của mình như sau:
Cảnh huống 1:
Trong giờ vẽ theo mẫu (vẽ bông hoa) chủ đề “Thực Vật”, mọi trẻ đều say sưa vẽ, nhỏ Thành ngồi im ko vẽ, Cô giáo tới gần và hỏi: “Sao Thành ko vẽ đi, các bạn vẽ rất đẹp và gần xong rồi”. Nhỏ giải đáp: “Con ko thích vẽ bài này”.
Cách khắc phục:
– Cô thử hướng trẻ vào nội dung bài vẽ giống các bạn: “cô thấy Thành vẽ rất đẹp, đẹp hơn nhiều bạn trong lớp. Con vẽ nhé nếu con thấy khó cô sẽ vẽ cùng con”.
– Nếu Thành vẫn ko vẽ, cô sẽ giúp trẻ bằng cách gợi ý hoặc giảng giải trình tự hoặc thể hiện mẫu… tùy theo bản lĩnh của trẻ.
– Nếu trẻ vẫn nhất mực ko vẽ, cô hỏi Thành thích vẽ gì? Cô sẽ đưa mấu tỉ dụ như “vẽ quả bóng” cho con vẽ, nếu trẻ vẽ xong theo thị hiếu cô khích lệ trẻ tiến hành bài học trên.
– Cuối giờ cô nhận xét bài vẽ của cả lớp và dành thời kì nhận xét bài vẽ của Thành nên luôn dành những lời khen ngợi để tiết sau em chủ động hơn.
Cảnh huống 2:
Khi dạy trẻ hát và vỗ tay theo nhịp bài hát: “Chú quân nhân đi xa” nhịp ¾ có 1 số trẻ ko biết vỗ tay theo nhịp nhưng mà vỗ trái lại…
Cách khắc phục:
– Cô dạy trẻ thuộc lời bài hát và chỉ dẫn trẻ vỗ đệm theo nhịp từng câu 1 tới hết bài.
– Nếu trẻ vẫn ko tiến hành được cô cho trẻ đứng vòng tròn hoặc đứng hàng dọc, bước nhúng vào phách mạnh của nhịp, thuở đầu có thể đếm, sau đấy thì ghép nhạc.
Cảnh huống 3:
Trong giờ làm quen với tác phẩm văn chương (dạy trẻ kể chuyện), cô đang say sưa kể chuyện cho trẻ nghe, bỗng 1 nhỏ kêu đau bụng và khóc rất bự.
Cách khắc phục:
– Cô tới gần cháu đấy bế trẻ và công bố cho cả lớp biết tình hình sức khỏe của bạn và đề nghị lớp thứ tự tuân theo đề nghị của bạn lớp trưởng.
– Cô giao nhiệm vụ cho lớp trưởng cho cả lớp đọc thơ, hát hoặc chỉ định các bạn hát, đọc thơ…
– Cô đưa nhỏ bị đau bụng vào phòng nghỉ hoặc trải chiếu cho nhỏ nằm, hỏi nhỏ đã ăn những thức ăn gì, có thể xoa dầu cho nhỏ và theo dõi.
– Nếu thấy cháu ko đỡ cô nhờ cô giáo gánh vác lớp kế bên điều hành lớp và cho cháu xuống phòng y tế của trường theo dõi và xử lí kịp thời, có lí.
Cảnh huống 4:
Trong giờ chơi theo góc của trẻ mẫu giáo, ở góc chơi “Nhỏ tập làm thầy thuốc”, nhỏ Hoa đang hăm hở bế búp bê tới thầy thuốc Mai khám bệnh. Nhỏ Hoa bế búp bê ngồi vào ghế dành cho bệnh nhân, thầy thuốc Mai cứ ngồi nghịch ống nghe nhưng mà ko biết Hoa đang ngồi chờ khám bệnh. Chờ 1 khi nhỏ Hoa bế búp bê đứng dậy, vừa đi vừa quay lại nhìn thầy thuốc Mai. Thầy thuốc Mai vẫn ngồi nghịch ống nghe say sưa
Cách khắc phục:
– Cô nhập vai bệnh nhân tới khám bênh và rủ nhỏ Hoa đồng hành.
– Cô chào thầy thuốc Mai và nhờ thầy thuốc khám bệnh. Khi thầy thuốc khám xong, cô hỏi thầy thuốc Mai xem cô bị bệnh gì? Uống thuốc gì?… Cô nhận thuốc và cảm ơn thầy thuốc, chào thầy thuốc và ra về cố nhắc bệnh nhân Hoa vào khám.
– Cô quan sát, nếu Hoa ko biết giao tiếp với thầy thuốc, cô chỉ dẫn Hoa đóng vai bênh nhân để tiến hành ý nghĩ chơi “mẹ bệnh nhân”.
Cảnh huống 5:
Trong lúc rửa mặt cho trẻ, phát hiện 1 trẻ bị đau mắt thì cần xử lí như thế nào ?
Cách khắc phục:
– Để lại cháu đấy và rửa sau cuối, sau lúc rửa xong cho cháu đấy, khăn mặt phải để ở chậu riêng, giặt bằng xà phòng, luộc nước sôi rồi phơi nắng.
– Cô rửa sạch tay bằng xà phòng, sát khuẩn bằng cồn để tránh lây truyền sang các nhỏ khác.
– Giờ trả nhỏ luận bàn với gia đình để cùng phối hợp (có thể cho trẻ nghỉ học để tránh lây sang các bạn khác).
Cảnh huống 6:
Ở lớp mẫu giáo, giờ đi dạo sân trường, cô tổ chức cho trẻ chơi dịch vụ sửa nhà với cát và nước. Khi thời kì đã hết, cô đề nghị trẻ đi rửa tay, chân để chuyển hoạt động khác. Cháu Hùng nhất mực ko nghe, cứ ngồi chơi mãi, tiếp diễn nghịch cát. Hãy giảng giải hiện tượng trên. Nếu là thầy cô giáo tổ chức hoạt động đấy, bạn sẽ xử lí như thế nào?
Gicửa ải thích:
Biểu hiện tính ngang bướng. Ở tuổi này là khi cái tôi hiện ra. Trẻ đang tự muốn khẳng định mình. Đặc trưng là trẻ rất thích chơi với cát, nước, đất và ít có dịp được chơi nên lúc cô đề nghị trẻ vệ sinh trẻ làm trái lại.
Cách khắc phục:
– Cô nhẹ nhõm giảng giải cho trẻ hiểu thời kì chơi đã hết và gợi ý cho trẻ hoạt động tiếp theo có nhiều đồ chơi, trò chơi rất hay (cô lấy tỉ dụ trò chơi có ở hoạt động tiếp theo).
– Thông báo cho trẻ biết kế hoạch của buổi hoạt động ngoài trời trong tuần (tháng) và cho biết khi đấy nếu nhỏ thích chơi thì nhỏ sẽ chơi tiếp (nếu có nội dung chơi này).
– Nếu cháu vẫn ko chịu cô cho trẻ chơi thêm vào giao hứa với cháu lúc cô rửa tay, chân xong cho bạn rốt cuộc thì tới lượt cháu và cô cháu mình cùng thi rửa tay, chân xem người nào rửa sạch hơn…
Cảnh huống 7:
Trong giờ hoạt động góc của lớp mẫu giáo béo đã diễn ra được khoảng 30 phút. Ở góc chơi xây dựng, trẻ đã xây xong công trình “trường măng non của nhỏ”. Cô giáo đi đến, đứng lại và hỏi trẻ: “Các con xây xong chưa ?“, trẻ giải đáp: “Thưa cô, xong rồi ạ”. Cô giáo đứng ngắm công trình nhà xinh của trẻ 1 lát rồi đi làm việc khác. Trẻ ở góc chơi đấy nhìn theo và hy vọng cô.
Cách khắc phục:
– Cô chuyện trò với trẻ về công trình xây dựng để nắm bắt được ý nghĩ chơi của trẻ.
– Cô và trẻ cùng thảo luận về công trình xây dựng: bố cục, kỹ năng xây dựng của trẻ, cái gì được cô khích lệ, khuyến khích, cái gì chưa được cô gợi ý cho trẻ rút kinh nghiệm.
– Nếu còn thời kì, cô gợi ý xem trẻ có muốn xây dựng thêm gì cho công trình đẹp hơn, hoặc có nhu cầu chơi xây dựng gì nữa (tùy theo thời kì tiến hành chủ đề để gợi ý) và có sẵn sàng đồ chơi cho trẻ tiếp diễn chơi.
Cảnh huống 8:
Cô giáo tập sự ở lớp mẫu giáo béo, cô sẵn sàng dạy trẻ bài hát: “Em thêm 1 tuổi” (Chủ đề tết và mùa xuân), cô giới thiệu tên bài hát, tác giả bài hát và hát cho trẻ nghe. Cô đang hát bỗng 1 nhỏ trai đứng lên nói: “Thôi cô ơi, cô đừng hát nữa, cô hát sai hết cả rồi”, làm cô giáo lúng túng, bối rối và lại càng hát lạc giọng hẳn đi.
Cách khắc phục
– Tới gần cô giáo bảo nhỏ để mình dạy thay và nói với trẻ: “Bữa nay cô Nga dạy lớp mình hơi mệt, nên cô Nga bị mất giọng, cô sẽ giúp cô Nga dạy lớp mình bài hát này nhé”.
– Cô khen nhỏ trai đã biết được nhạc điệu bài hát nhưng mà lần sau nếu muốn phát biểu các nhỏ giơ tay xin phát biểu ko được nói leo nhất là lúc cô giáo đang hát và con bảo nhỏ vào tai cô thôi vì có lúc cô giáo hôm đấy bị ốm nhưng mà vẫn phấn đấu để dạy cả lớp mình để ko tác động đến các bạn khác.
– Góp ý với cô giáo trong nhóm nên sẵn sàng chăm chút trước lúc đi dạy trẻ, nếu hát chưa hay nhưng mà phải hát đúng để bảo đảm chất lượng giờ dạy.
Cảnh huống 9:
Trong giờ ngủ trưa, có 1 số nhỏ chưa ngủ được. Nhỏ thì nằm mở mắt trao tráo, trăn trở suốt buổi trưa, nhỏ thì nằm mãi cảm thấy thừa chân, thừa tay cấu véo bạn nằm kế bên để bạn khóc ré lên, có nhỏ thì lại khóc đòi về với mẹ.
Cách khắc phục:
– Tạo cho trẻ lề thói ngay từ buổi trước nhất lúc cho tới hiện tại ngủ.
– Cô kể chuyện, không tính bự, kể nhè nhẹ để trẻ thứ tự, yên lặng nghe và đơn giản đi vào giấc ngủ hoặc cô hát ru và ân cần tới những nhỏ khó ngủ.
– Trường hợp nhỏ ko muốn ngủ ko nên cưỡng ép trẻ, nên tách trẻ sang phòng khác cho trẻ chơi trò chơi tĩnh như: xếp hình, vẽ, nặn và cùng lúc luận bàn với phụ huynh để bảo đảm cho trẻ được ngủ đủ số thời kì quy định trong 1 ngày.
Cảnh huống 10:
Trong giờ chơi tập có chủ đích (nhân vật trẻ 36 – 48 tháng) với nội dung “ Chọn đồ chơi màu đỏ”. Khi cô giáo đề nghị: “Các con chọn cho cô nơ màu đỏ” thì có 1 số trẻ chọn nơ màu xanh.
Có thể do 3 nguyên cớ:
– Trẻ chưa để mắt nghe đề nghị của cô.
– Trẻ chưa nhận mặt được màu đỏ.
– Trẻ thích làm trái lại đề nghị của cô.
Cách xử lí:
– Cô tới gần và hỏi trẻ trên tay nhỏ đang cầm nơ màu gì và nhắc lại đề nghị để trẻ chọn đúng. Hoặc cho trẻ nhắc lại đề nghị hoặc cầm nơ màu đỏ lên để trẻ so sánh.
– Nếu trẻ ko tìm được cô giúp trẻ tìm và cho trẻ nhắc lại cùng cô màu sắc của nơ cô và trẻ vừa tìm được.
Xã hội càng ngày càng tăng trưởng yêu cầu chất lượng giáo dục càng ngày càng cao hơn, đặt nhiều hy vọng hơn vào lứa tuổi sau. Chính vì thế, người thầy cô giáo phải ko dừng tự cập nhật, tự trau dồi tri thức để phục vụ đề nghị của xã hội, kế bên đấy,việc tăng lên nhân phẩm chính trị, tinh thần đạo đức nghề nghiệp, lối sống và cá tính sư phạm, xây dựng hàng ngũ nhà giáo và cán bộ điều hành giáo dục trong lành, lớn mạnh là việc làm có ý nghĩa cần thiết. Người thầy cô giáo phải ko dừng tự hoàn thiện mình để xứng đáng với niềm tin, niềm hi vọng của quần chúng, xứng đáng là người đi “gieo hạt giống đẹp bao tâm hồn”.
* ĐỀ XUẤT:
+ Đối với Ban Giám Hiệu:
– Thường xuyên xây dựng các chuyên đề không giống nhau để thầy cô giáo kiến giảng học hỏi kinh nghiệm, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ qua các buổi sinh hoạt chuyên môn theo nhu cầu cảu thầy cô giáo.
– Giúp cho thầy cô giáo tăng trưởng và thực hành áp dụng các chuyên đề đã học vào công việc.
+ Đối với Phòng Giáo dục và cấp trên:
Tất cả 11 chuyên đề đều rất thiết thực và cấp thiết đối với người thầy cô giáo măng non nhưng mà em nhận thấy rằng các tri thức đôi lúc còn nặng về phần lý thuyết. Giáo viên được thực hành và trải nghiệm còn giảm thiểu.Thời gian học và viết bài thu hoạch, bài rà soát ít nên học viên còn sẵn sàng chưa được tỉ mỉ, số liệu minh chứng ít. Nên em có 1 số đề nghị sau:
– Thường xuyên xây dựng các chuyên đề tại các trường điểm để cán bộ, thầy cô giáo được tham quan học tập.
– Cấp trên đầu cơ thêm kinh phí, hạ tầng để nhà giáo dục có điều kiện tiến hành các chuyên đề được tốt hơn.
– Nên tổ chức huấn luyện cho tất cả cán bộ, thầy cô giáo theo vẻ ngoài học qua mạng để các học viên được học và thực hành ở mọi khi mọi nơi.
Nhìn chung công tác của thầy cô giáo măng non là muôn nghìn gian nan và sức ép bởi thế cần có sự thông cảm của nhà trường và số đông xã hội, phụ huynh, để chung tay cộng với thầy cô giáo để càng ngày càng tăng lên chất lượng giáo dục trẻ được tốt hơn.
Đề phục vụ nhu cầu giáo dục ngày nay, tôi mong rằng các ngành chỉ đạo có thẩm quyền cần ân cần đặc trưng đối với hàng ngũ thầy cô giáo học thăng hạng như chúng tôi, tạo điều kiện tốt nhất để thầy cô giáo được nâng ngạch công chức sớm nhất.
Em xin thật tình cảm ơn quý thầy cô!.
Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin có lợi khác trên phân mục Tài liệu của Vik News VN.

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Bài #thu #hoạch #lớp #bồi #dưỡng #nâng #hạng #giáo #viên #mầm #hạng #lên #hạng #III


#Bài #thu #hoạch #lớp #bồi #dưỡng #nâng #hạng #giáo #viên #mầm #hạng #lên #hạng #III

Vik News

Đỗ Thủy

Tôi là Đỗ Thủy đam mê sáng tạo viết Blog hàng ngày là những công việc mà tôi đang làm nó thực sự là những gì tôi yêu thích hãy theo dõi tôi để có những kiến thức bổ ích về xã hội ,cộng đồng và học tập.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button