Giáo Dục

Chứng minh câu nói: Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống trong Vợ nhặt

Bài báo chứng thực nhận định sau: Kẻ đói không nghĩ đến cái chết mà là sự sống của người vợ nhặt. Hướng đi táo bạo được thể hiện trong truyện ngắn của Kim Ran.

đề tài: Chứng minh câu nói: Một người đàn ông dâm dục không nghĩ đến cái chết, nhưng tính mạng của một người vợ.

Nội dung bài viết:
I. Tổng quan chi tiết
II. bài văn mẫu

Chứng minh câu nói: Một người đàn ông dâm dục không nghĩ đến cái chết, nhưng tính mạng của một người vợ.

I. Lập dàn ý Để kẻ đói không nghĩ đến cái chết mà tính mạng vợ nhặt (Chuẩn)

1. Mở đầu bài học

Truyện ngắn về người vợ nhặt được “Để kẻ đói không nghĩ đến cái chết, mà là sự sống của người vợ tìm được”.

2. cơ thể

một. Thực tế đen tối của nạn đói:
– Truyện ngắn mở đầu bằng cảnh chết đói nặng nề: “Người chết như gốc cây” và “Không khí vẫn còn mùi rác và xác chết”.
– Con người đang ở ngã rẽ của sự sống và cái chết vì nạn đói, còn những người còn sống thì lặng lẽ giả làm ‘bóng ma’.
– Việc kiếm thức ăn và duy trì sự sống trong nạn đói khủng khiếp đó là vô cùng khó khăn.

cơn mưa. Khát vọng của con người về sức sống và hạnh phúc trong nạn đói:

* Ông. Trang:
– Những người đàn ông xấu xí, chất phác, nhà nghèo, gánh nặng cho gia đình.
→ Lấy một người phụ nữ bình thường đã khó, nhưng lại càng khó hơn khi bạn nghèo.
– Quyết định “vượt mặt” một người phụ nữ xa lạ khi nạn đói xảy ra đỉnh điểm.
→ Quyết định vội vàng và liều lĩnh.

Đằng sau quyết định nhanh chóng và dứt khoát ấy ẩn chứa lòng tốt và khát khao hạnh phúc của Tràng.
+ Tốt bụng và biết ơn
+ Khát vọng tình yêu, khát vọng có một gia đình trọn vẹn.

– Ngay cả sau khi kết hôn, anh ấy đã hoàn toàn thay đổi từ một người đàn ông ngây thơ và thẳng thừng thành một người đàn ông trưởng thành và có trách nhiệm.

* VỢ CHỒNG:
– Những nạn nhân đáng thương của nạn đói.
Vì cái đói, cái nghèo, cô quyết định đi theo một người đàn ông xa lạ và làm vợ anh ta. Một khát vọng sống mạnh mẽ.
– Từ khi làm vợ anh Tràng từ một người đanh đá, đĩnh đạc trở thành một người phụ nữ rất bản lĩnh.
→ Có thể thấy, không chỉ ông Tràng mà người vợ nhặt cũng là người mơ ước hạnh phúc.
– Tích cực vun đắp hạnh phúc gia đình bằng những lời nói và hành động đúng đắn.
– Vào bữa ăn hôm đó, để xoa dịu không khí u ám, nặng nề, chúng tôi nói chuyện ở vùng cao nơi vựa lúa của Nhật bị sập.
→ Có thể nói, sự xuất hiện của nhân vật Thị không chỉ thổi một hơi thở mới vào cuộc sống của người dân làng Ngũ Cư mà còn mang đến không khí vui vẻ, đầm ấm cho gia đình Tràng.

* Bà Tú:
– Tôi rất bất ngờ trước sự xuất hiện bất ngờ của con dâu, nhưng tôi vẫn chân thành chúc mừng hai cháu rằng “Chỉ là duyên số của hai đứa với nhau, nên vợ nên chồng, con cái vui vẻ. “
– Chuẩn bị một món quà cưới đặc biệt cho hai đứa con của bạn.
– Trong giờ ăn, họ kể cho bạn nghe những điều hài hước, vui vẻ, tốt đẹp sau này.
→ Có lẽ bạn muốn cho con bạn hy vọng vào cuộc sống để chúng có thể cùng nhau vượt qua khoảng thời gian khó khăn này.

3. Kết luận

rút ra kết luận chung

II. Bài văn mẫu Chứng minh câu tục ngữ: Một người đàn ông ham muốn không nghĩ đến cái chết, mà là tính mạng của vợ mình.

[Nhiềunhàvănviếtvềnạnđóinăm1945đãlênánsựtànáccủathựcdânPhápbằngngòibútcủahọphơibàycuộcđờibithảmcủanhữngngườidânvôtộivànhữnghiệnthựcnghiệtngãcủathờicuộc”VợNhặt”khôngmiêutảsựkhốncùngvàbikịchcủaconngườinhưnhữngtácphẩmkhácnhữngnhàvăncùngthờiđạinhưngđềuchútrọngvẻđẹpđángquýtrongtâmhồnhọ[1945년기근에대해쓴많은작가들은자신의펜으로무고한사람들의비극적인삶과시대의암울한현실을폭로함으로써프랑스식민주의자들의잔혹성을규탄했습니다그리고일본제국또한배고픔을주제로글을썼지만김란의’주워진아내’는같은시대의다른작가들처럼사람들의비참함과비극을그린것이아니라그들의영혼속에있는소중한아름다움을그리는데집중했다김란작가는단편소설<주워주신아내>Họ nói điều này về “những người cận kề cái chết dù trong hoàn cảnh khốn cùng không nghĩ đến cái chết, họ vẫn nhìn vào cuộc sống, vẫn còn hy vọng và tin tưởng vào tương lai họ vẫn muốn sống, họ muốn sống như những con người. “

Truyện ngắn mở đầu bằng khung cảnh đìu hiu, đói kém nặng nề: “Người chết như gốc cây, quạ kêu thảm thiết”. Trong không gian u ám đầy xác sống và người chết, “không khí vẫn bốc mùi của rác và xác chết”. Nạn đói đã đẩy con người ta đến ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, may mắn thay những người ‘chết một chút’ lại vấp ngã, loạng choạng mất sức sống, lặng lẽ loạng choạng như ‘bóng ma’. Ăn thức ăn và duy trì sự sống lại trong nạn đói khủng khiếp đó là một điều xa xỉ. Vì vậy, khi thấy anh Trang “đi ngang qua” và “nhặt được vợ” của người khác, người dân thôn Ngư Cù vừa lo lắng cho tương lai của anh Trang vừa thở phào nhẹ nhõm. Bà Tuno rất yêu quý con trai và vui mừng trước hạnh phúc mới của con trai, nhưng không khỏi lo lắng không biết hai vợ chồng có nuôi được nhau đói khát hay không.

Ông Tràng, bà cụ Tứ hay người vợ nhặt đều là những nạn nhân đáng thương của nạn đói. Họ bị cản trở bởi cái đói và bị đẩy vào ranh giới mong manh của sự sống và cái chết. Anh Trang sống với mẹ trong căn nhà dột nát ở xóm Ngõ và hàng ngày làm nghề kéo xe kéo để kiếm sống. Người vợ sống lang thang để trốn đói, nhưng không nhận người lạ làm vợ. Tuy nhiên, trong hiện thực bi thảm và nghiệt ngã của nạn đói, người đọc chợt nhận ra vẻ đẹp đáng quý bên trong những con người ấy: sức sống mãnh liệt, khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc.

Bác Tràng là một người đàn ông xấu xí, nhà nghèo đơn sơ, là gánh nặng của gia đình. Bình thường đã khó lấy chồng, đến lúc đói kém có thể nói là càng xa xỉ. Nhưng sau hai lần gặp gỡ tình cờ và một vài câu nói đùa tình cờ, anh đã có được một “cô vợ tiện nhân”. Đói bụng, trước mắt chị Trang vẫn ôm ấp một người đàn bà xa lạ, không biết cuộc đời chị sẽ ra sao. Đây có thể gọi là hành vi liều lĩnh và liều lĩnh. Nhưng đằng sau quyết định nhanh chóng và dứt khoát ấy là lòng tốt và khát khao hạnh phúc của Tràng. Là người khao khát được sống, khao khát được yêu thương chân thành và chấp nhận sinh con với người dưng, có lẽ Trang sẽ ấp ủ ước mơ về một gia đình nhỏ, một lứa đôi hạnh phúc.

Trong niềm hạnh phúc bất chợt, Trang nói: “Quên đi mọi thứ, quên đi cái đói rét đeo đuổi, quên đi những tháng ngày đã qua”. Sau khi kết hôn, suy nghĩ của tôi thay đổi rất nhiều, tôi trưởng thành hơn và sống có tinh thần trách nhiệm hơn. Từ một người đàn ông cộc lốc và cộc cằn, anh trở thành một người đàn ông tình nghĩa và trách nhiệm, anh nói: “Tôi thấy mình yêu ngôi nhà của mình đến lạ lùng” và “Tôi thấy mình cần có trách nhiệm hơn với vợ con”.

Người vợ nhặt được là một người phụ nữ ít nói và ít nói. Vì đồ ăn, cô không ngần ngại nhờ Trang phục vụ cho mình một bữa ăn. Cũng vì cái đói, cái nghèo mà nàng đã lấy một người lạ làm vợ. Ấn tượng đầu tiên của người vợ khi đặt một “hạt giống” vào tâm trí người đọc là sự trơ trẽn. Nhưng vẻ mặt thảm hại và cách ăn uống cho thấy người phụ nữ này đã chết đói quá lâu. Hành vi dâm ô của cô ta có lẽ không phải do bản tính mà do cách phản kháng lại số phận và cuộc đời. Điều này càng rõ ràng hơn khi cô theo Trang về nhà. Từ một người phụ nữ thô kệch và sang chảnh trở thành một người phụ nữ vô cùng lý trí.

Dù thất vọng khi chứng kiến ​​cảnh nghèo khó của gia đình anh trai, nhưng cô vẫn thở dài, vẫn cố giấu ‘quầng thâm dưới mắt’. Trà chào bà cụ Tứ rồi dậy sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp vườn tược, chuẩn bị bữa cơm cho ngày đói. Có thể thấy, không chỉ Tràng, mà cả người vợ nhặt được đều là những người mơ về hạnh phúc. Chúng ta tích cực thúc đẩy hạnh phúc trong gia đình bằng những lời nói và hành động đúng đắn. Vừa ăn, cô vừa nuốt vội miếng cháo đắng và cố giấu mong mẹ chồng không buồn dù có bị bóp cổ. Để xoa dịu sự nặng nề của bữa ăn, cô ấy kể những câu chuyện ngược dòng nơi người ta phá bỏ kho thóc của Nhật Bản. Có thể nói, sự xuất hiện của nhân vật Thị không chỉ thổi hơi thở mới vào cuộc sống của người dân làng Ngũ Cư mà còn mang đến không khí vui vẻ, đầm ấm cho gia đình Tràng.

Dù là một bà mẹ đáng yêu, hai bà cũng giật mình vì sự xuất hiện của cô con dâu lạ, nhưng họ cũng chân thành chúc mừng: “Thôi, sống với nhau cũng là cái phúc, cái phúc cũng là cái phúc”. Cái đói và cái chết có thể dẫn đến những ám ảnh khủng khiếp, nhưng giữa cái đói, bà lão vẫn bộc lộ tình yêu thương con thật sự của mình. Bữa cơm ngày đói, bà lão cần mẫn chuẩn bị món quà cưới đặc biệt cho hai con. Cho dù cháo đắng đã làm lu mờ tâm trạng của bữa ăn, mẹ tôi vẫn cố gắng động viên tôi. Có lẽ người mẹ muốn cho con cái mình hy vọng vào cuộc sống để họ có thể cùng nhau vượt qua khoảng thời gian khó khăn này.

Tôi viết về cái đói, nhưng điều đọng lại cuối cùng trong tâm trí người đọc không phải là nỗi ám ảnh về cái đói và cái chết, mà là ánh sáng của con người, niềm tin vào cuộc sống. Những người này hướng đến sự sống mà không nghĩ đến cái chết ngay cả khi họ cận kề cái chết trong tình thế vô vọng.

——hoàn thành——

https://thuthuat.taimienphi.vn/chung-minh-cau-noi-nhung-nguoi-doi-ho-khong-nghi-den-cai-chet-ma-nghi-den-cai-song-tong-vo- nhat-68871n.aspx
Một truyện ngắn xuất sắc về nạn đói của Kim Ran. Để tìm ra giá trị và đặc điểm của tác phẩm, các em không nên bỏ qua bài văn mẫu cùng với gia sư ‘Lối sống chưa hiểu’. Các tính năng khác như: Cảm giác đói lao động đối với bữa ăn hôm nay do vợ nhặtSuy nghĩ về cái kết của câu chuyện về người vợ được chọn, Tình cảm của anh (chị) đối với nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặtTrong Nhặt Vợ, bạn cảm nhận được vẻ đẹp như người mẹ của bà Tú.

Xem thêm thông tin Chứng minh câu nói: Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống trong Vợ nhặt

Chứng minh câu nói: Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống trong Vợ nhặt

Bài văn chứng minh câu nói: Ai đói thì không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến cuộc đời ở người vợ nhặt sẽ giúp ta thấy được sức sống mãnh liệt của con người trong nạn đói, cùng với giá trị nhân văn. Hướng đi táo bạo được nhà văn Kim Lân thể hiện trong truyện ngắn.
Chủ đề: Chứng minh câu nói: Ai thèm khát không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến sự sống ở người vợ nhặt.
Mục lục bài viết:I. Đề cương chi tiếtII. Bài văn mẫu

Chứng minh câu nói: Ai thèm khát không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến sự sống ở người vợ nhặt.
I. Lập dàn ý Để chứng minh cho câu nói: Những kẻ đói khổ, không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến sự sống ở người vợ nhặt (Chuẩn)
1. Mở bài
Giới thiệu truyện ngắn Vợ Nhặt và nhận xét: “Kẻ đói không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến cái sống ở người vợ nhặt”.
2. Cơ thể
Một. Thực tế đen tối của nạn đói:– Truyện ngắn mở đầu bằng khung cảnh đìu hiu, nặng nề của nạn đói “người chết như ngả rạ”, “không khí vẫn còn mùi rác và mùi xác chết”.– Con người bị nạn đói đẩy đến ranh giới sinh tử mỏng manh, những người còn sống thì lặng lẽ giả làm “bóng ma”.– Trong nạn đói khủng khiếp đó, để có lương thực và duy trì sự sống là điều vô cùng khó khăn.
b. Sức sống mãnh liệt và khát vọng hạnh phúc của con người trong nạn đói:
* Anh Trang:– Một người đàn ông xấu xí, chất phác, nhà nghèo, gánh nặng gia đình.→ Lấy vợ bình thường đã khó, lúc đói kém lại càng xa xỉ.– Quyết định “qua mặt” một người phụ nữ lạ trong lúc nạn đói khốc liệt nhất.→ Quyết định hấp tấp và liều lĩnh.
– Đằng sau quyết định nhanh chóng, dứt khoát ấy là lòng nhân hậu và khát vọng hạnh phúc của Tràng:+ Nhân hậu, giàu lòng biết ơn+ Khát vọng tình yêu, khát khao có một gia đình trọn vẹn.
– Từ khi có vợ, anh cũng thay đổi hẳn, từ một người đàn ông ngây thơ, vô tâm trở thành một người đàn ông trưởng thành, có trách nhiệm.
* Người vợ nhặt:– Một nạn nhân đáng thương của nạn đói.– Vì cái đói, cái nghèo, nàng đã chấp nhận đi theo một người đàn ông xa lạ về làm vợ. Khát vọng sống mãnh liệt.– Từ khi theo Tràng về làm vợ, từ một người đanh đá, chua ngoa trở thành một người phụ nữ rất đảm đang.→ Có thể thấy, không chỉ có ông Tràng, người vợ nhặt cũng là người khao khát hạnh phúc.– Thị tích cực vun vén hạnh phúc gia đình bằng những lời nói và hành động đúng đắn.– Trong bữa cơm ngày đói, để xua đi không khí u ám, nặng nề, bà kể chuyện ở vùng cao người ta phá kho thóc của Nhật.→ Có thể nói, sự xuất hiện của nhân vật Thị không chỉ thổi một hơi thở mới vào cuộc sống của người dân xóm Ngũ Cư mà còn mang đến không khí vui vẻ, đầm ấm cho gia đình Tràng.
* Bà Tư:– Dù rất bất ngờ trước sự xuất hiện của con dâu lạ nhưng bà vẫn chân thành chúc mừng hai con “Thôi thì có duyên với nhau, vợ chồng con cái cũng vui”.– Chuẩn bị một món quà cưới đặc biệt cho hai con.– Trong bữa ăn, cô nói về những điều vui vẻ, hạnh phúc và tốt đẹp sau này.→ Có lẽ người mẹ đó muốn truyền cho con mình niềm hi vọng vào cuộc sống để họ cùng nhau vượt qua quãng thời gian khó khăn này.
3. Kết luận
Rút ra kết luận chung
II. Bài văn mẫu Chứng minh câu nói: Ai thèm khát không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến sự sống ở người vợ nhặt.
Viết về nạn đói năm 1945, nhiều nhà văn đã dùng ngòi bút của mình để vạch trần cuộc đời bi thảm của những người dân vô tội và hiện thực đen tối của thời cuộc, từ đó lên án sự tàn ác của thực dân Pháp. và Đế quốc Nhật Bản. Cũng viết về đề tài cái đói nhưng “Vợ nhặt” của Kim Lân không viết về nỗi khốn cùng, bi kịch của con người như các nhà văn cùng thời mà tập trung khắc họa vẻ đẹp đáng quý bên trong tâm hồn họ. . Điều đó được thể hiện qua lời chia sẻ của nhà văn Kim Lân về truyện ngắn Vợ nhặt “Trong hoàn cảnh éo le, dù cận kề cái chết nhưng những con người này không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng về cuộc sống, vẫn hy vọng, tin tưởng vào tương lai . Họ vẫn muốn sống, sống để làm người “.
Truyện ngắn mở đầu bằng một khung cảnh ảm đạm, nặng nề của nạn đói, khi “Người chết như rạ, quạ kêu thảm thiết”. Trong không gian u ám ấy, trên mặt đất ngổn ngang người sống và người chết, “không khí vẫn còn nồng nặc mùi hôi thối của rác thải và mùi hôi thối của xác người”. Con người bị nạn đói đẩy đến ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, những người may mắn “hơi chết” một chút cũng bị vắt kiệt sức sống và lảo đảo, lặng lẽ như những “bóng ma”. Trong nạn đói khủng khiếp đó, để có thức ăn và duy trì sự sống lại là một điều xa xỉ. Có lẽ vì vậy mà khi chứng kiến ​​cảnh ông Tráng “qua tay” người khác “nhặt vợ”, người dân thôn Ngư Cù thở phào, lo lắng cho tương lai của ông Tráng. Ngay cả bà cụ Tứ dù hết mực yêu thương con, mừng cho hạnh phúc mới của con trai nhưng cũng không tránh khỏi nỗi lo “Không biết hai vợ chồng có nuôi nhau nổi qua cơn đói khát này không”.
Ông Tràng, bà cụ Tứ hay người vợ nhặt đều là những nạn nhân đáng thương của nạn đói. Họ bị cản trở bởi đói khát và bị đẩy đến ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Anh Trang sống với mẹ trong căn nhà xập xệ, cũ kỹ ở xóm Ngọ, hàng ngày anh làm nghề kéo xe ba gác để kiếm sống. Người vợ nhặt của một đời lang thang, để tránh cái đói, nhưng lại chấp nhận không phải một người đàn ông xa lạ làm vợ. Tuy nhiên, trong hiện thực bi thảm, tăm tối của nạn đói, người đọc chợt nhận ra những nét đẹp đáng quý bên trong những con người ấy, đó là sức sống mãnh liệt, khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc.
Chú Tràng là một người đàn ông xấu xí, chất phác, nhà nghèo, gánh nặng gia đình. Có thể nói, trong hoàn cảnh bình thường anh đã khó lấy vợ, khi xảy ra nạn đói lại càng trở nên xa xỉ. Vậy mà sau hai lần gặp gỡ tình cờ và một vài câu chuyện đùa ngẫu nhiên, anh đã có được một cô vợ “kén vợ”. Giữa cơn đói, anh Tràng vẫn cõng một người đàn bà xa lạ mà chính anh cũng không biết cuộc đời mình trước mặt sẽ ra sao. Có thể nói, đây là một hành động liều lĩnh và liều lĩnh. Nhưng đằng sau quyết định nhanh chóng và dứt khoát ấy là lòng nhân ái và khát vọng hạnh phúc của Tràng. Anh khao khát được sống, khao khát được yêu thương chân thành, khi anh chấp nhận cưu mang một người đàn bà xa lạ, có lẽ Tràng cũng ấp ủ ước mơ về một gia đình nhỏ, về một lứa đôi hạnh phúc.
Niềm hạnh phúc bất ngờ khiến Tràng “quên đi tất cả, quên đi cái đói rét đang đeo đuổi, quên đi tháng ngày đã qua”. Từ khi có vợ, tâm lý của anh ấy cũng thay đổi, anh ấy trưởng thành và có trách nhiệm hơn. Từ một người đàn ông chất phác, vô tâm, anh đã trở thành một người đàn ông trọng tình nghĩa, giàu trách nhiệm, “Anh thấy mình yêu nhà mình đến lạ lùng”, “Anh thấy mình phải có trách nhiệm hơn với vợ con sau này”.
Người vợ nhặt được nó là một người phụ nữ nói nhiều, ít nói. Vì miếng ăn, bà không ngần ngại mắng mỏ đòi ăn Trang “đãi” cô một bữa. Cũng vì cái đói, cái nghèo mà chị chấp nhận theo một người đàn ông lạ về làm vợ. Ấn tượng đầu tiên về người vợ nhặt “gieo” vào lòng người đọc là sự trơ trẽn, trơ trẽn. Tuy nhiên, nếu nhìn vào phong thái và cách ăn uống thảm hại của cô ấy, chúng ta có thể thấy người phụ nữ này đã nhịn đói quá lâu. Những hành động vô duyên của cô ấy có lẽ không phải do bản tính mà chỉ là cách phản kháng của cô ấy trước số phận và cuộc đời. Điều này càng rõ ràng hơn khi cô theo Trang về nhà. Từ một người phụ nữ đanh đá, chua ngoa trở thành một người phụ nữ vô cùng lý trí.
Chứng kiến ​​cảnh gia đình nghèo khó của anh trai, dù thất vọng nhưng chị vẫn cố giấu trong “đôi mắt thâm quầng và nén tiếng thở dài”. Thị chủ động đến chào bà cụ Tứ, dậy sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp vườn tược, chuẩn bị bữa ăn cho ngày đói. Có thể thấy, không riêng gì anh Tràng, người vợ nhặt được cũng là người khao khát hạnh phúc. Thị tích cực vun vén hạnh phúc gia đình bằng những lời nói và hành động đúng đắn. Ngay cả trong bữa cơm, khi nuốt phải miếng cháo đắng ngắt, nghẹn ngào trong cổ họng, cô vẫn cố giấu đi sự thất vọng vì không muốn mẹ chồng buồn. Để xua tan không khí nặng nề của bữa ăn, cô kể chuyện ở thượng nguồn, người dân phá bỏ kho thóc của người Nhật. Có thể nói, sự xuất hiện của nhân vật Thị không chỉ thổi một hơi thở mới vào cuộc sống của người dân xóm Ngũ Cư mà còn mang đến không khí vui vẻ, đầm ấm cho gia đình Tràng.
Bà cụ Tứ là người mẹ thương con, dù bất ngờ trước sự xuất hiện của con dâu xa lạ nhưng bà vẫn chân thành chúc mừng hai đứa “Thôi thì có duyên, ở chung cũng có phúc”. Cái đói và cái chết có thể mang đến những ám ảnh khủng khiếp, nhưng trong cơn đói, bà lão vẫn thắp lên tình yêu thương chân thành dành cho đứa con của mình. Bữa cơm ngày đói, bà cụ miệt mài chuẩn bị món quà cưới đặc biệt cho hai con. Ngay cả khi không khí bữa ăn chùng xuống vì cháo đắng, mẹ vẫn cố động viên con, kể nhiều chuyện vui, hay sau này. Có lẽ người mẹ đó muốn truyền cho con cái niềm hy vọng vào cuộc sống để họ cùng nhau vượt qua quãng thời gian khó khăn này.
Viết về cái đói, nhưng điều đọng lại cuối cùng trong lòng người đọc không phải là nỗi ám ảnh về cái đói và cái chết, mà là ánh sáng của tình người, của niềm tin vào cuộc sống. Trong hoàn cảnh éo le, dù cận kề cái chết nhưng những người này không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng đến sự sống.
—————–KẾT THÚC—————–
https://thuthuat.taimienphi.vn/chung-minh-cau-noi-nhung-nguoi-doi-ho-khong-nghi-den-cai-chet-ma-nghi-den-cai-song-trong-vo- nhat-68871n.aspx Nhặt Vợ là một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Kim Lân viết về những con người trong nạn đói. Tìm hiểu giá trị và nét đặc sắc của tác phẩm, ngoài bài Chứng minh câu nói: Thói đời không thấu, tưởng chết vợ nhặt, các em không nên bỏ qua những bài văn mẫu. Các tính năng khác như: Cảm nhận về bữa cơm ngày đói trong tác phẩm Vợ nhặtSuy nghĩ về đoạn kết của truyện Vợ Nhặt, Cảm nhận về nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặtCảm nhận về vẻ đẹp tình mẫu tử của bà cụ Tứ trong tác phẩm Nhặt Vợ.

#Chứng #minh #câu #nói #Những #người #đói #họ #không #nghĩ #đến #cái #chết #mà #nghĩ #đến #cái #sống #trong #Vợ #nhặt

Bài văn chứng minh câu nói: Ai đói thì không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến cuộc đời ở người vợ nhặt sẽ giúp ta thấy được sức sống mãnh liệt của con người trong nạn đói, cùng với giá trị nhân văn. Hướng đi táo bạo được nhà văn Kim Lân thể hiện trong truyện ngắn.
Chủ đề: Chứng minh câu nói: Ai thèm khát không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến sự sống ở người vợ nhặt.
Mục lục bài viết:I. Đề cương chi tiếtII. Bài văn mẫu

Chứng minh câu nói: Ai thèm khát không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến sự sống ở người vợ nhặt.
I. Lập dàn ý Để chứng minh cho câu nói: Những kẻ đói khổ, không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến sự sống ở người vợ nhặt (Chuẩn)
1. Mở bài
Giới thiệu truyện ngắn Vợ Nhặt và nhận xét: “Kẻ đói không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến cái sống ở người vợ nhặt”.
2. Cơ thể
Một. Thực tế đen tối của nạn đói:– Truyện ngắn mở đầu bằng khung cảnh đìu hiu, nặng nề của nạn đói “người chết như ngả rạ”, “không khí vẫn còn mùi rác và mùi xác chết”.– Con người bị nạn đói đẩy đến ranh giới sinh tử mỏng manh, những người còn sống thì lặng lẽ giả làm “bóng ma”.– Trong nạn đói khủng khiếp đó, để có lương thực và duy trì sự sống là điều vô cùng khó khăn.
b. Sức sống mãnh liệt và khát vọng hạnh phúc của con người trong nạn đói:
* Anh Trang:– Một người đàn ông xấu xí, chất phác, nhà nghèo, gánh nặng gia đình.→ Lấy vợ bình thường đã khó, lúc đói kém lại càng xa xỉ.– Quyết định “qua mặt” một người phụ nữ lạ trong lúc nạn đói khốc liệt nhất.→ Quyết định hấp tấp và liều lĩnh.
– Đằng sau quyết định nhanh chóng, dứt khoát ấy là lòng nhân hậu và khát vọng hạnh phúc của Tràng:+ Nhân hậu, giàu lòng biết ơn+ Khát vọng tình yêu, khát khao có một gia đình trọn vẹn.
– Từ khi có vợ, anh cũng thay đổi hẳn, từ một người đàn ông ngây thơ, vô tâm trở thành một người đàn ông trưởng thành, có trách nhiệm.
* Người vợ nhặt:– Một nạn nhân đáng thương của nạn đói.– Vì cái đói, cái nghèo, nàng đã chấp nhận đi theo một người đàn ông xa lạ về làm vợ. Khát vọng sống mãnh liệt.– Từ khi theo Tràng về làm vợ, từ một người đanh đá, chua ngoa trở thành một người phụ nữ rất đảm đang.→ Có thể thấy, không chỉ có ông Tràng, người vợ nhặt cũng là người khao khát hạnh phúc.– Thị tích cực vun vén hạnh phúc gia đình bằng những lời nói và hành động đúng đắn.– Trong bữa cơm ngày đói, để xua đi không khí u ám, nặng nề, bà kể chuyện ở vùng cao người ta phá kho thóc của Nhật.→ Có thể nói, sự xuất hiện của nhân vật Thị không chỉ thổi một hơi thở mới vào cuộc sống của người dân xóm Ngũ Cư mà còn mang đến không khí vui vẻ, đầm ấm cho gia đình Tràng.
* Bà Tư:– Dù rất bất ngờ trước sự xuất hiện của con dâu lạ nhưng bà vẫn chân thành chúc mừng hai con “Thôi thì có duyên với nhau, vợ chồng con cái cũng vui”.– Chuẩn bị một món quà cưới đặc biệt cho hai con.– Trong bữa ăn, cô nói về những điều vui vẻ, hạnh phúc và tốt đẹp sau này.→ Có lẽ người mẹ đó muốn truyền cho con mình niềm hi vọng vào cuộc sống để họ cùng nhau vượt qua quãng thời gian khó khăn này.
3. Kết luận
Rút ra kết luận chung
II. Bài văn mẫu Chứng minh câu nói: Ai thèm khát không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến sự sống ở người vợ nhặt.
Viết về nạn đói năm 1945, nhiều nhà văn đã dùng ngòi bút của mình để vạch trần cuộc đời bi thảm của những người dân vô tội và hiện thực đen tối của thời cuộc, từ đó lên án sự tàn ác của thực dân Pháp. và Đế quốc Nhật Bản. Cũng viết về đề tài cái đói nhưng “Vợ nhặt” của Kim Lân không viết về nỗi khốn cùng, bi kịch của con người như các nhà văn cùng thời mà tập trung khắc họa vẻ đẹp đáng quý bên trong tâm hồn họ. . Điều đó được thể hiện qua lời chia sẻ của nhà văn Kim Lân về truyện ngắn Vợ nhặt “Trong hoàn cảnh éo le, dù cận kề cái chết nhưng những con người này không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng về cuộc sống, vẫn hy vọng, tin tưởng vào tương lai . Họ vẫn muốn sống, sống để làm người “.
Truyện ngắn mở đầu bằng một khung cảnh ảm đạm, nặng nề của nạn đói, khi “Người chết như rạ, quạ kêu thảm thiết”. Trong không gian u ám ấy, trên mặt đất ngổn ngang người sống và người chết, “không khí vẫn còn nồng nặc mùi hôi thối của rác thải và mùi hôi thối của xác người”. Con người bị nạn đói đẩy đến ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, những người may mắn “hơi chết” một chút cũng bị vắt kiệt sức sống và lảo đảo, lặng lẽ như những “bóng ma”. Trong nạn đói khủng khiếp đó, để có thức ăn và duy trì sự sống lại là một điều xa xỉ. Có lẽ vì vậy mà khi chứng kiến ​​cảnh ông Tráng “qua tay” người khác “nhặt vợ”, người dân thôn Ngư Cù thở phào, lo lắng cho tương lai của ông Tráng. Ngay cả bà cụ Tứ dù hết mực yêu thương con, mừng cho hạnh phúc mới của con trai nhưng cũng không tránh khỏi nỗi lo “Không biết hai vợ chồng có nuôi nhau nổi qua cơn đói khát này không”.
Ông Tràng, bà cụ Tứ hay người vợ nhặt đều là những nạn nhân đáng thương của nạn đói. Họ bị cản trở bởi đói khát và bị đẩy đến ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Anh Trang sống với mẹ trong căn nhà xập xệ, cũ kỹ ở xóm Ngọ, hàng ngày anh làm nghề kéo xe ba gác để kiếm sống. Người vợ nhặt của một đời lang thang, để tránh cái đói, nhưng lại chấp nhận không phải một người đàn ông xa lạ làm vợ. Tuy nhiên, trong hiện thực bi thảm, tăm tối của nạn đói, người đọc chợt nhận ra những nét đẹp đáng quý bên trong những con người ấy, đó là sức sống mãnh liệt, khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc.
Chú Tràng là một người đàn ông xấu xí, chất phác, nhà nghèo, gánh nặng gia đình. Có thể nói, trong hoàn cảnh bình thường anh đã khó lấy vợ, khi xảy ra nạn đói lại càng trở nên xa xỉ. Vậy mà sau hai lần gặp gỡ tình cờ và một vài câu chuyện đùa ngẫu nhiên, anh đã có được một cô vợ “kén vợ”. Giữa cơn đói, anh Tràng vẫn cõng một người đàn bà xa lạ mà chính anh cũng không biết cuộc đời mình trước mặt sẽ ra sao. Có thể nói, đây là một hành động liều lĩnh và liều lĩnh. Nhưng đằng sau quyết định nhanh chóng và dứt khoát ấy là lòng nhân ái và khát vọng hạnh phúc của Tràng. Anh khao khát được sống, khao khát được yêu thương chân thành, khi anh chấp nhận cưu mang một người đàn bà xa lạ, có lẽ Tràng cũng ấp ủ ước mơ về một gia đình nhỏ, về một lứa đôi hạnh phúc.
Niềm hạnh phúc bất ngờ khiến Tràng “quên đi tất cả, quên đi cái đói rét đang đeo đuổi, quên đi tháng ngày đã qua”. Từ khi có vợ, tâm lý của anh ấy cũng thay đổi, anh ấy trưởng thành và có trách nhiệm hơn. Từ một người đàn ông chất phác, vô tâm, anh đã trở thành một người đàn ông trọng tình nghĩa, giàu trách nhiệm, “Anh thấy mình yêu nhà mình đến lạ lùng”, “Anh thấy mình phải có trách nhiệm hơn với vợ con sau này”.
Người vợ nhặt được nó là một người phụ nữ nói nhiều, ít nói. Vì miếng ăn, bà không ngần ngại mắng mỏ đòi ăn Trang “đãi” cô một bữa. Cũng vì cái đói, cái nghèo mà chị chấp nhận theo một người đàn ông lạ về làm vợ. Ấn tượng đầu tiên về người vợ nhặt “gieo” vào lòng người đọc là sự trơ trẽn, trơ trẽn. Tuy nhiên, nếu nhìn vào phong thái và cách ăn uống thảm hại của cô ấy, chúng ta có thể thấy người phụ nữ này đã nhịn đói quá lâu. Những hành động vô duyên của cô ấy có lẽ không phải do bản tính mà chỉ là cách phản kháng của cô ấy trước số phận và cuộc đời. Điều này càng rõ ràng hơn khi cô theo Trang về nhà. Từ một người phụ nữ đanh đá, chua ngoa trở thành một người phụ nữ vô cùng lý trí.
Chứng kiến ​​cảnh gia đình nghèo khó của anh trai, dù thất vọng nhưng chị vẫn cố giấu trong “đôi mắt thâm quầng và nén tiếng thở dài”. Thị chủ động đến chào bà cụ Tứ, dậy sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp vườn tược, chuẩn bị bữa ăn cho ngày đói. Có thể thấy, không riêng gì anh Tràng, người vợ nhặt được cũng là người khao khát hạnh phúc. Thị tích cực vun vén hạnh phúc gia đình bằng những lời nói và hành động đúng đắn. Ngay cả trong bữa cơm, khi nuốt phải miếng cháo đắng ngắt, nghẹn ngào trong cổ họng, cô vẫn cố giấu đi sự thất vọng vì không muốn mẹ chồng buồn. Để xua tan không khí nặng nề của bữa ăn, cô kể chuyện ở thượng nguồn, người dân phá bỏ kho thóc của người Nhật. Có thể nói, sự xuất hiện của nhân vật Thị không chỉ thổi một hơi thở mới vào cuộc sống của người dân xóm Ngũ Cư mà còn mang đến không khí vui vẻ, đầm ấm cho gia đình Tràng.
Bà cụ Tứ là người mẹ thương con, dù bất ngờ trước sự xuất hiện của con dâu xa lạ nhưng bà vẫn chân thành chúc mừng hai đứa “Thôi thì có duyên, ở chung cũng có phúc”. Cái đói và cái chết có thể mang đến những ám ảnh khủng khiếp, nhưng trong cơn đói, bà lão vẫn thắp lên tình yêu thương chân thành dành cho đứa con của mình. Bữa cơm ngày đói, bà cụ miệt mài chuẩn bị món quà cưới đặc biệt cho hai con. Ngay cả khi không khí bữa ăn chùng xuống vì cháo đắng, mẹ vẫn cố động viên con, kể nhiều chuyện vui, hay sau này. Có lẽ người mẹ đó muốn truyền cho con cái niềm hy vọng vào cuộc sống để họ cùng nhau vượt qua quãng thời gian khó khăn này.
Viết về cái đói, nhưng điều đọng lại cuối cùng trong lòng người đọc không phải là nỗi ám ảnh về cái đói và cái chết, mà là ánh sáng của tình người, của niềm tin vào cuộc sống. Trong hoàn cảnh éo le, dù cận kề cái chết nhưng những người này không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng đến sự sống.
—————–KẾT THÚC—————–
https://thuthuat.taimienphi.vn/chung-minh-cau-noi-nhung-nguoi-doi-ho-khong-nghi-den-cai-chet-ma-nghi-den-cai-song-trong-vo- nhat-68871n.aspx Nhặt Vợ là một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Kim Lân viết về những con người trong nạn đói. Tìm hiểu giá trị và nét đặc sắc của tác phẩm, ngoài bài Chứng minh câu nói: Thói đời không thấu, tưởng chết vợ nhặt, các em không nên bỏ qua những bài văn mẫu. Các tính năng khác như: Cảm nhận về bữa cơm ngày đói trong tác phẩm Vợ nhặtSuy nghĩ về đoạn kết của truyện Vợ Nhặt, Cảm nhận về nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặtCảm nhận về vẻ đẹp tình mẫu tử của bà cụ Tứ trong tác phẩm Nhặt Vợ.

#Chứng #minh #câu #nói #Những #người #đói #họ #không #nghĩ #đến #cái #chết #mà #nghĩ #đến #cái #sống #trong #Vợ #nhặt


#Chứng #minh #câu #nói #Những #người #đói #họ #không #nghĩ #đến #cái #chết #mà #nghĩ #đến #cái #sống #trong #Vợ #nhặt

Tổng hợp: Vik News

Vik News

Viknews Việt Nam chuyên chia sẻ những kiến thức hữu ích về hôn nhân – gia đình, làm đẹp, kinh nghiệm làm mẹ, chăm sóc dinh dưỡng khi mang thai kỳ, trước sau sinh, son môi , sữa ong chúa, nhà cửa nội thất (cửa gỗ, đèn chùm trang trí, bàn ăn, tủ bếp..)……

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button