Tài Liệu

Nghị quyết 55-NQ/TW

Ngày 11/2/2020, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 55-NQ/TW về định hướng chiến lược tăng trưởng năng lượng non sông của Việt Nam tới 5 2030, tầm nhìn tới 5 2045. Đây là bước ngoặt trong tăng trưởng năng lượng non sông.

Nội dung Nghị quyết 55-NQ/TW

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
——–

Số: 55-NQ/TW

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
—————

Hà Nội, ngày 11 tháng 02 5 2020

NGHỊ QUYẾT
CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
VỀ ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045

I- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Sau 15 5 tiến hành Kết luận số 26-KL/TW, ngày 24/10/2003 của Bộ Chính trị khoá IX về Chiến lược và quy hoạch tăng trưởng ngành điện lực Việt Nam và 10 5 tiến hành Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2007 của Bộ Chính trị khoá X về định hướng Chiến lược tăng trưởng năng lượng non sông của Việt Nam tới 5 2020, tầm nhìn tới 5 2050, ngành năng lượng khái quát và ngành điện lực nói riêng đã có bước tăng trưởng nhanh, kha khá đồng bộ trong tất cả các phân ngành, lĩnh vực; bám sát định hướng và đạt được nhiều chỉ tiêu chi tiết đề ra.

Cung cấp năng lượng, đặc trưng là hỗ trợ điện căn bản phục vụ đủ đề xuất tăng trưởng kinh tế – xã hội với chất lượng càng ngày càng được cải thiện. Công nghiệp khai thác dầu khí và lọc hoá dầu tăng trưởng mạnh; sản lượng khai thác dầu khí tăng cao, tạo nên được 1 số cơ sở lọc hoá dầu quy mô phệ. Đã đầu cơ xây dựng nhiều dự án mỏ than có công suất phệ; sản lượng khai thác than thương phẩm tăng; thuỷ điện tăng trưởng nhanh, vừa qua điện gió và điện mặt trời khởi đầu tăng trưởng với vận tốc cao. Đầu cơ xây dựng cơ sở vật chất hỗ trợ điện có sự tăng trưởng mạnh bạo, là điều kiện quan trọng cho việc đảm bảo an ninh hỗ trợ điện. Đưa điện lưới non sông đến gần như mọi miền của non sông, kể cả vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Tiêu thụ năng lượng ngày càng tăng đáng kể, cơ cấu tiêu thụ năng lượng dịch chuyển theo hướng công nghiệp hoá. Việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả càng ngày càng được ân cần. Đã hăng hái tiến hành biến đổi ngành năng lượng sang hoạt động theo chế độ thị phần; huy động được nguồn lực phệ cho đầu cơ tăng trưởng với sự tham dự của nhiều thành phần kinh tế, cốt cán là các công ty nhà nước. Ngành năng lượng biến thành ngành kinh tế năng động, đóng góp rất quan trọng trong việc xúc tiến tăng trưởng kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh tại nhiều địa phương và non sông.

2. Tuy vậy, ngành năng lượng nước ta vẫn còn nhiều giảm thiểu, yếu kém. Tiêu chí đảm bảo an ninh năng lượng non sông còn nhiều thử thách; các nguồn cung trong nước ko đủ phục vụ đề xuất, phải nhập cảng năng lượng càng ngày càng phệ; nhiều dự án điện bị chậm so với quy hoạch, kế hoạch; 1 số mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng đang bất định theo chiều hướng bất lợi. Công việc điều hành, khai thác nguồn khoáng sản năng lượng còn 1 số giảm thiểu. Hiệu quả khai thác, sử dụng năng lượng còn thấp. Cơ sở cơ sở vật chất ngành năng lượng còn thiếu và chưa đồng bộ. Trình độ công nghệ trong 1 số lĩnh vực thuộc ngành năng lượng chậm được tăng lên, việc nội địa hoá và phân phối thị phần từ các dự án trong ngành năng lượng cho hàng hoá cơ khí chế tác sản xuất trong nước còn giảm thiểu. Chất lượng nguồn nhân công, năng suất lao động trong 1 số lĩnh vực còn thấp. Thị trường năng lượng cạnh tranh tăng trưởng chưa đồng bộ, thiếu liên thông giữa các phân ngành, giữa phát điện với truyền tải điện; chế độ giá năng lượng còn bất cập, chưa hoàn toàn thích hợp với chế độ thị phần, chưa tách bạch với chế độ an sinh xã hội. 1 số dự án năng lượng do công ty nhà nước đầu cơ còn thua lỗ; 1 số dự án năng lượng đầu cơ ra nước ngoài tiềm tàng nhiều bản lĩnh mất vốn. Công việc bảo vệ môi trường trong ngành năng lượng có nơi, có khi chưa được ân cần đúng mức, gây giận dữ xã hội.

3. Những hạn chế, yếu kém nêu trên do nhiều nguyên do, mà nguyên do chủ quan là cốt yếu. Nhận thức về vai trò, địa điểm, tầm quan trọng của ngành năng lượng và chỉ tiêu đảm bảo an ninh năng lượng non sông chưa đầy đủ, ân cần chưa đúng mức; 1 số vấn đề về tăng trưởng năng lượng chậm được tổng kết cả về lý luận và thực tế; chậm khắc phục những vướng mắc về phương hướng tăng trưởng các nguồn năng lượng và chi tiết hoá chế độ thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực năng lượng. Quy định luật pháp của ngành năng lượng khái quát và từng phân ngành nói riêng vẫn còn nhiều giảm thiểu, thiếu hợp nhất, chưa đảm bảo tính tương hợp với luật pháp quốc tế. 1 số chế độ, chế độ chưa thích hợp với chế độ thị phần, chưa xúc tiến việc xây dựng thị phần năng lượng cạnh tranh. Chính sách về đầu cơ tăng trưởng, điều hành khoáng sản năng lượng còn thiếu, chưa đồng bộ. Chính sách khoa học và công nghệ đối với ngành năng lượng chậm đổi mới. 1 số chiến lược, quy hoạch năng lượng chậm được hoàn thiện, chưa sát với tình hình thực tiễn và nguồn lực tiến hành, chưa thực thụ gắn kết với các quy hoạch tăng trưởng kinh tế – xã hội của địa phương và 1 số ngành khác. Bộ máy điều hành nhà nước ngành năng lượng khái quát và ngành điện nói riêng thiếu bình ổn; việc cắt cử, phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong 1 số trường hợp chưa rõ ràng, thiếu chặt chẽ. Công việc nghiên cứu, dự đoán còn yếu; công việc chỉ huy, tổ chức tiến hành các chế độ, luật pháp về năng lượng thiếu quyết liệt.

II- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO, MỤC TIÊU VÀ TẦM NHÌN

1. Quan điểm chỉ huy

– Đảm bảo chắc chắn an ninh năng lượng non sông là nền móng, cùng lúc là tiền đề quan trọng để tăng trưởng kinh tế – xã hội. Dành đầu tiên tăng trưởng năng lượng nhanh và vững bền, đi trước 1 bước, gắn với bảo vệ môi trường thọ thái, đảm bảo quốc phòng, an ninh, tiến hành tân tiến và công bình xã hội có ý nghĩa đặc trưng quan trọng, là nhiệm vụ trọng điểm xuyên suốt trong giai đoạn công nghiệp hoá, đương đại hoá non sông.

– Phát triển năng lượng non sông phải thích hợp với thiết chế kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa, xu hướng hội nhập quốc tế; mau chóng xây dựng thị phần năng lượng đồng bộ, cạnh tranh, sáng tỏ, nhiều chủng loại hoá vẻ ngoài sở hữu và phương thức kinh doanh; vận dụng giá thị phần đối với mọi loại hình năng lượng. Khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận tiện để các thành phần kinh tế, đặc trưng là kinh tế cá nhân tham dự tăng trưởng năng lượng; cương quyết loại trừ mọi biểu lộ bao cấp, độc quyền, cạnh tranh ko đồng đẳng, thiếu sáng tỏ trong ngành năng lượng.

– Phát triển đồng bộ, cân đối và nhiều chủng loại hoá các loại hình năng lượng; dành đầu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái hiện, năng lượng mới, năng lượng sạch; khai thác và sử dụng cân đối các nguồn năng lượng hoá thạch trong nước, chú trọng chỉ tiêu ổn định, điều tiết và đề xuất dự trữ năng lượng non sông; dành đầu tiên tăng trưởng điện khí, có lịch trình giảm tỉ trọng điện than 1 cách cân đối; chủ động nhập cảng nhiên liệu từ nước ngoài cho các nhà máy điện. Phân bổ tối ưu hệ thống năng lượng non sông trong tất cả các lĩnh vực trên cơ sở lợi thế so sánh của từng vùng, địa phương.

– Chú trọng nghiên cứu, phần mềm những thành tích của cuộc Cách mệnh công nghiệp lần thứ tư trong tăng trưởng tất cả các phân ngành, lĩnh vực năng lượng; tăng nhanh biến đổi số trong ngành năng lượng; từng bước làm chủ đạo nghệ đương đại, tiến đến tự chủ sản xuất được phần phệ các thiết bị năng lượng.

– Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môi trường phải được xem là quốc sách quan trọng và bổn phận của toàn xã hội. Tăng nhanh kiểm toán năng lượng; xây dựng chế độ, chế độ đồng bộ, chế tài đủ mạnh và khả thi để khuyến khích đầu cơ và sử dụng các công nghệ, trang thiết bị tiết kiệm năng lượng, gần gũi môi trường, góp phần xúc tiến năng suất lao động và đổi mới mẫu hình phát triển.

2. Tiêu chí

a) Tiêu chí tổng quát

Đảm bảo chắc chắn an ninh năng lượng non sông; hỗ trợ đầy đủ năng lượng bình ổn, có chất lượng cao với giá cả cân đối cho tăng trưởng kinh tế – xã hội nhanh và vững bền, đảm bảo quốc phòng, an ninh, tăng lên đời sống của quần chúng, góp phần bảo vệ môi trường thọ thái. Ngành năng lượng tăng trưởng hài hoà giữa các phân ngành với cơ sở vật chất đồng bộ và sáng dạ, đạt trình độ hiện đại của khu vực ASEAN. Xây dựng thị phần năng lượng cạnh tranh, sáng tỏ, hiệu quả, thích hợp với thiết chế kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn khoáng sản năng lượng trong nước liên kết với xuất, nhập cảng năng lượng cân đối; triệt để thực hành tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng. Chủ động sản xuất được 1 số thiết bị chính trong các phân ngành năng lượng; tăng cấp, xây dựng lưới điện truyền tải, cung ứng điện hiện đại, đương đại.

b) 1 số chỉ tiêu chi tiết

– Cung cấp đủ nhu cầu năng lượng trong nước, phục vụ cho các chỉ tiêu của Chiến lược tăng trưởng kinh tế xã hội 10 5 2021 – 2030; trong ấy, năng lượng sơ cấp tới 5 2030 đạt khoảng 175 – 195 triệu TOE (tấn dầu quy đổi), tới 5 2045, đạt khoảng 320 – 350 triệu TOE; tổng công suất của các nguồn điện tới 5 2030 đạt khoảng 125 – 130 GW, sản lượng điện đạt khoảng 550 – 600 tỉ KWh.

– Tỷ lệ các nguồn năng lượng tái hiện trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 15 – 20% vào 5 2030; 25 – 30% vào 5 2045.

– Tổng tiêu thụ năng lượng rốt cục tới 5 2030 đạt mức 105 – 115 triệu TOE, 5 2045 đạt mức 160 – 190 triệu TOE. Cường độ năng lượng sơ cấp 5 2030 đạt từ 420 – 460 kgOE/1.000 đô la GDP, 5 2045 từ 375 – 410 kgOE/1.000 đô la GDP.

– Xây dựng hệ thống lưới điện sáng dạ, hiệu quả, có bản lĩnh kết nối khu vực; đảm bảo hỗ trợ điện an toàn, phục vụ chỉ tiêu N-1 đối với vùng phụ tải quan trọng và N-2 đối với vùng phụ tải đặc trưng quan trọng. Tới 5 2030, độ tin tưởng hỗ trợ điện năng thuộc tốp 4 nước dẫn đầu ASEAN, chỉ số tiếp cận điện năng thuộc tốp 3 nước dẫn đầu ASEAN.

– Các cơ sở lọc dầu phục vụ tối thiểu 70% nhu cầu trong nước; đảm bảo mức dự trữ chiến lược xăng dầu đạt tối thiểu 90 ngày nhập ròng. Đủ năng lực nhập cảng khí thiên nhiên hoá lỏng (LNG) khoảng 8 tỉ m3 vào 5 2030 và khoảng 15 tỉ m3 vào 5 2045.

– Tỷ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng rốt cục so với kịch bản tăng trưởng phổ biến đạt khoảng 7% vào 5 2030 và khoảng 14% vào 5 2045.

– Giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng so với kịch bản tăng trưởng phổ biến ở mức 15% vào 5 2030, lên mức 20% vào 5 2045.

3. Tầm nhìn tới 5 2045: Đảm bảo chắc chắn an ninh năng lượng non sông; tạo nên đồng bộ các nhân tố thị phần năng lượng cạnh tranh, sáng tỏ, thích hợp với thiết chế kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa; các phân ngành năng lượng tăng trưởng vững bền, sử dụng hiệu quả khoáng sản, bảo vệ môi trường và thích nghi với chuyển đổi khí hậu; hệ thống cơ sở vật chất năng lượng tăng trưởng đồng bộ, đương đại, bản lĩnh kết nối khu vực và quốc tế được tăng lên; chất lượng nguồn nhân công, trình độ khoa học – công nghệ và năng lực quản trị ngành năng lượng đạt trình độ hiện đại của 1 nước công nghiệp tăng trưởng đương đại.

III- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Phát triển các nguồn cung năng lượng sơ cấp theo hướng tăng nhanh bản lĩnh tự chủ, nhiều chủng loại hoá, đảm bảo tính hiệu quả, tin tưởng và vững bền

– Về dầu khí: Tăng nhanh công việc kiếm tìm, dò la nhằm ngày càng tăng trữ lượng và sản lượng khai thác dầu khí tại các khu vực tiềm năng, nước sâu, xa bờ gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền non sông trên biển; tăng lên hệ số thu hồi, tận thu các mỏ bé, khối sót cận biên. Kiểm tra, có chiến lược chủ động và hiệu quả trong cộng tác về kiếm tìm, dò la và khai thác dầu khí ở nước ngoài. Phát triển công nghiệp khí; dành đầu tiên đầu cơ cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên dụng cho nhập cảng và tiêu thụ khí thiên nhiên hoá lỏng (LNG). Tiếp tục lôi cuốn đầu cơ trong lĩnh vực lọc – hoá dầu theo hướng chế biến sâu, tăng lên chất lượng thành phầm xăng dầu, chủ động phục vụ tối đa nhu cầu trong nước và hướng tới xuất khẩu. Đối với dầu khí đá phiến, khí hydrate (băng cháy), hăng hái nghiên cứu, bình chọn sâu hơn về địa chất và vận dụng tân tiến khoa học – kỹ thuật để mở mang khuôn khổ điều tra; sớm khai triển bình chọn toàn cục, đẩy nhanh khai thác thí điểm lúc điều kiện cho phép.

– Về than: Xây dựng mới chiến lược tăng trưởng ngành than gắn với nhiệm vụ đầu cơ hiệu quả ra nước ngoài và nhập cảng than dài hạn. Thực hiện dự trữ than thích hợp, phục vụ đề xuất cho các hoạt động sản xuất, đặc trưng là sản xuất điện. Mở mang kiếm tìm, dò la, tăng lên chất lượng công việc bình chọn các đơn vị quản lý trữ lượng và khoáng sản. Tăng nhanh khai thác than trong nước trên cơ sở đảm bảo an toàn, hiệu quả và tiết kiệm khoáng sản; khẩn trương nghiên cứu công nghệ để có thể khai thác bể than đồng bằng Sông Hồng; tăng lên hệ số thu hồi than sạch trong khai thác hầm lò. Triển khai nhanh việc xây dựng hệ thống cảng, kho dự trữ và trung chuyển than quy mô phệ; tăng nhanh cơ giới hoá, đương đại hoá thiết bị sàng, tuyển và khai thác than. Kiểm tra, bình chọn nhu cầu, xây dựng kế hoạch và tối ưu hoá các biện pháp hỗ trợ than bình ổn cho sản xuất điện thích hợp với chế độ thị phần.

– Về năng lượng tái hiện: Xây dựng các chế độ, chế độ đột phá để khuyến khích và xúc tiến tăng trưởng mạnh bạo các nguồn năng lượng tái hiện nhằm thay thế tối đa các nguồn năng lượng hoá thạch. Dành đầu tiên sử dụng năng lượng gió và mặt trời cho phát điện; khuyến khích đầu cơ xây dựng các nhà máy điện sử dụng rác thải đô thị, sinh khối và chất thải rắn đi đôi với công việc bảo vệ môi trường và tăng trưởng kinh tế tuần hoàn. Tạo nên và tăng trưởng 1 số trung tâm năng lượng tái hiện tại các vùng và các địa phương hữu dụng thế. Sớm nghiên cứu, bình chọn toàn cục về tiềm năng và xây dựng định hướng tăng trưởng năng lượng địa nhiệt, sóng biển, thuỷ triều, hải lưu; khai triển 1 số mẫu hình phần mềm, thực hiện khai thác thí điểm để bình chọn hiệu quả. Thực hiện nghiên cứu công nghệ, xây dựng 1 số đề án thí điểm sản xuất và khuyến khích sử dụng năng lượng hydro thích hợp với xu hướng chung của toàn cầu.

– Về các nguồn năng lượng khác: Kịp thời nắm bắt các thông tin liên can để nghiên cứu, tăng trưởng trong điều kiện cho phép về tân tiến khoa học – kỹ thuật, nguồn nhân công, bản lĩnh vốn đầu tư và những nhân tố thiết yếu khác.

2. Phát triển nhanh và vững bền ngành điện phục vụ đề xuất công nghiệp hoá, đương đại hoá non sông

– Xây dựng và khai triển Chiến lược tăng trưởng ngành điện lực Việt Nam cho quá trình mới. Phát triển nhanh và vững bền các nguồn phát điện với cơ cấu và phân bố cân đối, đảm bảo an toàn, tin tưởng, bình ổn theo hướng nhiều chủng loại hoá, chú trọng tăng lên hệ số công suất khả dụng và có ngừa công suất thích hợp; phục vụ các đề xuất về bảo vệ môi trường thọ thái.

Đối với thuỷ điện: Huy động tối đa các nguồn thuỷ điện hiện có. Phát triển có lựa chọn, bổ sung 1 số thuỷ điện bé và vừa, thuỷ điện tích năng. Có chiến lược cộng tác tăng trưởng thuỷ điện gắn với nhập cảng điện năng dài hạn từ nước ngoài.

Đối với điện gió và điện mặt trời: Dành đầu tiên tăng trưởng thích hợp với bản lĩnh đảm bảo an toàn hệ thống với mức giá điện năng cân đối. Khuyến khích tăng trưởng điện mặt trời áp mái và trên mặt nước. Xây dựng các chế độ phân phối và chế độ đột phá cho tăng trưởng điện gió ngoài khơi gắn với khai triển tiến hành Chiến lược biển Việt Nam.

Đối với nhiệt điện: Khuyến khích các dự án nhiệt điện đồng bộ từ khâu hỗ trợ, lưu trữ nhiên liệu và xây dựng nhà máy trên cơ sở giá thành điện xác định phê chuẩn đấu thầu. Phát triển nhiệt điện khí theo hướng dành đầu tiên sử dụng nguồn khí trong nước. Chú trọng tăng trưởng nhanh nhiệt điện khí sử dụng LNG, đưa điện khí dần biến thành nguồn hỗ trợ điện năng quan trọng, phân phối cho điều tiết hệ thống.

Phát triển nhiệt điện than ở mức cân đối theo hướng dành đầu tiên những tổ máy công suất phệ, hiệu suất cao, sử dụng công nghệ hiện đại, đương đại như công nghệ siêu đến hạn trở lên; đảm bảo tiến hành đầy đủ luật pháp về an toàn môi trường thọ thái, thích hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Kiểm tra toàn cục và có kế hoạch sớm khai triển tăng cấp công nghệ của các nhà máy điện than hiện có để phục vụ đề xuất bảo vệ môi trường; cương quyết đóng cửa đối với các nhà máy ko tiến hành tăng cấp công nghệ theo quy định.

Đối với điện sinh khối, rác thải và chất thải rắn: Khai thác tối đa nguồn điện sinh khối đồng phát; tăng nhanh tăng trưởng các nguồn điện từ rác thải đô thị, chất thải rắn và sinh khối.

– Đầu cơ đương đại hoá ngành điện từ khâu sản xuất, truyền tải tới cung ứng phục vụ đề xuất tăng trưởng của thị phần điện, có bản lĩnh tích hợp quy mô phệ nguồn năng lượng tái hiện; tăng lên bản lĩnh đảm bảo an ninh màng lưới điện và chất lượng dịch vụ điện. Hăng hái tiến hành các chương trình điều hành nhu cầu điện và điều chỉnh phụ tải; điều hành chặt chẽ hơn cường độ tiêu thụ điện năng; hạn chế tối đa tổn thất điện năng; hoàn thiện chế độ, chế độ khuyến khích và xúc tiến khai triển tàng trữ điện năng. Hiện đại hoá hệ thống điều độ điện, từng bước khai triển vận dụng những công nghệ giám sát kỹ thuật tự động, sáng dạ; nghiên cứu phần mềm truyền tải siêu cao thế, truyền tải 1 chiều trong ngành điện.

– Nghiên cứu, hoàn thiện các chế độ vốn đầu tư và huy động vốn đặc trưng cho đầu cơ tăng trưởng ngành điện. Kiểm tra, điều chỉnh các quy định về kiểm soát và điều phối thị phần điện lực. Có chế độ cho phép tăng trưởng các nhà máy điện sản xuất tại chỗ, tự hỗ trợ trong các khu, cụm công nghiệp, khu chế xuất…

– Đẩy nhanh lịch trình tiến hành thị phần điện cạnh tranh, chế độ giao kèo sắm bán điện trực tiếp giữa nhà cung cấp và người dùng tiêu thụ, chế độ đấu thầu, đấu giá hỗ trợ năng lượng thích hợp, đặc trưng trong các dự án đầu cơ năng lượng tái hiện, năng lượng mới; sáng tỏ giá sắm bán điện. Có chế độ khuyến khích lôi cuốn vốn ngoài nhà nước đầu cơ xây dựng vào hệ thống truyền tải điện non sông. Vận hành hệ thống truyền tải điện non sông độc lập dưới sự kiểm soát của Nhà nước.

3. Cơ cấu lại các đơn vị quản lý và khu vực tiêu thụ năng lượng song song với tiến hành chế độ về sử dụng năng lượng sạch, tiết kiệm và hiệu quả

– Cơ cấu lại các đơn vị quản lý tiêu thụ năng lượng, đặc trưng là khu vực đầu cơ nước ngoài để hạn chế cường độ năng lượng. Có chế độ khuyến khích tăng trưởng các đơn vị quản lý công nghiệp tiêu thụ ít năng lượng và có hiệu quả về kinh tế – xã hội.

– Kiểm tra, điều chỉnh phân bố các nguồn tiêu thụ năng lượng cởi mở theo hướng phân tán, giảm thiểu việc quá mức vào 1 số địa phương, liên kết chặt chẽ với phân bố lại ko gian tăng trưởng công nghiệp và đô thị trên khuôn khổ cả nước, từng vùng và địa phương.

– Kiểm tra, hoàn thiện Chương trình non sông về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả quá trình 2020 – 2030. Triển khai vận dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn buộc phải kèm theo chế tài về sử dụng hiệu quả năng lượng đối với những lĩnh vực, ngành và thành phầm có mức tiêu thụ năng lượng cao. Có chế độ khuyến khích các hộ tiêu thụ sử dụng năng lượng sạch, tái hiện, nhất là trong công nghiệp và giao thông; xúc tiến tăng trưởng các dụng cụ giao thông sử dụng điện năng thích hợp với xu hướng chung trên toàn cầu.

4. Phát triển cơ sở vật chất năng lượng vững bền, kết nối khu vực; tăng lên nội lực ngành công nghiệp chế tác, dịch vụ chuyên dụng cho ngành năng lượng

– Có chế độ dành đầu tiên đầu cơ tăng trưởng cơ sở vật chất năng lượng vững bền; chú trọng xây dựng cơ sở cơ sở vật chất xuất, nhập cảng năng lượng, kết nối khu vực. Xác định danh mục cơ sở vật chất năng lượng có thể dùng chung và xây dựng chế độ dùng chung thích hợp với chế độ thị phần. Xoá bỏ mọi độc quyền, rào cản bất cân đối trong sử dụng hạ tầng và dịch vụ cơ sở vật chất năng lượng; có chế độ, chế độ đầu cơ xây dựng hệ thống truyền tải điện, tách bạch với độc quyền nhà nước về truyền tải điện. Thực hiện xã hội hoá tối đa trong đầu cơ và khai thác, sử dụng hạ tầng, dịch vụ ngành năng lượng, bao gồm cả hệ thống truyền tải điện non sông trên cơ sở đảm bảo quốc phòng, an ninh.

– Thúc đẩy nhanh biến đổi số trong ngành năng lượng; xây dựng và khai triển Chương trình non sông về tăng trưởng cơ sở vật chất năng lượng sáng dạ; hoàn thiện chế độ, xây dựng cơ sở dữ liệu, tiến hành thống kê năng lượng non sông chuyên dụng cho công việc điều hành, quản lý hiệu quả ngành năng lượng.

– Xây dựng chế độ, chế độ khuyến khích và phân phối tăng trưởng công nghiệp chế tác và dịch vụ chuyên dụng cho ngành năng lượng theo hướng tăng nhanh nội lực, hướng tới xuất khẩu; dành đầu tiên tăng trưởng các đơn vị quản lý chế tác máy, thiết bị điện, dầu khí, dịch vụ dầu khí. Hoàn thiện khung pháp lý, khuyến khích và tăng nhanh khai triển mẫu hình các doanh nghiệp dịch vụ năng lượng. Khẩn trương xây dựng và thực thi các chế độ, chế độ khuyến khích tăng lên tỷ lệ nội địa hoá trong ngành năng lượng; đảm bảo tiến hành tốt các đề xuất, mục tiêu chi tiết về tỷ lệ nội địa hoá đối với các nhà máy điện nói riêng và dự án năng lượng khái quát. Hoàn thiện chế độ đặt hàng sản xuất của Nhà nước để khuyến khích các công ty trong nước tiến hành những công trình, dự án phức tạp, kỹ thuật cao trong ngành năng lượng phục vụ các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.

5. Cơ cấu lại, đổi mới và tăng lên hiệu quả hoạt động của các công ty nhà nước trong lĩnh vực năng lượng; khuyến khích kinh tế cá nhân tham dự xã hội hoá tăng trưởng năng lượng

– Cơ cấu lại toàn diện các công ty nhà nước trong lĩnh vực năng lượng theo hướng vào các lĩnh vực mấu chốt, có điểm tốt; tách bạch công dụng kinh doanh với công dụng điều hành nhà nước; vận dụng các mẫu hình và thông lệ quản trị hiện đại, tăng lên hệ số tín nhiệm quốc tế, triệt để tiến hành công khai, sáng tỏ hoá trong hoạt động; chú trọng tăng lên hiệu quả khai thác, sử dụng cơ sở vật chất năng lượng non sông. Hoàn thiện các quy định về bình chọn các nguồn lực, của nả thích hợp với thông lệ quốc tế và thực tế; xử lý, tái cơ cấu triệt để các dự án, công ty nhà nước kém hiệu quả, thua lỗ trong lĩnh vực năng lượng. Nghiên cứu, khai triển thử nghiệm chế độ bán có thời hạn hoặc cho thuê dài hạn đối với các nhà máy điện, kho nhiên liệu, nhà máy lọc dầu… thuộc sở hữu của công ty nhà nước.

– Kiểm tra, bổ sung, điều chỉnh các chế độ, chế độ đặc biệt cho 1 số dự án năng lượng quan trọng, đặc trưng đối với các dự án đầu cơ nguồn điện thúc bách; đảm bảo đầy đủ vốn cho các công ty năng lượng nhà nước tiến hành các chỉ tiêu chiến lược và nhiệm vụ gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh.

– Kiến lập môi trường thuận tiện, sáng tỏ; công khai quy hoạch, danh mục các dự án đầu cơ, xoá bỏ mọi rào cản để lôi cuốn, khuyến khích cá nhân tham dự đầu cơ, tăng trưởng các dự án năng lượng trong và ngoài nước, chú trọng những dự án phát điện và các hoạt động bán sỉ, bán lẻ điện theo chế độ thị phần. Tiếp tục khuyến khích, lôi cuốn đầu cơ nước ngoài có quy mô, chất lượng và hiệu quả cho ngành năng lượng. Đẩy nhanh cổ phần hoá các công ty nhà nước thuộc ngành điện; xây dựng chế độ đầu dâm tà thoáng, canh tân thủ tục hành chính để đảm bảo tiến độ các công trình điện.

6. Đổi mới chế độ, chế độ, tăng trưởng thị phần năng lượng đồng bộ, liên thông, đương đại và hiệu quả, thích hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa

– Phát triển thị phần năng lượng đồng bộ, liên thông giữa các phân ngành điện, than, dầu khí và năng lượng tái hiện, kết nối với thị phần khu vực và toàn cầu. Xoá bỏ mọi rào cản để đảm bảo giá năng lượng sáng tỏ do thị phần quyết định; ko tiến hành bù chéo giá điện giữa các nhóm người dùng, giữa các vùng, miền; Nhà nước điều tiết cân đối phê chuẩn các dụng cụ thị phần (thuế, phí, các quỹ…) và chế độ an sinh xã hội thích hợp. Hoàn thiện chế độ, chế độ, các dụng cụ có tính thị phần để tăng nhanh sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

– Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện các chế độ về đất đai, bồi hoàn giải phóng mặt bằng, sử dụng mặt nước, chống đầu tư, trục lợi, ích lợi nhóm trong lĩnh vực năng lượng. Đổi mới chế độ vốn đầu tư theo hướng khuyến khích, lôi cuốn mạnh các tài chính đầu cơ ngoài nhà nước; khuyến khích các dự án đầu cơ năng lượng theo vẻ ngoài đối tác công tư (PPP). Thực hiện chế độ tín dụng cởi mở, hiệu quả, tạo điều kiện thuận tiện cho công ty năng lượng tiếp cận các tài chính, đặc trưng là các công ty có dự án năng lượng xanh. Hoàn thiện chế độ thuế khuyến khích sản xuất, sử dụng năng lượng sạch, tái hiện. Xây dựng cơ sở pháp lý để có thể tạo nên và vận hành hiệu quả các quỹ về tăng trưởng năng lượng vững bền, xúc tiến sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo hướng xã hội hoá, đảm bảo độc lập về vốn đầu tư, ko trùng lặp với nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước và giảm thiểu việc làm tăng chi tiêu hoạt động, sản xuất kinh doanh cho công ty, cơ sở sản xuất kinh doanh. Hoàn thiện chế độ và tiến hành chế độ về tiêu chuẩn tỷ lệ năng lượng tái hiện trong cơ cấu đầu cơ và hỗ trợ năng lượng.

– Sửa đổi, hoàn thiện các luật chuyên ngành về dầu khí, điện lực, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và các luật khác liên can tới ngành năng lượng để làm cơ sở tiến hành hiệu quả hơn chế độ thị phần. Nghiên cứu, tiến hành luật hoá việc quản lý giá điện và 1 số khuyến mại cho dự án được khuyến khích đầu cơ trong lĩnh vực năng lượng. Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động kiểm soát và điều phối điện lực. Nghiên cứu, xây dựng và ban hành luật về năng lượng tái hiện.

– Tăng lên chất lượng công việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch tăng trưởng năng lượng, đặc trưng trong phân ngành điện, đảm bảo tính bình ổn, đồng bộ và cởi mở, gắn kết với chiến lược, kế hoạch tăng trưởng kinh tế – xã hội của địa phương và 1 số ngành khác. Kiểm tra, điều chỉnh và sớm ban hành các quy hoạch liên can tới tăng trưởng năng lượng theo Luật Quy hoạch.

7. Phát triển khoa học – công nghệ, huấn luyện nguồn nhân công chất lượng cao cho ngành năng lượng

– Tạo nên chế độ kết hợp giữa lực lượng nghiên cứu và tăng trưởng khoa học – công nghệ, đổi mới thông minh với các công ty và các cơ sở huấn luyện trong lĩnh vực năng lượng phê chuẩn các chương trình khoa học và công nghệ; lồng ghép hoạt động nghiên cứu và tăng trưởng trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tăng trưởng năng lượng. Tạo chế độ khuyến khích các công ty năng lượng tăng nhanh đầu cơ cho nghiên cứu và tăng trưởng; thành lập các trung tâm đổi mới thông minh trong lĩnh vực năng lượng. Tiếp tục khai triển chương trình khoa học và công nghệ trọng tâm non sông về nghiên cứu phần mềm và tăng trưởng công nghệ năng lượng quá trình 2021 – 2030, trọng điểm là nghiên cứu chế tác thiết bị năng lượng và phần mềm các dạng năng lượng mới, năng lượng tái hiện, năng lượng sáng dạ, tiết kiệm năng lượng.

– Kiểm tra, sửa đổi, bổ sung các tiêu chuẩn, quy chuẩn non sông trong lĩnh vực năng lượng thích hợp với các quy định, tiêu chuẩn quốc tế, có xét tới các tiêu chuẩn, quy chuẩn non sông liên can tới việc tái chế, sử dụng chất thải từ giai đoạn sản xuất năng lượng. Từng bước vận dụng các giải pháp khuyến khích và buộc phải đổi mới công nghệ, thiết bị trong ngành năng lượng cũng như những ngành, lĩnh vực sử dụng nhiều năng lượng.

– Xây dựng chế độ tăng trưởng nguồn nhân công toàn cục và các chương trình huấn luyện cho những khâu cốt lõi của ngành năng lượng. Tăng nhanh huấn luyện hàng ngũ người lao động kỹ thuật, viên chức nghiệp vụ phục vụ đề xuất sử dụng trong nước, hướng đến xuất khẩu. Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân công đã được huấn luyện về năng lượng hạt nhân đi đôi với huấn luyện tăng lên.

8. Tăng nhanh cộng tác quốc tế; hăng hái, chủ động xây dựng các bên chiến lược để tiến hành chỉ tiêu nhập cảng năng lượng trong dài hạn và đầu cơ khoáng sản năng lượng ở nước ngoài

– Thực hiện chế độ đối ngoại năng lượng cởi mở, hiệu quả, đồng đẳng, cùng hữu dụng. Mở mang và làm thâm thúy hơn cộng tác năng lượng với các bên chiến lược, đối tác quan trọng. Tăng nhanh quan hệ quốc tế về năng lượng trong tất cả các phân ngành, lĩnh vực thích hợp với xu hướng hội nhập, tận dụng thời cơ từ các hiệp nghị thương nghiệp, các quan hệ chính trị – ngoại giao thuận tiện để tăng trưởng năng lượng.

– Khẩn trương xây dựng chiến lược nhập cảng năng lượng dài hạn song song với khuyến khích đầu cơ, khai thác khoáng sản năng lượng ở nước ngoài để góp phần đảm bảo an ninh năng lượng non sông; có chế độ phân phối các công ty Việt Nam đầu cơ dự án năng lượng ở nước ngoài, đầu tiên là với các dự án nguồn điện tại 1 số nước hàng xóm để chủ động nhập cảng điện về Việt Nam. Mở mang quan hệ đối tác với các doanh nghiệp đầu cơ năng lượng, tăng trưởng công nghệ năng lượng hiện đại.

– Hăng hái tham dự cộng tác năng lượng tại tiểu vùng Mê Công mở mang (GMS) và khu vực Đông Nam Á (ASEAN); kết hợp lưới điện, hoàn thiện chế độ sắm bán điện với Trung Quốc, Lào và Cam-pu-chia. Tiếp tục nghiên cứu kết nối hệ thống khí trong khu vực, khai triển tiến hành lúc điều kiện cho phép.

9. Thực thi chế độ bảo vệ môi trường ngành năng lượng gắn với chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính, xúc tiến kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng vững bền

– Nghiên cứu, xây dựng chế độ thuế các-bon phù hợp đối với việc sử dụng nhiên liệu hoá thạch. Có chế độ, chế độ khai triển việc thu hồi, sử dụng khí CO­2. Thực hiện bình chọn hiệu quả việc sử dụng, tái chế tro, xỉ nảy sinh trên cơ sở hợp lý nhu cầu và bản lĩnh tiêu thụ làm nguyên liệu xây dựng, nhất là tại khu vực miền Nam.

– Hoàn thiện khung chế độ, xây dựng và bổ sung hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn non sông về khí thải và chất thải trong ngành năng lượng theo hướng tiệm cận với những tiêu chuẩn của các nước tăng trưởng. Bổ sung quy định gạn lọc dự án đầu cơ theo không may về môi trường. Xây dựng quy chế vốn đầu tư về môi trường, đảm bảo tính đủ các chi tiêu về môi trường, xã hội trong đầu cơ và mức giá thành phầm. Tăng nhanh phòng đề phòng, kiểm soát các nhân vật có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao; xử lý nghiêm các vi phạm về an toàn môi trường theo quy định của luật pháp. Thông tin tuyên truyền kịp thời và đầy đủ về công việc bảo vệ môi trường trong ngành năng lượng.

– Xây dựng và khai triển Đề án tích hợp mẫu hình kinh tế tuần hoàn vào chiến lược tăng trưởng các công ty năng lượng. Phát triển hệ thống điều hành và xử lý chất thải trong sản xuất năng lượng với công nghệ hiện đại, thích hợp với điều kiện nước ta; đảm bảo năng lực tự xử lý các nguồn thải trong các công ty năng lượng. Có chế độ, chế độ khuyến khích tăng trưởng công nghiệp môi trường gắn với ngành năng lượng.

– Kiểm tra, điều chỉnh và bổ sung những nội dung liên can tới ngành năng lượng trong Chiến lược non sông về chuyển đổi khí hậu, Chiến lược non sông về phát triển xanh, Chiến lược tăng trưởng vững bền Việt Nam, Chiến lược biển Việt Nam và các chiến lược khác có liên can.

10. Tăng nhanh sự chỉ đạo của Đảng; tăng lên hiệu lực, hiệu quả điều hành của Nhà nước; phát huy quyền làm chủ của quần chúng và vai trò của Chiến trận Đất nước Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội trong tăng trưởng ngành năng lượng

– Tăng lên nhận thức của các đơn vị quản lý uỷ đảng và cả hệ thống chính trị và quần chúng về vai trò, địa điểm, tầm quan trọng của ngành năng lượng. Các đơn vị quản lý uỷ đảng và chính quyền từ Trung ương tới địa phương cần xác định tăng trưởng năng lượng non sông là nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt, nghiêm chỉnh chỉ đạo, chỉ huy, tổ chức tiến hành. Xây dựng chế độ và khung pháp lý đảm bảo cho việc tuân thủ quy hoạch tăng trưởng năng lượng non sông. Xử lý nghiêm đối với các dự án đầu cơ chậm tiến độ, làm tác động tới an ninh năng lượng non sông.

– Kiểm tra, hoàn thiện mẫu hình điều hành nhà nước trong lĩnh vực năng lượng. Phân định rõ bổn phận, quyền hạn, chế độ phối hợp giữa Trung ương và địa phương, giữa các cơ quan điều hành nhà nước trong tăng trưởng năng lượng. Tăng nhanh công việc tuyên truyền, bình thường các văn bản quy phạm luật pháp, tăng lên tinh thần chấp hành và thực thi nghiêm chỉnh các quy định luật pháp về năng lượng. Thực hiện tốt vai trò định hướng, xây dựng chế độ gắn với tăng nhanh công việc rà soát, giám sát, phân phối tiến hành.

– Phát huy quyền làm chủ của quần chúng; mở mang sự tham dự của Chiến trận Đất nước Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp, các nhân vật chịu ảnh hưởng của chế độ vào giai đoạn xây dựng và giám sát tiến hành chiến lược, quy hoạch và chế độ tăng trưởng năng lượng non sông.

IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các tỉnh uỷ, thành uỷ, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết đến cán bộ, đảng viên; xây dựng chương trình, kế hoạch khai triển tiến hành Nghị quyết.

2. Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện luật pháp để tạo thuận tiện cho tăng trưởng năng lượng non sông theo ý thức của Nghị quyết; tăng nhanh giám sát việc xây dựng và tổ chức tiến hành chiến lược, quy hoạch và các chế độ tăng trưởng năng lượng non sông.

3. Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo xây dựng và khai triển Chiến lược tăng trưởng năng lượng non sông và các chiến lược tăng trưởng các phân ngành năng lượng, Quy hoạch toàn cục năng lượng non sông, Quy hoạch tăng trưởng điện lực non sông thích hợp với ý thức của Nghị quyết; dành đầu tiên xếp đặt đủ nguồn lực tiến hành các nhiệm vụ đã nêu trong Nghị quyết; khẩn trương khai triển các cam kết quốc tế trong việc nghiên cứu phần mềm năng lượng hạt nhân cho mục tiêu hoà bình; sớm tổng kết kiểm tra Luật Điện lực và các luật có liên can để trình Quốc hội sửa đổi những nội dung còn bất cập, nhất là vấn đề quy hoạch, truyền tải điện.

4. Chiến trận Đất nước Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát việc tiến hành Nghị quyết.

5. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương và các cơ quan liên can chỉ dẫn việc quán triệt tiến hành Nghị quyết.

6. Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên can thường xuyên theo dõi, chỉ dẫn rà soát, giám sát, đôn đốc khai triển tiến hành Nghị quyết; định kỳ sơ kết, tổng kết việc tiến hành, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thơ.

Nơi nhận:
– Các tỉnh uỷ, thành uỷ,
– Các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương,
– Các đảng uỷ đơn vị sự nghiệp Trung ương,
– Các đồng đội Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương,
– Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.

T/M BỘ CHÍNH TRỊ
TỔNG BÍ THƯ



Nguyễn Phú Trọng

.

Xem thêm thông tin Nghị quyết 55-NQ/TW

Nghị quyết 55-NQ/TW

Ngày 11/2/2020, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 55-NQ/TW về định hướng chiến lược tăng trưởng năng lượng non sông của Việt Nam tới 5 2030, tầm nhìn tới 5 2045. Đây là bước ngoặt trong tăng trưởng năng lượng non sông.
Nội dung Nghị quyết 55-NQ/TW

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG——–
Số: 55-NQ/TW

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM—————
Hà Nội, ngày 11 tháng 02 5 2020

NGHỊ QUYẾTCỦA BỘ CHÍNH TRỊVỀ ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045
I- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN
1. Sau 15 5 tiến hành Kết luận số 26-KL/TW, ngày 24/10/2003 của Bộ Chính trị khoá IX về Chiến lược và quy hoạch tăng trưởng ngành điện lực Việt Nam và 10 5 tiến hành Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2007 của Bộ Chính trị khoá X về định hướng Chiến lược tăng trưởng năng lượng non sông của Việt Nam tới 5 2020, tầm nhìn tới 5 2050, ngành năng lượng khái quát và ngành điện lực nói riêng đã có bước tăng trưởng nhanh, kha khá đồng bộ trong tất cả các phân ngành, lĩnh vực; bám sát định hướng và đạt được nhiều chỉ tiêu chi tiết đề ra.
Cung cấp năng lượng, đặc trưng là hỗ trợ điện căn bản phục vụ đủ đề xuất tăng trưởng kinh tế – xã hội với chất lượng càng ngày càng được cải thiện. Công nghiệp khai thác dầu khí và lọc hoá dầu tăng trưởng mạnh; sản lượng khai thác dầu khí tăng cao, tạo nên được 1 số cơ sở lọc hoá dầu quy mô phệ. Đã đầu cơ xây dựng nhiều dự án mỏ than có công suất phệ; sản lượng khai thác than thương phẩm tăng; thuỷ điện tăng trưởng nhanh, vừa qua điện gió và điện mặt trời khởi đầu tăng trưởng với vận tốc cao. Đầu cơ xây dựng cơ sở vật chất hỗ trợ điện có sự tăng trưởng mạnh bạo, là điều kiện quan trọng cho việc đảm bảo an ninh hỗ trợ điện. Đưa điện lưới non sông đến gần như mọi miền của non sông, kể cả vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Tiêu thụ năng lượng ngày càng tăng đáng kể, cơ cấu tiêu thụ năng lượng dịch chuyển theo hướng công nghiệp hoá. Việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả càng ngày càng được ân cần. Đã hăng hái tiến hành biến đổi ngành năng lượng sang hoạt động theo chế độ thị phần; huy động được nguồn lực phệ cho đầu cơ tăng trưởng với sự tham dự của nhiều thành phần kinh tế, cốt cán là các công ty nhà nước. Ngành năng lượng biến thành ngành kinh tế năng động, đóng góp rất quan trọng trong việc xúc tiến tăng trưởng kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh tại nhiều địa phương và non sông.
2. Tuy vậy, ngành năng lượng nước ta vẫn còn nhiều giảm thiểu, yếu kém. Tiêu chí đảm bảo an ninh năng lượng non sông còn nhiều thử thách; các nguồn cung trong nước ko đủ phục vụ đề xuất, phải nhập cảng năng lượng càng ngày càng phệ; nhiều dự án điện bị chậm so với quy hoạch, kế hoạch; 1 số mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng đang bất định theo chiều hướng bất lợi. Công việc điều hành, khai thác nguồn khoáng sản năng lượng còn 1 số giảm thiểu. Hiệu quả khai thác, sử dụng năng lượng còn thấp. Cơ sở cơ sở vật chất ngành năng lượng còn thiếu và chưa đồng bộ. Trình độ công nghệ trong 1 số lĩnh vực thuộc ngành năng lượng chậm được tăng lên, việc nội địa hoá và phân phối thị phần từ các dự án trong ngành năng lượng cho hàng hoá cơ khí chế tác sản xuất trong nước còn giảm thiểu. Chất lượng nguồn nhân công, năng suất lao động trong 1 số lĩnh vực còn thấp. Thị trường năng lượng cạnh tranh tăng trưởng chưa đồng bộ, thiếu liên thông giữa các phân ngành, giữa phát điện với truyền tải điện; chế độ giá năng lượng còn bất cập, chưa hoàn toàn thích hợp với chế độ thị phần, chưa tách bạch với chế độ an sinh xã hội. 1 số dự án năng lượng do công ty nhà nước đầu cơ còn thua lỗ; 1 số dự án năng lượng đầu cơ ra nước ngoài tiềm tàng nhiều bản lĩnh mất vốn. Công việc bảo vệ môi trường trong ngành năng lượng có nơi, có khi chưa được ân cần đúng mức, gây giận dữ xã hội.
3. Những hạn chế, yếu kém nêu trên do nhiều nguyên do, mà nguyên do chủ quan là cốt yếu. Nhận thức về vai trò, địa điểm, tầm quan trọng của ngành năng lượng và chỉ tiêu đảm bảo an ninh năng lượng non sông chưa đầy đủ, ân cần chưa đúng mức; 1 số vấn đề về tăng trưởng năng lượng chậm được tổng kết cả về lý luận và thực tế; chậm khắc phục những vướng mắc về phương hướng tăng trưởng các nguồn năng lượng và chi tiết hoá chế độ thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực năng lượng. Quy định luật pháp của ngành năng lượng khái quát và từng phân ngành nói riêng vẫn còn nhiều giảm thiểu, thiếu hợp nhất, chưa đảm bảo tính tương hợp với luật pháp quốc tế. 1 số chế độ, chế độ chưa thích hợp với chế độ thị phần, chưa xúc tiến việc xây dựng thị phần năng lượng cạnh tranh. Chính sách về đầu cơ tăng trưởng, điều hành khoáng sản năng lượng còn thiếu, chưa đồng bộ. Chính sách khoa học và công nghệ đối với ngành năng lượng chậm đổi mới. 1 số chiến lược, quy hoạch năng lượng chậm được hoàn thiện, chưa sát với tình hình thực tiễn và nguồn lực tiến hành, chưa thực thụ gắn kết với các quy hoạch tăng trưởng kinh tế – xã hội của địa phương và 1 số ngành khác. Bộ máy điều hành nhà nước ngành năng lượng khái quát và ngành điện nói riêng thiếu bình ổn; việc cắt cử, phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong 1 số trường hợp chưa rõ ràng, thiếu chặt chẽ. Công việc nghiên cứu, dự đoán còn yếu; công việc chỉ huy, tổ chức tiến hành các chế độ, luật pháp về năng lượng thiếu quyết liệt.
II- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO, MỤC TIÊU VÀ TẦM NHÌN
1. Quan điểm chỉ huy
– Đảm bảo chắc chắn an ninh năng lượng non sông là nền móng, cùng lúc là tiền đề quan trọng để tăng trưởng kinh tế – xã hội. Dành đầu tiên tăng trưởng năng lượng nhanh và vững bền, đi trước 1 bước, gắn với bảo vệ môi trường thọ thái, đảm bảo quốc phòng, an ninh, tiến hành tân tiến và công bình xã hội có ý nghĩa đặc trưng quan trọng, là nhiệm vụ trọng điểm xuyên suốt trong giai đoạn công nghiệp hoá, đương đại hoá non sông.
– Phát triển năng lượng non sông phải thích hợp với thiết chế kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa, xu hướng hội nhập quốc tế; mau chóng xây dựng thị phần năng lượng đồng bộ, cạnh tranh, sáng tỏ, nhiều chủng loại hoá vẻ ngoài sở hữu và phương thức kinh doanh; vận dụng giá thị phần đối với mọi loại hình năng lượng. Khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận tiện để các thành phần kinh tế, đặc trưng là kinh tế cá nhân tham dự tăng trưởng năng lượng; cương quyết loại trừ mọi biểu lộ bao cấp, độc quyền, cạnh tranh ko đồng đẳng, thiếu sáng tỏ trong ngành năng lượng.
– Phát triển đồng bộ, cân đối và nhiều chủng loại hoá các loại hình năng lượng; dành đầu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái hiện, năng lượng mới, năng lượng sạch; khai thác và sử dụng cân đối các nguồn năng lượng hoá thạch trong nước, chú trọng chỉ tiêu ổn định, điều tiết và đề xuất dự trữ năng lượng non sông; dành đầu tiên tăng trưởng điện khí, có lịch trình giảm tỉ trọng điện than 1 cách cân đối; chủ động nhập cảng nhiên liệu từ nước ngoài cho các nhà máy điện. Phân bổ tối ưu hệ thống năng lượng non sông trong tất cả các lĩnh vực trên cơ sở lợi thế so sánh của từng vùng, địa phương.
– Chú trọng nghiên cứu, phần mềm những thành tích của cuộc Cách mệnh công nghiệp lần thứ tư trong tăng trưởng tất cả các phân ngành, lĩnh vực năng lượng; tăng nhanh biến đổi số trong ngành năng lượng; từng bước làm chủ đạo nghệ đương đại, tiến đến tự chủ sản xuất được phần phệ các thiết bị năng lượng.
– Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môi trường phải được xem là quốc sách quan trọng và bổn phận của toàn xã hội. Tăng nhanh kiểm toán năng lượng; xây dựng chế độ, chế độ đồng bộ, chế tài đủ mạnh và khả thi để khuyến khích đầu cơ và sử dụng các công nghệ, trang thiết bị tiết kiệm năng lượng, gần gũi môi trường, góp phần xúc tiến năng suất lao động và đổi mới mẫu hình phát triển.
2. Tiêu chí
a) Tiêu chí tổng quát
Đảm bảo chắc chắn an ninh năng lượng non sông; hỗ trợ đầy đủ năng lượng bình ổn, có chất lượng cao với giá cả cân đối cho tăng trưởng kinh tế – xã hội nhanh và vững bền, đảm bảo quốc phòng, an ninh, tăng lên đời sống của quần chúng, góp phần bảo vệ môi trường thọ thái. Ngành năng lượng tăng trưởng hài hoà giữa các phân ngành với cơ sở vật chất đồng bộ và sáng dạ, đạt trình độ hiện đại của khu vực ASEAN. Xây dựng thị phần năng lượng cạnh tranh, sáng tỏ, hiệu quả, thích hợp với thiết chế kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn khoáng sản năng lượng trong nước liên kết với xuất, nhập cảng năng lượng cân đối; triệt để thực hành tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng. Chủ động sản xuất được 1 số thiết bị chính trong các phân ngành năng lượng; tăng cấp, xây dựng lưới điện truyền tải, cung ứng điện hiện đại, đương đại.
b) 1 số chỉ tiêu chi tiết
– Cung cấp đủ nhu cầu năng lượng trong nước, phục vụ cho các chỉ tiêu của Chiến lược tăng trưởng kinh tế xã hội 10 5 2021 – 2030; trong ấy, năng lượng sơ cấp tới 5 2030 đạt khoảng 175 – 195 triệu TOE (tấn dầu quy đổi), tới 5 2045, đạt khoảng 320 – 350 triệu TOE; tổng công suất của các nguồn điện tới 5 2030 đạt khoảng 125 – 130 GW, sản lượng điện đạt khoảng 550 – 600 tỉ KWh.
– Tỷ lệ các nguồn năng lượng tái hiện trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 15 – 20% vào 5 2030; 25 – 30% vào 5 2045.
– Tổng tiêu thụ năng lượng rốt cục tới 5 2030 đạt mức 105 – 115 triệu TOE, 5 2045 đạt mức 160 – 190 triệu TOE. Cường độ năng lượng sơ cấp 5 2030 đạt từ 420 – 460 kgOE/1.000 đô la GDP, 5 2045 từ 375 – 410 kgOE/1.000 đô la GDP.
– Xây dựng hệ thống lưới điện sáng dạ, hiệu quả, có bản lĩnh kết nối khu vực; đảm bảo hỗ trợ điện an toàn, phục vụ chỉ tiêu N-1 đối với vùng phụ tải quan trọng và N-2 đối với vùng phụ tải đặc trưng quan trọng. Tới 5 2030, độ tin tưởng hỗ trợ điện năng thuộc tốp 4 nước dẫn đầu ASEAN, chỉ số tiếp cận điện năng thuộc tốp 3 nước dẫn đầu ASEAN.
– Các cơ sở lọc dầu phục vụ tối thiểu 70% nhu cầu trong nước; đảm bảo mức dự trữ chiến lược xăng dầu đạt tối thiểu 90 ngày nhập ròng. Đủ năng lực nhập cảng khí thiên nhiên hoá lỏng (LNG) khoảng 8 tỉ m3 vào 5 2030 và khoảng 15 tỉ m3 vào 5 2045.
– Tỷ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng rốt cục so với kịch bản tăng trưởng phổ biến đạt khoảng 7% vào 5 2030 và khoảng 14% vào 5 2045.
– Giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng so với kịch bản tăng trưởng phổ biến ở mức 15% vào 5 2030, lên mức 20% vào 5 2045.
3. Tầm nhìn tới 5 2045: Đảm bảo chắc chắn an ninh năng lượng non sông; tạo nên đồng bộ các nhân tố thị phần năng lượng cạnh tranh, sáng tỏ, thích hợp với thiết chế kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa; các phân ngành năng lượng tăng trưởng vững bền, sử dụng hiệu quả khoáng sản, bảo vệ môi trường và thích nghi với chuyển đổi khí hậu; hệ thống cơ sở vật chất năng lượng tăng trưởng đồng bộ, đương đại, bản lĩnh kết nối khu vực và quốc tế được tăng lên; chất lượng nguồn nhân công, trình độ khoa học – công nghệ và năng lực quản trị ngành năng lượng đạt trình độ hiện đại của 1 nước công nghiệp tăng trưởng đương đại.
III- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Phát triển các nguồn cung năng lượng sơ cấp theo hướng tăng nhanh bản lĩnh tự chủ, nhiều chủng loại hoá, đảm bảo tính hiệu quả, tin tưởng và vững bền
– Về dầu khí: Tăng nhanh công việc kiếm tìm, dò la nhằm ngày càng tăng trữ lượng và sản lượng khai thác dầu khí tại các khu vực tiềm năng, nước sâu, xa bờ gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền non sông trên biển; tăng lên hệ số thu hồi, tận thu các mỏ bé, khối sót cận biên. Kiểm tra, có chiến lược chủ động và hiệu quả trong cộng tác về kiếm tìm, dò la và khai thác dầu khí ở nước ngoài. Phát triển công nghiệp khí; dành đầu tiên đầu cơ cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên dụng cho nhập cảng và tiêu thụ khí thiên nhiên hoá lỏng (LNG). Tiếp tục lôi cuốn đầu cơ trong lĩnh vực lọc – hoá dầu theo hướng chế biến sâu, tăng lên chất lượng thành phầm xăng dầu, chủ động phục vụ tối đa nhu cầu trong nước và hướng tới xuất khẩu. Đối với dầu khí đá phiến, khí hydrate (băng cháy), hăng hái nghiên cứu, bình chọn sâu hơn về địa chất và vận dụng tân tiến khoa học – kỹ thuật để mở mang khuôn khổ điều tra; sớm khai triển bình chọn toàn cục, đẩy nhanh khai thác thí điểm lúc điều kiện cho phép.
– Về than: Xây dựng mới chiến lược tăng trưởng ngành than gắn với nhiệm vụ đầu cơ hiệu quả ra nước ngoài và nhập cảng than dài hạn. Thực hiện dự trữ than thích hợp, phục vụ đề xuất cho các hoạt động sản xuất, đặc trưng là sản xuất điện. Mở mang kiếm tìm, dò la, tăng lên chất lượng công việc bình chọn các đơn vị quản lý trữ lượng và khoáng sản. Tăng nhanh khai thác than trong nước trên cơ sở đảm bảo an toàn, hiệu quả và tiết kiệm khoáng sản; khẩn trương nghiên cứu công nghệ để có thể khai thác bể than đồng bằng Sông Hồng; tăng lên hệ số thu hồi than sạch trong khai thác hầm lò. Triển khai nhanh việc xây dựng hệ thống cảng, kho dự trữ và trung chuyển than quy mô phệ; tăng nhanh cơ giới hoá, đương đại hoá thiết bị sàng, tuyển và khai thác than. Kiểm tra, bình chọn nhu cầu, xây dựng kế hoạch và tối ưu hoá các biện pháp hỗ trợ than bình ổn cho sản xuất điện thích hợp với chế độ thị phần.
– Về năng lượng tái hiện: Xây dựng các chế độ, chế độ đột phá để khuyến khích và xúc tiến tăng trưởng mạnh bạo các nguồn năng lượng tái hiện nhằm thay thế tối đa các nguồn năng lượng hoá thạch. Dành đầu tiên sử dụng năng lượng gió và mặt trời cho phát điện; khuyến khích đầu cơ xây dựng các nhà máy điện sử dụng rác thải đô thị, sinh khối và chất thải rắn đi đôi với công việc bảo vệ môi trường và tăng trưởng kinh tế tuần hoàn. Tạo nên và tăng trưởng 1 số trung tâm năng lượng tái hiện tại các vùng và các địa phương hữu dụng thế. Sớm nghiên cứu, bình chọn toàn cục về tiềm năng và xây dựng định hướng tăng trưởng năng lượng địa nhiệt, sóng biển, thuỷ triều, hải lưu; khai triển 1 số mẫu hình phần mềm, thực hiện khai thác thí điểm để bình chọn hiệu quả. Thực hiện nghiên cứu công nghệ, xây dựng 1 số đề án thí điểm sản xuất và khuyến khích sử dụng năng lượng hydro thích hợp với xu hướng chung của toàn cầu.
– Về các nguồn năng lượng khác: Kịp thời nắm bắt các thông tin liên can để nghiên cứu, tăng trưởng trong điều kiện cho phép về tân tiến khoa học – kỹ thuật, nguồn nhân công, bản lĩnh vốn đầu tư và những nhân tố thiết yếu khác.
2. Phát triển nhanh và vững bền ngành điện phục vụ đề xuất công nghiệp hoá, đương đại hoá non sông
– Xây dựng và khai triển Chiến lược tăng trưởng ngành điện lực Việt Nam cho quá trình mới. Phát triển nhanh và vững bền các nguồn phát điện với cơ cấu và phân bố cân đối, đảm bảo an toàn, tin tưởng, bình ổn theo hướng nhiều chủng loại hoá, chú trọng tăng lên hệ số công suất khả dụng và có ngừa công suất thích hợp; phục vụ các đề xuất về bảo vệ môi trường thọ thái.
Đối với thuỷ điện: Huy động tối đa các nguồn thuỷ điện hiện có. Phát triển có lựa chọn, bổ sung 1 số thuỷ điện bé và vừa, thuỷ điện tích năng. Có chiến lược cộng tác tăng trưởng thuỷ điện gắn với nhập cảng điện năng dài hạn từ nước ngoài.
Đối với điện gió và điện mặt trời: Dành đầu tiên tăng trưởng thích hợp với bản lĩnh đảm bảo an toàn hệ thống với mức giá điện năng cân đối. Khuyến khích tăng trưởng điện mặt trời áp mái và trên mặt nước. Xây dựng các chế độ phân phối và chế độ đột phá cho tăng trưởng điện gió ngoài khơi gắn với khai triển tiến hành Chiến lược biển Việt Nam.
Đối với nhiệt điện: Khuyến khích các dự án nhiệt điện đồng bộ từ khâu hỗ trợ, lưu trữ nhiên liệu và xây dựng nhà máy trên cơ sở giá thành điện xác định phê chuẩn đấu thầu. Phát triển nhiệt điện khí theo hướng dành đầu tiên sử dụng nguồn khí trong nước. Chú trọng tăng trưởng nhanh nhiệt điện khí sử dụng LNG, đưa điện khí dần biến thành nguồn hỗ trợ điện năng quan trọng, phân phối cho điều tiết hệ thống.
Phát triển nhiệt điện than ở mức cân đối theo hướng dành đầu tiên những tổ máy công suất phệ, hiệu suất cao, sử dụng công nghệ hiện đại, đương đại như công nghệ siêu đến hạn trở lên; đảm bảo tiến hành đầy đủ luật pháp về an toàn môi trường thọ thái, thích hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Kiểm tra toàn cục và có kế hoạch sớm khai triển tăng cấp công nghệ của các nhà máy điện than hiện có để phục vụ đề xuất bảo vệ môi trường; cương quyết đóng cửa đối với các nhà máy ko tiến hành tăng cấp công nghệ theo quy định.
Đối với điện sinh khối, rác thải và chất thải rắn: Khai thác tối đa nguồn điện sinh khối đồng phát; tăng nhanh tăng trưởng các nguồn điện từ rác thải đô thị, chất thải rắn và sinh khối.
– Đầu cơ đương đại hoá ngành điện từ khâu sản xuất, truyền tải tới cung ứng phục vụ đề xuất tăng trưởng của thị phần điện, có bản lĩnh tích hợp quy mô phệ nguồn năng lượng tái hiện; tăng lên bản lĩnh đảm bảo an ninh màng lưới điện và chất lượng dịch vụ điện. Hăng hái tiến hành các chương trình điều hành nhu cầu điện và điều chỉnh phụ tải; điều hành chặt chẽ hơn cường độ tiêu thụ điện năng; hạn chế tối đa tổn thất điện năng; hoàn thiện chế độ, chế độ khuyến khích và xúc tiến khai triển tàng trữ điện năng. Hiện đại hoá hệ thống điều độ điện, từng bước khai triển vận dụng những công nghệ giám sát kỹ thuật tự động, sáng dạ; nghiên cứu phần mềm truyền tải siêu cao thế, truyền tải 1 chiều trong ngành điện.
– Nghiên cứu, hoàn thiện các chế độ vốn đầu tư và huy động vốn đặc trưng cho đầu cơ tăng trưởng ngành điện. Kiểm tra, điều chỉnh các quy định về kiểm soát và điều phối thị phần điện lực. Có chế độ cho phép tăng trưởng các nhà máy điện sản xuất tại chỗ, tự hỗ trợ trong các khu, cụm công nghiệp, khu chế xuất…
– Đẩy nhanh lịch trình tiến hành thị phần điện cạnh tranh, chế độ giao kèo sắm bán điện trực tiếp giữa nhà cung cấp và người dùng tiêu thụ, chế độ đấu thầu, đấu giá hỗ trợ năng lượng thích hợp, đặc trưng trong các dự án đầu cơ năng lượng tái hiện, năng lượng mới; sáng tỏ giá sắm bán điện. Có chế độ khuyến khích lôi cuốn vốn ngoài nhà nước đầu cơ xây dựng vào hệ thống truyền tải điện non sông. Vận hành hệ thống truyền tải điện non sông độc lập dưới sự kiểm soát của Nhà nước.
3. Cơ cấu lại các đơn vị quản lý và khu vực tiêu thụ năng lượng song song với tiến hành chế độ về sử dụng năng lượng sạch, tiết kiệm và hiệu quả
– Cơ cấu lại các đơn vị quản lý tiêu thụ năng lượng, đặc trưng là khu vực đầu cơ nước ngoài để hạn chế cường độ năng lượng. Có chế độ khuyến khích tăng trưởng các đơn vị quản lý công nghiệp tiêu thụ ít năng lượng và có hiệu quả về kinh tế – xã hội.
– Kiểm tra, điều chỉnh phân bố các nguồn tiêu thụ năng lượng cởi mở theo hướng phân tán, giảm thiểu việc quá mức vào 1 số địa phương, liên kết chặt chẽ với phân bố lại ko gian tăng trưởng công nghiệp và đô thị trên khuôn khổ cả nước, từng vùng và địa phương.
– Kiểm tra, hoàn thiện Chương trình non sông về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả quá trình 2020 – 2030. Triển khai vận dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn buộc phải kèm theo chế tài về sử dụng hiệu quả năng lượng đối với những lĩnh vực, ngành và thành phầm có mức tiêu thụ năng lượng cao. Có chế độ khuyến khích các hộ tiêu thụ sử dụng năng lượng sạch, tái hiện, nhất là trong công nghiệp và giao thông; xúc tiến tăng trưởng các dụng cụ giao thông sử dụng điện năng thích hợp với xu hướng chung trên toàn cầu.
4. Phát triển cơ sở vật chất năng lượng vững bền, kết nối khu vực; tăng lên nội lực ngành công nghiệp chế tác, dịch vụ chuyên dụng cho ngành năng lượng
– Có chế độ dành đầu tiên đầu cơ tăng trưởng cơ sở vật chất năng lượng vững bền; chú trọng xây dựng cơ sở cơ sở vật chất xuất, nhập cảng năng lượng, kết nối khu vực. Xác định danh mục cơ sở vật chất năng lượng có thể dùng chung và xây dựng chế độ dùng chung thích hợp với chế độ thị phần. Xoá bỏ mọi độc quyền, rào cản bất cân đối trong sử dụng hạ tầng và dịch vụ cơ sở vật chất năng lượng; có chế độ, chế độ đầu cơ xây dựng hệ thống truyền tải điện, tách bạch với độc quyền nhà nước về truyền tải điện. Thực hiện xã hội hoá tối đa trong đầu cơ và khai thác, sử dụng hạ tầng, dịch vụ ngành năng lượng, bao gồm cả hệ thống truyền tải điện non sông trên cơ sở đảm bảo quốc phòng, an ninh.
– Thúc đẩy nhanh biến đổi số trong ngành năng lượng; xây dựng và khai triển Chương trình non sông về tăng trưởng cơ sở vật chất năng lượng sáng dạ; hoàn thiện chế độ, xây dựng cơ sở dữ liệu, tiến hành thống kê năng lượng non sông chuyên dụng cho công việc điều hành, quản lý hiệu quả ngành năng lượng.
– Xây dựng chế độ, chế độ khuyến khích và phân phối tăng trưởng công nghiệp chế tác và dịch vụ chuyên dụng cho ngành năng lượng theo hướng tăng nhanh nội lực, hướng tới xuất khẩu; dành đầu tiên tăng trưởng các đơn vị quản lý chế tác máy, thiết bị điện, dầu khí, dịch vụ dầu khí. Hoàn thiện khung pháp lý, khuyến khích và tăng nhanh khai triển mẫu hình các doanh nghiệp dịch vụ năng lượng. Khẩn trương xây dựng và thực thi các chế độ, chế độ khuyến khích tăng lên tỷ lệ nội địa hoá trong ngành năng lượng; đảm bảo tiến hành tốt các đề xuất, mục tiêu chi tiết về tỷ lệ nội địa hoá đối với các nhà máy điện nói riêng và dự án năng lượng khái quát. Hoàn thiện chế độ đặt hàng sản xuất của Nhà nước để khuyến khích các công ty trong nước tiến hành những công trình, dự án phức tạp, kỹ thuật cao trong ngành năng lượng phục vụ các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.
5. Cơ cấu lại, đổi mới và tăng lên hiệu quả hoạt động của các công ty nhà nước trong lĩnh vực năng lượng; khuyến khích kinh tế cá nhân tham dự xã hội hoá tăng trưởng năng lượng
– Cơ cấu lại toàn diện các công ty nhà nước trong lĩnh vực năng lượng theo hướng vào các lĩnh vực mấu chốt, có điểm tốt; tách bạch công dụng kinh doanh với công dụng điều hành nhà nước; vận dụng các mẫu hình và thông lệ quản trị hiện đại, tăng lên hệ số tín nhiệm quốc tế, triệt để tiến hành công khai, sáng tỏ hoá trong hoạt động; chú trọng tăng lên hiệu quả khai thác, sử dụng cơ sở vật chất năng lượng non sông. Hoàn thiện các quy định về bình chọn các nguồn lực, của nả thích hợp với thông lệ quốc tế và thực tế; xử lý, tái cơ cấu triệt để các dự án, công ty nhà nước kém hiệu quả, thua lỗ trong lĩnh vực năng lượng. Nghiên cứu, khai triển thử nghiệm chế độ bán có thời hạn hoặc cho thuê dài hạn đối với các nhà máy điện, kho nhiên liệu, nhà máy lọc dầu… thuộc sở hữu của công ty nhà nước.
– Kiểm tra, bổ sung, điều chỉnh các chế độ, chế độ đặc biệt cho 1 số dự án năng lượng quan trọng, đặc trưng đối với các dự án đầu cơ nguồn điện thúc bách; đảm bảo đầy đủ vốn cho các công ty năng lượng nhà nước tiến hành các chỉ tiêu chiến lược và nhiệm vụ gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh.
– Kiến lập môi trường thuận tiện, sáng tỏ; công khai quy hoạch, danh mục các dự án đầu cơ, xoá bỏ mọi rào cản để lôi cuốn, khuyến khích cá nhân tham dự đầu cơ, tăng trưởng các dự án năng lượng trong và ngoài nước, chú trọng những dự án phát điện và các hoạt động bán sỉ, bán lẻ điện theo chế độ thị phần. Tiếp tục khuyến khích, lôi cuốn đầu cơ nước ngoài có quy mô, chất lượng và hiệu quả cho ngành năng lượng. Đẩy nhanh cổ phần hoá các công ty nhà nước thuộc ngành điện; xây dựng chế độ đầu dâm tà thoáng, canh tân thủ tục hành chính để đảm bảo tiến độ các công trình điện.
6. Đổi mới chế độ, chế độ, tăng trưởng thị phần năng lượng đồng bộ, liên thông, đương đại và hiệu quả, thích hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa
– Phát triển thị phần năng lượng đồng bộ, liên thông giữa các phân ngành điện, than, dầu khí và năng lượng tái hiện, kết nối với thị phần khu vực và toàn cầu. Xoá bỏ mọi rào cản để đảm bảo giá năng lượng sáng tỏ do thị phần quyết định; ko tiến hành bù chéo giá điện giữa các nhóm người dùng, giữa các vùng, miền; Nhà nước điều tiết cân đối phê chuẩn các dụng cụ thị phần (thuế, phí, các quỹ…) và chế độ an sinh xã hội thích hợp. Hoàn thiện chế độ, chế độ, các dụng cụ có tính thị phần để tăng nhanh sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
– Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện các chế độ về đất đai, bồi hoàn giải phóng mặt bằng, sử dụng mặt nước, chống đầu tư, trục lợi, ích lợi nhóm trong lĩnh vực năng lượng. Đổi mới chế độ vốn đầu tư theo hướng khuyến khích, lôi cuốn mạnh các tài chính đầu cơ ngoài nhà nước; khuyến khích các dự án đầu cơ năng lượng theo vẻ ngoài đối tác công tư (PPP). Thực hiện chế độ tín dụng cởi mở, hiệu quả, tạo điều kiện thuận tiện cho công ty năng lượng tiếp cận các tài chính, đặc trưng là các công ty có dự án năng lượng xanh. Hoàn thiện chế độ thuế khuyến khích sản xuất, sử dụng năng lượng sạch, tái hiện. Xây dựng cơ sở pháp lý để có thể tạo nên và vận hành hiệu quả các quỹ về tăng trưởng năng lượng vững bền, xúc tiến sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo hướng xã hội hoá, đảm bảo độc lập về vốn đầu tư, ko trùng lặp với nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước và giảm thiểu việc làm tăng chi tiêu hoạt động, sản xuất kinh doanh cho công ty, cơ sở sản xuất kinh doanh. Hoàn thiện chế độ và tiến hành chế độ về tiêu chuẩn tỷ lệ năng lượng tái hiện trong cơ cấu đầu cơ và hỗ trợ năng lượng.
– Sửa đổi, hoàn thiện các luật chuyên ngành về dầu khí, điện lực, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và các luật khác liên can tới ngành năng lượng để làm cơ sở tiến hành hiệu quả hơn chế độ thị phần. Nghiên cứu, tiến hành luật hoá việc quản lý giá điện và 1 số khuyến mại cho dự án được khuyến khích đầu cơ trong lĩnh vực năng lượng. Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động kiểm soát và điều phối điện lực. Nghiên cứu, xây dựng và ban hành luật về năng lượng tái hiện.
– Tăng lên chất lượng công việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch tăng trưởng năng lượng, đặc trưng trong phân ngành điện, đảm bảo tính bình ổn, đồng bộ và cởi mở, gắn kết với chiến lược, kế hoạch tăng trưởng kinh tế – xã hội của địa phương và 1 số ngành khác. Kiểm tra, điều chỉnh và sớm ban hành các quy hoạch liên can tới tăng trưởng năng lượng theo Luật Quy hoạch.
7. Phát triển khoa học – công nghệ, huấn luyện nguồn nhân công chất lượng cao cho ngành năng lượng
– Tạo nên chế độ kết hợp giữa lực lượng nghiên cứu và tăng trưởng khoa học – công nghệ, đổi mới thông minh với các công ty và các cơ sở huấn luyện trong lĩnh vực năng lượng phê chuẩn các chương trình khoa học và công nghệ; lồng ghép hoạt động nghiên cứu và tăng trưởng trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tăng trưởng năng lượng. Tạo chế độ khuyến khích các công ty năng lượng tăng nhanh đầu cơ cho nghiên cứu và tăng trưởng; thành lập các trung tâm đổi mới thông minh trong lĩnh vực năng lượng. Tiếp tục khai triển chương trình khoa học và công nghệ trọng tâm non sông về nghiên cứu phần mềm và tăng trưởng công nghệ năng lượng quá trình 2021 – 2030, trọng điểm là nghiên cứu chế tác thiết bị năng lượng và phần mềm các dạng năng lượng mới, năng lượng tái hiện, năng lượng sáng dạ, tiết kiệm năng lượng.
– Kiểm tra, sửa đổi, bổ sung các tiêu chuẩn, quy chuẩn non sông trong lĩnh vực năng lượng thích hợp với các quy định, tiêu chuẩn quốc tế, có xét tới các tiêu chuẩn, quy chuẩn non sông liên can tới việc tái chế, sử dụng chất thải từ giai đoạn sản xuất năng lượng. Từng bước vận dụng các giải pháp khuyến khích và buộc phải đổi mới công nghệ, thiết bị trong ngành năng lượng cũng như những ngành, lĩnh vực sử dụng nhiều năng lượng.
– Xây dựng chế độ tăng trưởng nguồn nhân công toàn cục và các chương trình huấn luyện cho những khâu cốt lõi của ngành năng lượng. Tăng nhanh huấn luyện hàng ngũ người lao động kỹ thuật, viên chức nghiệp vụ phục vụ đề xuất sử dụng trong nước, hướng đến xuất khẩu. Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân công đã được huấn luyện về năng lượng hạt nhân đi đôi với huấn luyện tăng lên.
8. Tăng nhanh cộng tác quốc tế; hăng hái, chủ động xây dựng các bên chiến lược để tiến hành chỉ tiêu nhập cảng năng lượng trong dài hạn và đầu cơ khoáng sản năng lượng ở nước ngoài
– Thực hiện chế độ đối ngoại năng lượng cởi mở, hiệu quả, đồng đẳng, cùng hữu dụng. Mở mang và làm thâm thúy hơn cộng tác năng lượng với các bên chiến lược, đối tác quan trọng. Tăng nhanh quan hệ quốc tế về năng lượng trong tất cả các phân ngành, lĩnh vực thích hợp với xu hướng hội nhập, tận dụng thời cơ từ các hiệp nghị thương nghiệp, các quan hệ chính trị – ngoại giao thuận tiện để tăng trưởng năng lượng.
– Khẩn trương xây dựng chiến lược nhập cảng năng lượng dài hạn song song với khuyến khích đầu cơ, khai thác khoáng sản năng lượng ở nước ngoài để góp phần đảm bảo an ninh năng lượng non sông; có chế độ phân phối các công ty Việt Nam đầu cơ dự án năng lượng ở nước ngoài, đầu tiên là với các dự án nguồn điện tại 1 số nước hàng xóm để chủ động nhập cảng điện về Việt Nam. Mở mang quan hệ đối tác với các doanh nghiệp đầu cơ năng lượng, tăng trưởng công nghệ năng lượng hiện đại.
– Hăng hái tham dự cộng tác năng lượng tại tiểu vùng Mê Công mở mang (GMS) và khu vực Đông Nam Á (ASEAN); kết hợp lưới điện, hoàn thiện chế độ sắm bán điện với Trung Quốc, Lào và Cam-pu-chia. Tiếp tục nghiên cứu kết nối hệ thống khí trong khu vực, khai triển tiến hành lúc điều kiện cho phép.
9. Thực thi chế độ bảo vệ môi trường ngành năng lượng gắn với chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính, xúc tiến kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng vững bền
– Nghiên cứu, xây dựng chế độ thuế các-bon phù hợp đối với việc sử dụng nhiên liệu hoá thạch. Có chế độ, chế độ khai triển việc thu hồi, sử dụng khí CO­2. Thực hiện bình chọn hiệu quả việc sử dụng, tái chế tro, xỉ nảy sinh trên cơ sở hợp lý nhu cầu và bản lĩnh tiêu thụ làm nguyên liệu xây dựng, nhất là tại khu vực miền Nam.
– Hoàn thiện khung chế độ, xây dựng và bổ sung hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn non sông về khí thải và chất thải trong ngành năng lượng theo hướng tiệm cận với những tiêu chuẩn của các nước tăng trưởng. Bổ sung quy định gạn lọc dự án đầu cơ theo không may về môi trường. Xây dựng quy chế vốn đầu tư về môi trường, đảm bảo tính đủ các chi tiêu về môi trường, xã hội trong đầu cơ và mức giá thành phầm. Tăng nhanh phòng đề phòng, kiểm soát các nhân vật có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao; xử lý nghiêm các vi phạm về an toàn môi trường theo quy định của luật pháp. Thông tin tuyên truyền kịp thời và đầy đủ về công việc bảo vệ môi trường trong ngành năng lượng.
– Xây dựng và khai triển Đề án tích hợp mẫu hình kinh tế tuần hoàn vào chiến lược tăng trưởng các công ty năng lượng. Phát triển hệ thống điều hành và xử lý chất thải trong sản xuất năng lượng với công nghệ hiện đại, thích hợp với điều kiện nước ta; đảm bảo năng lực tự xử lý các nguồn thải trong các công ty năng lượng. Có chế độ, chế độ khuyến khích tăng trưởng công nghiệp môi trường gắn với ngành năng lượng.
– Kiểm tra, điều chỉnh và bổ sung những nội dung liên can tới ngành năng lượng trong Chiến lược non sông về chuyển đổi khí hậu, Chiến lược non sông về phát triển xanh, Chiến lược tăng trưởng vững bền Việt Nam, Chiến lược biển Việt Nam và các chiến lược khác có liên can.
10. Tăng nhanh sự chỉ đạo của Đảng; tăng lên hiệu lực, hiệu quả điều hành của Nhà nước; phát huy quyền làm chủ của quần chúng và vai trò của Chiến trận Đất nước Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội trong tăng trưởng ngành năng lượng
– Tăng lên nhận thức của các đơn vị quản lý uỷ đảng và cả hệ thống chính trị và quần chúng về vai trò, địa điểm, tầm quan trọng của ngành năng lượng. Các đơn vị quản lý uỷ đảng và chính quyền từ Trung ương tới địa phương cần xác định tăng trưởng năng lượng non sông là nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt, nghiêm chỉnh chỉ đạo, chỉ huy, tổ chức tiến hành. Xây dựng chế độ và khung pháp lý đảm bảo cho việc tuân thủ quy hoạch tăng trưởng năng lượng non sông. Xử lý nghiêm đối với các dự án đầu cơ chậm tiến độ, làm tác động tới an ninh năng lượng non sông.
– Kiểm tra, hoàn thiện mẫu hình điều hành nhà nước trong lĩnh vực năng lượng. Phân định rõ bổn phận, quyền hạn, chế độ phối hợp giữa Trung ương và địa phương, giữa các cơ quan điều hành nhà nước trong tăng trưởng năng lượng. Tăng nhanh công việc tuyên truyền, bình thường các văn bản quy phạm luật pháp, tăng lên tinh thần chấp hành và thực thi nghiêm chỉnh các quy định luật pháp về năng lượng. Thực hiện tốt vai trò định hướng, xây dựng chế độ gắn với tăng nhanh công việc rà soát, giám sát, phân phối tiến hành.
– Phát huy quyền làm chủ của quần chúng; mở mang sự tham dự của Chiến trận Đất nước Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp, các nhân vật chịu ảnh hưởng của chế độ vào giai đoạn xây dựng và giám sát tiến hành chiến lược, quy hoạch và chế độ tăng trưởng năng lượng non sông.
IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Các tỉnh uỷ, thành uỷ, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết đến cán bộ, đảng viên; xây dựng chương trình, kế hoạch khai triển tiến hành Nghị quyết.
2. Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện luật pháp để tạo thuận tiện cho tăng trưởng năng lượng non sông theo ý thức của Nghị quyết; tăng nhanh giám sát việc xây dựng và tổ chức tiến hành chiến lược, quy hoạch và các chế độ tăng trưởng năng lượng non sông.
3. Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo xây dựng và khai triển Chiến lược tăng trưởng năng lượng non sông và các chiến lược tăng trưởng các phân ngành năng lượng, Quy hoạch toàn cục năng lượng non sông, Quy hoạch tăng trưởng điện lực non sông thích hợp với ý thức của Nghị quyết; dành đầu tiên xếp đặt đủ nguồn lực tiến hành các nhiệm vụ đã nêu trong Nghị quyết; khẩn trương khai triển các cam kết quốc tế trong việc nghiên cứu phần mềm năng lượng hạt nhân cho mục tiêu hoà bình; sớm tổng kết kiểm tra Luật Điện lực và các luật có liên can để trình Quốc hội sửa đổi những nội dung còn bất cập, nhất là vấn đề quy hoạch, truyền tải điện.
4. Chiến trận Đất nước Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát việc tiến hành Nghị quyết.
5. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương và các cơ quan liên can chỉ dẫn việc quán triệt tiến hành Nghị quyết.
6. Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên can thường xuyên theo dõi, chỉ dẫn rà soát, giám sát, đôn đốc khai triển tiến hành Nghị quyết; định kỳ sơ kết, tổng kết việc tiến hành, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thơ.

Nơi nhận:– Các tỉnh uỷ, thành uỷ,– Các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương,– Các đảng uỷ đơn vị sự nghiệp Trung ương,– Các đồng đội Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương,– Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.

T/M BỘ CHÍNH TRỊTỔNG BÍ THƯNguyễn Phú Trọng

TagsNghị quyết 55-NQ/TW

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Nghị #quyết #55NQTW

Nghị quyết 55-NQ/TW

Ngày 11/2/2020, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 55-NQ/TW về định hướng chiến lược tăng trưởng năng lượng non sông của Việt Nam tới 5 2030, tầm nhìn tới 5 2045. Đây là bước ngoặt trong tăng trưởng năng lượng non sông.
Nội dung Nghị quyết 55-NQ/TW

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG——–
Số: 55-NQ/TW

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM—————
Hà Nội, ngày 11 tháng 02 5 2020

NGHỊ QUYẾTCỦA BỘ CHÍNH TRỊVỀ ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045
I- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN
1. Sau 15 5 tiến hành Kết luận số 26-KL/TW, ngày 24/10/2003 của Bộ Chính trị khoá IX về Chiến lược và quy hoạch tăng trưởng ngành điện lực Việt Nam và 10 5 tiến hành Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2007 của Bộ Chính trị khoá X về định hướng Chiến lược tăng trưởng năng lượng non sông của Việt Nam tới 5 2020, tầm nhìn tới 5 2050, ngành năng lượng khái quát và ngành điện lực nói riêng đã có bước tăng trưởng nhanh, kha khá đồng bộ trong tất cả các phân ngành, lĩnh vực; bám sát định hướng và đạt được nhiều chỉ tiêu chi tiết đề ra.
Cung cấp năng lượng, đặc trưng là hỗ trợ điện căn bản phục vụ đủ đề xuất tăng trưởng kinh tế – xã hội với chất lượng càng ngày càng được cải thiện. Công nghiệp khai thác dầu khí và lọc hoá dầu tăng trưởng mạnh; sản lượng khai thác dầu khí tăng cao, tạo nên được 1 số cơ sở lọc hoá dầu quy mô phệ. Đã đầu cơ xây dựng nhiều dự án mỏ than có công suất phệ; sản lượng khai thác than thương phẩm tăng; thuỷ điện tăng trưởng nhanh, vừa qua điện gió và điện mặt trời khởi đầu tăng trưởng với vận tốc cao. Đầu cơ xây dựng cơ sở vật chất hỗ trợ điện có sự tăng trưởng mạnh bạo, là điều kiện quan trọng cho việc đảm bảo an ninh hỗ trợ điện. Đưa điện lưới non sông đến gần như mọi miền của non sông, kể cả vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Tiêu thụ năng lượng ngày càng tăng đáng kể, cơ cấu tiêu thụ năng lượng dịch chuyển theo hướng công nghiệp hoá. Việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả càng ngày càng được ân cần. Đã hăng hái tiến hành biến đổi ngành năng lượng sang hoạt động theo chế độ thị phần; huy động được nguồn lực phệ cho đầu cơ tăng trưởng với sự tham dự của nhiều thành phần kinh tế, cốt cán là các công ty nhà nước. Ngành năng lượng biến thành ngành kinh tế năng động, đóng góp rất quan trọng trong việc xúc tiến tăng trưởng kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh tại nhiều địa phương và non sông.
2. Tuy vậy, ngành năng lượng nước ta vẫn còn nhiều giảm thiểu, yếu kém. Tiêu chí đảm bảo an ninh năng lượng non sông còn nhiều thử thách; các nguồn cung trong nước ko đủ phục vụ đề xuất, phải nhập cảng năng lượng càng ngày càng phệ; nhiều dự án điện bị chậm so với quy hoạch, kế hoạch; 1 số mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng đang bất định theo chiều hướng bất lợi. Công việc điều hành, khai thác nguồn khoáng sản năng lượng còn 1 số giảm thiểu. Hiệu quả khai thác, sử dụng năng lượng còn thấp. Cơ sở cơ sở vật chất ngành năng lượng còn thiếu và chưa đồng bộ. Trình độ công nghệ trong 1 số lĩnh vực thuộc ngành năng lượng chậm được tăng lên, việc nội địa hoá và phân phối thị phần từ các dự án trong ngành năng lượng cho hàng hoá cơ khí chế tác sản xuất trong nước còn giảm thiểu. Chất lượng nguồn nhân công, năng suất lao động trong 1 số lĩnh vực còn thấp. Thị trường năng lượng cạnh tranh tăng trưởng chưa đồng bộ, thiếu liên thông giữa các phân ngành, giữa phát điện với truyền tải điện; chế độ giá năng lượng còn bất cập, chưa hoàn toàn thích hợp với chế độ thị phần, chưa tách bạch với chế độ an sinh xã hội. 1 số dự án năng lượng do công ty nhà nước đầu cơ còn thua lỗ; 1 số dự án năng lượng đầu cơ ra nước ngoài tiềm tàng nhiều bản lĩnh mất vốn. Công việc bảo vệ môi trường trong ngành năng lượng có nơi, có khi chưa được ân cần đúng mức, gây giận dữ xã hội.
3. Những hạn chế, yếu kém nêu trên do nhiều nguyên do, mà nguyên do chủ quan là cốt yếu. Nhận thức về vai trò, địa điểm, tầm quan trọng của ngành năng lượng và chỉ tiêu đảm bảo an ninh năng lượng non sông chưa đầy đủ, ân cần chưa đúng mức; 1 số vấn đề về tăng trưởng năng lượng chậm được tổng kết cả về lý luận và thực tế; chậm khắc phục những vướng mắc về phương hướng tăng trưởng các nguồn năng lượng và chi tiết hoá chế độ thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực năng lượng. Quy định luật pháp của ngành năng lượng khái quát và từng phân ngành nói riêng vẫn còn nhiều giảm thiểu, thiếu hợp nhất, chưa đảm bảo tính tương hợp với luật pháp quốc tế. 1 số chế độ, chế độ chưa thích hợp với chế độ thị phần, chưa xúc tiến việc xây dựng thị phần năng lượng cạnh tranh. Chính sách về đầu cơ tăng trưởng, điều hành khoáng sản năng lượng còn thiếu, chưa đồng bộ. Chính sách khoa học và công nghệ đối với ngành năng lượng chậm đổi mới. 1 số chiến lược, quy hoạch năng lượng chậm được hoàn thiện, chưa sát với tình hình thực tiễn và nguồn lực tiến hành, chưa thực thụ gắn kết với các quy hoạch tăng trưởng kinh tế – xã hội của địa phương và 1 số ngành khác. Bộ máy điều hành nhà nước ngành năng lượng khái quát và ngành điện nói riêng thiếu bình ổn; việc cắt cử, phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong 1 số trường hợp chưa rõ ràng, thiếu chặt chẽ. Công việc nghiên cứu, dự đoán còn yếu; công việc chỉ huy, tổ chức tiến hành các chế độ, luật pháp về năng lượng thiếu quyết liệt.
II- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO, MỤC TIÊU VÀ TẦM NHÌN
1. Quan điểm chỉ huy
– Đảm bảo chắc chắn an ninh năng lượng non sông là nền móng, cùng lúc là tiền đề quan trọng để tăng trưởng kinh tế – xã hội. Dành đầu tiên tăng trưởng năng lượng nhanh và vững bền, đi trước 1 bước, gắn với bảo vệ môi trường thọ thái, đảm bảo quốc phòng, an ninh, tiến hành tân tiến và công bình xã hội có ý nghĩa đặc trưng quan trọng, là nhiệm vụ trọng điểm xuyên suốt trong giai đoạn công nghiệp hoá, đương đại hoá non sông.
– Phát triển năng lượng non sông phải thích hợp với thiết chế kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa, xu hướng hội nhập quốc tế; mau chóng xây dựng thị phần năng lượng đồng bộ, cạnh tranh, sáng tỏ, nhiều chủng loại hoá vẻ ngoài sở hữu và phương thức kinh doanh; vận dụng giá thị phần đối với mọi loại hình năng lượng. Khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận tiện để các thành phần kinh tế, đặc trưng là kinh tế cá nhân tham dự tăng trưởng năng lượng; cương quyết loại trừ mọi biểu lộ bao cấp, độc quyền, cạnh tranh ko đồng đẳng, thiếu sáng tỏ trong ngành năng lượng.
– Phát triển đồng bộ, cân đối và nhiều chủng loại hoá các loại hình năng lượng; dành đầu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái hiện, năng lượng mới, năng lượng sạch; khai thác và sử dụng cân đối các nguồn năng lượng hoá thạch trong nước, chú trọng chỉ tiêu ổn định, điều tiết và đề xuất dự trữ năng lượng non sông; dành đầu tiên tăng trưởng điện khí, có lịch trình giảm tỉ trọng điện than 1 cách cân đối; chủ động nhập cảng nhiên liệu từ nước ngoài cho các nhà máy điện. Phân bổ tối ưu hệ thống năng lượng non sông trong tất cả các lĩnh vực trên cơ sở lợi thế so sánh của từng vùng, địa phương.
– Chú trọng nghiên cứu, phần mềm những thành tích của cuộc Cách mệnh công nghiệp lần thứ tư trong tăng trưởng tất cả các phân ngành, lĩnh vực năng lượng; tăng nhanh biến đổi số trong ngành năng lượng; từng bước làm chủ đạo nghệ đương đại, tiến đến tự chủ sản xuất được phần phệ các thiết bị năng lượng.
– Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môi trường phải được xem là quốc sách quan trọng và bổn phận của toàn xã hội. Tăng nhanh kiểm toán năng lượng; xây dựng chế độ, chế độ đồng bộ, chế tài đủ mạnh và khả thi để khuyến khích đầu cơ và sử dụng các công nghệ, trang thiết bị tiết kiệm năng lượng, gần gũi môi trường, góp phần xúc tiến năng suất lao động và đổi mới mẫu hình phát triển.
2. Tiêu chí
a) Tiêu chí tổng quát
Đảm bảo chắc chắn an ninh năng lượng non sông; hỗ trợ đầy đủ năng lượng bình ổn, có chất lượng cao với giá cả cân đối cho tăng trưởng kinh tế – xã hội nhanh và vững bền, đảm bảo quốc phòng, an ninh, tăng lên đời sống của quần chúng, góp phần bảo vệ môi trường thọ thái. Ngành năng lượng tăng trưởng hài hoà giữa các phân ngành với cơ sở vật chất đồng bộ và sáng dạ, đạt trình độ hiện đại của khu vực ASEAN. Xây dựng thị phần năng lượng cạnh tranh, sáng tỏ, hiệu quả, thích hợp với thiết chế kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn khoáng sản năng lượng trong nước liên kết với xuất, nhập cảng năng lượng cân đối; triệt để thực hành tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng. Chủ động sản xuất được 1 số thiết bị chính trong các phân ngành năng lượng; tăng cấp, xây dựng lưới điện truyền tải, cung ứng điện hiện đại, đương đại.
b) 1 số chỉ tiêu chi tiết
– Cung cấp đủ nhu cầu năng lượng trong nước, phục vụ cho các chỉ tiêu của Chiến lược tăng trưởng kinh tế xã hội 10 5 2021 – 2030; trong ấy, năng lượng sơ cấp tới 5 2030 đạt khoảng 175 – 195 triệu TOE (tấn dầu quy đổi), tới 5 2045, đạt khoảng 320 – 350 triệu TOE; tổng công suất của các nguồn điện tới 5 2030 đạt khoảng 125 – 130 GW, sản lượng điện đạt khoảng 550 – 600 tỉ KWh.
– Tỷ lệ các nguồn năng lượng tái hiện trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 15 – 20% vào 5 2030; 25 – 30% vào 5 2045.
– Tổng tiêu thụ năng lượng rốt cục tới 5 2030 đạt mức 105 – 115 triệu TOE, 5 2045 đạt mức 160 – 190 triệu TOE. Cường độ năng lượng sơ cấp 5 2030 đạt từ 420 – 460 kgOE/1.000 đô la GDP, 5 2045 từ 375 – 410 kgOE/1.000 đô la GDP.
– Xây dựng hệ thống lưới điện sáng dạ, hiệu quả, có bản lĩnh kết nối khu vực; đảm bảo hỗ trợ điện an toàn, phục vụ chỉ tiêu N-1 đối với vùng phụ tải quan trọng và N-2 đối với vùng phụ tải đặc trưng quan trọng. Tới 5 2030, độ tin tưởng hỗ trợ điện năng thuộc tốp 4 nước dẫn đầu ASEAN, chỉ số tiếp cận điện năng thuộc tốp 3 nước dẫn đầu ASEAN.
– Các cơ sở lọc dầu phục vụ tối thiểu 70% nhu cầu trong nước; đảm bảo mức dự trữ chiến lược xăng dầu đạt tối thiểu 90 ngày nhập ròng. Đủ năng lực nhập cảng khí thiên nhiên hoá lỏng (LNG) khoảng 8 tỉ m3 vào 5 2030 và khoảng 15 tỉ m3 vào 5 2045.
– Tỷ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng rốt cục so với kịch bản tăng trưởng phổ biến đạt khoảng 7% vào 5 2030 và khoảng 14% vào 5 2045.
– Giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng so với kịch bản tăng trưởng phổ biến ở mức 15% vào 5 2030, lên mức 20% vào 5 2045.
3. Tầm nhìn tới 5 2045: Đảm bảo chắc chắn an ninh năng lượng non sông; tạo nên đồng bộ các nhân tố thị phần năng lượng cạnh tranh, sáng tỏ, thích hợp với thiết chế kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa; các phân ngành năng lượng tăng trưởng vững bền, sử dụng hiệu quả khoáng sản, bảo vệ môi trường và thích nghi với chuyển đổi khí hậu; hệ thống cơ sở vật chất năng lượng tăng trưởng đồng bộ, đương đại, bản lĩnh kết nối khu vực và quốc tế được tăng lên; chất lượng nguồn nhân công, trình độ khoa học – công nghệ và năng lực quản trị ngành năng lượng đạt trình độ hiện đại của 1 nước công nghiệp tăng trưởng đương đại.
III- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Phát triển các nguồn cung năng lượng sơ cấp theo hướng tăng nhanh bản lĩnh tự chủ, nhiều chủng loại hoá, đảm bảo tính hiệu quả, tin tưởng và vững bền
– Về dầu khí: Tăng nhanh công việc kiếm tìm, dò la nhằm ngày càng tăng trữ lượng và sản lượng khai thác dầu khí tại các khu vực tiềm năng, nước sâu, xa bờ gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền non sông trên biển; tăng lên hệ số thu hồi, tận thu các mỏ bé, khối sót cận biên. Kiểm tra, có chiến lược chủ động và hiệu quả trong cộng tác về kiếm tìm, dò la và khai thác dầu khí ở nước ngoài. Phát triển công nghiệp khí; dành đầu tiên đầu cơ cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên dụng cho nhập cảng và tiêu thụ khí thiên nhiên hoá lỏng (LNG). Tiếp tục lôi cuốn đầu cơ trong lĩnh vực lọc – hoá dầu theo hướng chế biến sâu, tăng lên chất lượng thành phầm xăng dầu, chủ động phục vụ tối đa nhu cầu trong nước và hướng tới xuất khẩu. Đối với dầu khí đá phiến, khí hydrate (băng cháy), hăng hái nghiên cứu, bình chọn sâu hơn về địa chất và vận dụng tân tiến khoa học – kỹ thuật để mở mang khuôn khổ điều tra; sớm khai triển bình chọn toàn cục, đẩy nhanh khai thác thí điểm lúc điều kiện cho phép.
– Về than: Xây dựng mới chiến lược tăng trưởng ngành than gắn với nhiệm vụ đầu cơ hiệu quả ra nước ngoài và nhập cảng than dài hạn. Thực hiện dự trữ than thích hợp, phục vụ đề xuất cho các hoạt động sản xuất, đặc trưng là sản xuất điện. Mở mang kiếm tìm, dò la, tăng lên chất lượng công việc bình chọn các đơn vị quản lý trữ lượng và khoáng sản. Tăng nhanh khai thác than trong nước trên cơ sở đảm bảo an toàn, hiệu quả và tiết kiệm khoáng sản; khẩn trương nghiên cứu công nghệ để có thể khai thác bể than đồng bằng Sông Hồng; tăng lên hệ số thu hồi than sạch trong khai thác hầm lò. Triển khai nhanh việc xây dựng hệ thống cảng, kho dự trữ và trung chuyển than quy mô phệ; tăng nhanh cơ giới hoá, đương đại hoá thiết bị sàng, tuyển và khai thác than. Kiểm tra, bình chọn nhu cầu, xây dựng kế hoạch và tối ưu hoá các biện pháp hỗ trợ than bình ổn cho sản xuất điện thích hợp với chế độ thị phần.
– Về năng lượng tái hiện: Xây dựng các chế độ, chế độ đột phá để khuyến khích và xúc tiến tăng trưởng mạnh bạo các nguồn năng lượng tái hiện nhằm thay thế tối đa các nguồn năng lượng hoá thạch. Dành đầu tiên sử dụng năng lượng gió và mặt trời cho phát điện; khuyến khích đầu cơ xây dựng các nhà máy điện sử dụng rác thải đô thị, sinh khối và chất thải rắn đi đôi với công việc bảo vệ môi trường và tăng trưởng kinh tế tuần hoàn. Tạo nên và tăng trưởng 1 số trung tâm năng lượng tái hiện tại các vùng và các địa phương hữu dụng thế. Sớm nghiên cứu, bình chọn toàn cục về tiềm năng và xây dựng định hướng tăng trưởng năng lượng địa nhiệt, sóng biển, thuỷ triều, hải lưu; khai triển 1 số mẫu hình phần mềm, thực hiện khai thác thí điểm để bình chọn hiệu quả. Thực hiện nghiên cứu công nghệ, xây dựng 1 số đề án thí điểm sản xuất và khuyến khích sử dụng năng lượng hydro thích hợp với xu hướng chung của toàn cầu.
– Về các nguồn năng lượng khác: Kịp thời nắm bắt các thông tin liên can để nghiên cứu, tăng trưởng trong điều kiện cho phép về tân tiến khoa học – kỹ thuật, nguồn nhân công, bản lĩnh vốn đầu tư và những nhân tố thiết yếu khác.
2. Phát triển nhanh và vững bền ngành điện phục vụ đề xuất công nghiệp hoá, đương đại hoá non sông
– Xây dựng và khai triển Chiến lược tăng trưởng ngành điện lực Việt Nam cho quá trình mới. Phát triển nhanh và vững bền các nguồn phát điện với cơ cấu và phân bố cân đối, đảm bảo an toàn, tin tưởng, bình ổn theo hướng nhiều chủng loại hoá, chú trọng tăng lên hệ số công suất khả dụng và có ngừa công suất thích hợp; phục vụ các đề xuất về bảo vệ môi trường thọ thái.
Đối với thuỷ điện: Huy động tối đa các nguồn thuỷ điện hiện có. Phát triển có lựa chọn, bổ sung 1 số thuỷ điện bé và vừa, thuỷ điện tích năng. Có chiến lược cộng tác tăng trưởng thuỷ điện gắn với nhập cảng điện năng dài hạn từ nước ngoài.
Đối với điện gió và điện mặt trời: Dành đầu tiên tăng trưởng thích hợp với bản lĩnh đảm bảo an toàn hệ thống với mức giá điện năng cân đối. Khuyến khích tăng trưởng điện mặt trời áp mái và trên mặt nước. Xây dựng các chế độ phân phối và chế độ đột phá cho tăng trưởng điện gió ngoài khơi gắn với khai triển tiến hành Chiến lược biển Việt Nam.
Đối với nhiệt điện: Khuyến khích các dự án nhiệt điện đồng bộ từ khâu hỗ trợ, lưu trữ nhiên liệu và xây dựng nhà máy trên cơ sở giá thành điện xác định phê chuẩn đấu thầu. Phát triển nhiệt điện khí theo hướng dành đầu tiên sử dụng nguồn khí trong nước. Chú trọng tăng trưởng nhanh nhiệt điện khí sử dụng LNG, đưa điện khí dần biến thành nguồn hỗ trợ điện năng quan trọng, phân phối cho điều tiết hệ thống.
Phát triển nhiệt điện than ở mức cân đối theo hướng dành đầu tiên những tổ máy công suất phệ, hiệu suất cao, sử dụng công nghệ hiện đại, đương đại như công nghệ siêu đến hạn trở lên; đảm bảo tiến hành đầy đủ luật pháp về an toàn môi trường thọ thái, thích hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Kiểm tra toàn cục và có kế hoạch sớm khai triển tăng cấp công nghệ của các nhà máy điện than hiện có để phục vụ đề xuất bảo vệ môi trường; cương quyết đóng cửa đối với các nhà máy ko tiến hành tăng cấp công nghệ theo quy định.
Đối với điện sinh khối, rác thải và chất thải rắn: Khai thác tối đa nguồn điện sinh khối đồng phát; tăng nhanh tăng trưởng các nguồn điện từ rác thải đô thị, chất thải rắn và sinh khối.
– Đầu cơ đương đại hoá ngành điện từ khâu sản xuất, truyền tải tới cung ứng phục vụ đề xuất tăng trưởng của thị phần điện, có bản lĩnh tích hợp quy mô phệ nguồn năng lượng tái hiện; tăng lên bản lĩnh đảm bảo an ninh màng lưới điện và chất lượng dịch vụ điện. Hăng hái tiến hành các chương trình điều hành nhu cầu điện và điều chỉnh phụ tải; điều hành chặt chẽ hơn cường độ tiêu thụ điện năng; hạn chế tối đa tổn thất điện năng; hoàn thiện chế độ, chế độ khuyến khích và xúc tiến khai triển tàng trữ điện năng. Hiện đại hoá hệ thống điều độ điện, từng bước khai triển vận dụng những công nghệ giám sát kỹ thuật tự động, sáng dạ; nghiên cứu phần mềm truyền tải siêu cao thế, truyền tải 1 chiều trong ngành điện.
– Nghiên cứu, hoàn thiện các chế độ vốn đầu tư và huy động vốn đặc trưng cho đầu cơ tăng trưởng ngành điện. Kiểm tra, điều chỉnh các quy định về kiểm soát và điều phối thị phần điện lực. Có chế độ cho phép tăng trưởng các nhà máy điện sản xuất tại chỗ, tự hỗ trợ trong các khu, cụm công nghiệp, khu chế xuất…
– Đẩy nhanh lịch trình tiến hành thị phần điện cạnh tranh, chế độ giao kèo sắm bán điện trực tiếp giữa nhà cung cấp và người dùng tiêu thụ, chế độ đấu thầu, đấu giá hỗ trợ năng lượng thích hợp, đặc trưng trong các dự án đầu cơ năng lượng tái hiện, năng lượng mới; sáng tỏ giá sắm bán điện. Có chế độ khuyến khích lôi cuốn vốn ngoài nhà nước đầu cơ xây dựng vào hệ thống truyền tải điện non sông. Vận hành hệ thống truyền tải điện non sông độc lập dưới sự kiểm soát của Nhà nước.
3. Cơ cấu lại các đơn vị quản lý và khu vực tiêu thụ năng lượng song song với tiến hành chế độ về sử dụng năng lượng sạch, tiết kiệm và hiệu quả
– Cơ cấu lại các đơn vị quản lý tiêu thụ năng lượng, đặc trưng là khu vực đầu cơ nước ngoài để hạn chế cường độ năng lượng. Có chế độ khuyến khích tăng trưởng các đơn vị quản lý công nghiệp tiêu thụ ít năng lượng và có hiệu quả về kinh tế – xã hội.
– Kiểm tra, điều chỉnh phân bố các nguồn tiêu thụ năng lượng cởi mở theo hướng phân tán, giảm thiểu việc quá mức vào 1 số địa phương, liên kết chặt chẽ với phân bố lại ko gian tăng trưởng công nghiệp và đô thị trên khuôn khổ cả nước, từng vùng và địa phương.
– Kiểm tra, hoàn thiện Chương trình non sông về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả quá trình 2020 – 2030. Triển khai vận dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn buộc phải kèm theo chế tài về sử dụng hiệu quả năng lượng đối với những lĩnh vực, ngành và thành phầm có mức tiêu thụ năng lượng cao. Có chế độ khuyến khích các hộ tiêu thụ sử dụng năng lượng sạch, tái hiện, nhất là trong công nghiệp và giao thông; xúc tiến tăng trưởng các dụng cụ giao thông sử dụng điện năng thích hợp với xu hướng chung trên toàn cầu.
4. Phát triển cơ sở vật chất năng lượng vững bền, kết nối khu vực; tăng lên nội lực ngành công nghiệp chế tác, dịch vụ chuyên dụng cho ngành năng lượng
– Có chế độ dành đầu tiên đầu cơ tăng trưởng cơ sở vật chất năng lượng vững bền; chú trọng xây dựng cơ sở cơ sở vật chất xuất, nhập cảng năng lượng, kết nối khu vực. Xác định danh mục cơ sở vật chất năng lượng có thể dùng chung và xây dựng chế độ dùng chung thích hợp với chế độ thị phần. Xoá bỏ mọi độc quyền, rào cản bất cân đối trong sử dụng hạ tầng và dịch vụ cơ sở vật chất năng lượng; có chế độ, chế độ đầu cơ xây dựng hệ thống truyền tải điện, tách bạch với độc quyền nhà nước về truyền tải điện. Thực hiện xã hội hoá tối đa trong đầu cơ và khai thác, sử dụng hạ tầng, dịch vụ ngành năng lượng, bao gồm cả hệ thống truyền tải điện non sông trên cơ sở đảm bảo quốc phòng, an ninh.
– Thúc đẩy nhanh biến đổi số trong ngành năng lượng; xây dựng và khai triển Chương trình non sông về tăng trưởng cơ sở vật chất năng lượng sáng dạ; hoàn thiện chế độ, xây dựng cơ sở dữ liệu, tiến hành thống kê năng lượng non sông chuyên dụng cho công việc điều hành, quản lý hiệu quả ngành năng lượng.
– Xây dựng chế độ, chế độ khuyến khích và phân phối tăng trưởng công nghiệp chế tác và dịch vụ chuyên dụng cho ngành năng lượng theo hướng tăng nhanh nội lực, hướng tới xuất khẩu; dành đầu tiên tăng trưởng các đơn vị quản lý chế tác máy, thiết bị điện, dầu khí, dịch vụ dầu khí. Hoàn thiện khung pháp lý, khuyến khích và tăng nhanh khai triển mẫu hình các doanh nghiệp dịch vụ năng lượng. Khẩn trương xây dựng và thực thi các chế độ, chế độ khuyến khích tăng lên tỷ lệ nội địa hoá trong ngành năng lượng; đảm bảo tiến hành tốt các đề xuất, mục tiêu chi tiết về tỷ lệ nội địa hoá đối với các nhà máy điện nói riêng và dự án năng lượng khái quát. Hoàn thiện chế độ đặt hàng sản xuất của Nhà nước để khuyến khích các công ty trong nước tiến hành những công trình, dự án phức tạp, kỹ thuật cao trong ngành năng lượng phục vụ các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.
5. Cơ cấu lại, đổi mới và tăng lên hiệu quả hoạt động của các công ty nhà nước trong lĩnh vực năng lượng; khuyến khích kinh tế cá nhân tham dự xã hội hoá tăng trưởng năng lượng
– Cơ cấu lại toàn diện các công ty nhà nước trong lĩnh vực năng lượng theo hướng vào các lĩnh vực mấu chốt, có điểm tốt; tách bạch công dụng kinh doanh với công dụng điều hành nhà nước; vận dụng các mẫu hình và thông lệ quản trị hiện đại, tăng lên hệ số tín nhiệm quốc tế, triệt để tiến hành công khai, sáng tỏ hoá trong hoạt động; chú trọng tăng lên hiệu quả khai thác, sử dụng cơ sở vật chất năng lượng non sông. Hoàn thiện các quy định về bình chọn các nguồn lực, của nả thích hợp với thông lệ quốc tế và thực tế; xử lý, tái cơ cấu triệt để các dự án, công ty nhà nước kém hiệu quả, thua lỗ trong lĩnh vực năng lượng. Nghiên cứu, khai triển thử nghiệm chế độ bán có thời hạn hoặc cho thuê dài hạn đối với các nhà máy điện, kho nhiên liệu, nhà máy lọc dầu… thuộc sở hữu của công ty nhà nước.
– Kiểm tra, bổ sung, điều chỉnh các chế độ, chế độ đặc biệt cho 1 số dự án năng lượng quan trọng, đặc trưng đối với các dự án đầu cơ nguồn điện thúc bách; đảm bảo đầy đủ vốn cho các công ty năng lượng nhà nước tiến hành các chỉ tiêu chiến lược và nhiệm vụ gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh.
– Kiến lập môi trường thuận tiện, sáng tỏ; công khai quy hoạch, danh mục các dự án đầu cơ, xoá bỏ mọi rào cản để lôi cuốn, khuyến khích cá nhân tham dự đầu cơ, tăng trưởng các dự án năng lượng trong và ngoài nước, chú trọng những dự án phát điện và các hoạt động bán sỉ, bán lẻ điện theo chế độ thị phần. Tiếp tục khuyến khích, lôi cuốn đầu cơ nước ngoài có quy mô, chất lượng và hiệu quả cho ngành năng lượng. Đẩy nhanh cổ phần hoá các công ty nhà nước thuộc ngành điện; xây dựng chế độ đầu dâm tà thoáng, canh tân thủ tục hành chính để đảm bảo tiến độ các công trình điện.
6. Đổi mới chế độ, chế độ, tăng trưởng thị phần năng lượng đồng bộ, liên thông, đương đại và hiệu quả, thích hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa
– Phát triển thị phần năng lượng đồng bộ, liên thông giữa các phân ngành điện, than, dầu khí và năng lượng tái hiện, kết nối với thị phần khu vực và toàn cầu. Xoá bỏ mọi rào cản để đảm bảo giá năng lượng sáng tỏ do thị phần quyết định; ko tiến hành bù chéo giá điện giữa các nhóm người dùng, giữa các vùng, miền; Nhà nước điều tiết cân đối phê chuẩn các dụng cụ thị phần (thuế, phí, các quỹ…) và chế độ an sinh xã hội thích hợp. Hoàn thiện chế độ, chế độ, các dụng cụ có tính thị phần để tăng nhanh sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
– Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện các chế độ về đất đai, bồi hoàn giải phóng mặt bằng, sử dụng mặt nước, chống đầu tư, trục lợi, ích lợi nhóm trong lĩnh vực năng lượng. Đổi mới chế độ vốn đầu tư theo hướng khuyến khích, lôi cuốn mạnh các tài chính đầu cơ ngoài nhà nước; khuyến khích các dự án đầu cơ năng lượng theo vẻ ngoài đối tác công tư (PPP). Thực hiện chế độ tín dụng cởi mở, hiệu quả, tạo điều kiện thuận tiện cho công ty năng lượng tiếp cận các tài chính, đặc trưng là các công ty có dự án năng lượng xanh. Hoàn thiện chế độ thuế khuyến khích sản xuất, sử dụng năng lượng sạch, tái hiện. Xây dựng cơ sở pháp lý để có thể tạo nên và vận hành hiệu quả các quỹ về tăng trưởng năng lượng vững bền, xúc tiến sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo hướng xã hội hoá, đảm bảo độc lập về vốn đầu tư, ko trùng lặp với nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước và giảm thiểu việc làm tăng chi tiêu hoạt động, sản xuất kinh doanh cho công ty, cơ sở sản xuất kinh doanh. Hoàn thiện chế độ và tiến hành chế độ về tiêu chuẩn tỷ lệ năng lượng tái hiện trong cơ cấu đầu cơ và hỗ trợ năng lượng.
– Sửa đổi, hoàn thiện các luật chuyên ngành về dầu khí, điện lực, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và các luật khác liên can tới ngành năng lượng để làm cơ sở tiến hành hiệu quả hơn chế độ thị phần. Nghiên cứu, tiến hành luật hoá việc quản lý giá điện và 1 số khuyến mại cho dự án được khuyến khích đầu cơ trong lĩnh vực năng lượng. Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động kiểm soát và điều phối điện lực. Nghiên cứu, xây dựng và ban hành luật về năng lượng tái hiện.
– Tăng lên chất lượng công việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch tăng trưởng năng lượng, đặc trưng trong phân ngành điện, đảm bảo tính bình ổn, đồng bộ và cởi mở, gắn kết với chiến lược, kế hoạch tăng trưởng kinh tế – xã hội của địa phương và 1 số ngành khác. Kiểm tra, điều chỉnh và sớm ban hành các quy hoạch liên can tới tăng trưởng năng lượng theo Luật Quy hoạch.
7. Phát triển khoa học – công nghệ, huấn luyện nguồn nhân công chất lượng cao cho ngành năng lượng
– Tạo nên chế độ kết hợp giữa lực lượng nghiên cứu và tăng trưởng khoa học – công nghệ, đổi mới thông minh với các công ty và các cơ sở huấn luyện trong lĩnh vực năng lượng phê chuẩn các chương trình khoa học và công nghệ; lồng ghép hoạt động nghiên cứu và tăng trưởng trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tăng trưởng năng lượng. Tạo chế độ khuyến khích các công ty năng lượng tăng nhanh đầu cơ cho nghiên cứu và tăng trưởng; thành lập các trung tâm đổi mới thông minh trong lĩnh vực năng lượng. Tiếp tục khai triển chương trình khoa học và công nghệ trọng tâm non sông về nghiên cứu phần mềm và tăng trưởng công nghệ năng lượng quá trình 2021 – 2030, trọng điểm là nghiên cứu chế tác thiết bị năng lượng và phần mềm các dạng năng lượng mới, năng lượng tái hiện, năng lượng sáng dạ, tiết kiệm năng lượng.
– Kiểm tra, sửa đổi, bổ sung các tiêu chuẩn, quy chuẩn non sông trong lĩnh vực năng lượng thích hợp với các quy định, tiêu chuẩn quốc tế, có xét tới các tiêu chuẩn, quy chuẩn non sông liên can tới việc tái chế, sử dụng chất thải từ giai đoạn sản xuất năng lượng. Từng bước vận dụng các giải pháp khuyến khích và buộc phải đổi mới công nghệ, thiết bị trong ngành năng lượng cũng như những ngành, lĩnh vực sử dụng nhiều năng lượng.
– Xây dựng chế độ tăng trưởng nguồn nhân công toàn cục và các chương trình huấn luyện cho những khâu cốt lõi của ngành năng lượng. Tăng nhanh huấn luyện hàng ngũ người lao động kỹ thuật, viên chức nghiệp vụ phục vụ đề xuất sử dụng trong nước, hướng đến xuất khẩu. Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân công đã được huấn luyện về năng lượng hạt nhân đi đôi với huấn luyện tăng lên.
8. Tăng nhanh cộng tác quốc tế; hăng hái, chủ động xây dựng các bên chiến lược để tiến hành chỉ tiêu nhập cảng năng lượng trong dài hạn và đầu cơ khoáng sản năng lượng ở nước ngoài
– Thực hiện chế độ đối ngoại năng lượng cởi mở, hiệu quả, đồng đẳng, cùng hữu dụng. Mở mang và làm thâm thúy hơn cộng tác năng lượng với các bên chiến lược, đối tác quan trọng. Tăng nhanh quan hệ quốc tế về năng lượng trong tất cả các phân ngành, lĩnh vực thích hợp với xu hướng hội nhập, tận dụng thời cơ từ các hiệp nghị thương nghiệp, các quan hệ chính trị – ngoại giao thuận tiện để tăng trưởng năng lượng.
– Khẩn trương xây dựng chiến lược nhập cảng năng lượng dài hạn song song với khuyến khích đầu cơ, khai thác khoáng sản năng lượng ở nước ngoài để góp phần đảm bảo an ninh năng lượng non sông; có chế độ phân phối các công ty Việt Nam đầu cơ dự án năng lượng ở nước ngoài, đầu tiên là với các dự án nguồn điện tại 1 số nước hàng xóm để chủ động nhập cảng điện về Việt Nam. Mở mang quan hệ đối tác với các doanh nghiệp đầu cơ năng lượng, tăng trưởng công nghệ năng lượng hiện đại.
– Hăng hái tham dự cộng tác năng lượng tại tiểu vùng Mê Công mở mang (GMS) và khu vực Đông Nam Á (ASEAN); kết hợp lưới điện, hoàn thiện chế độ sắm bán điện với Trung Quốc, Lào và Cam-pu-chia. Tiếp tục nghiên cứu kết nối hệ thống khí trong khu vực, khai triển tiến hành lúc điều kiện cho phép.
9. Thực thi chế độ bảo vệ môi trường ngành năng lượng gắn với chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính, xúc tiến kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng vững bền
– Nghiên cứu, xây dựng chế độ thuế các-bon phù hợp đối với việc sử dụng nhiên liệu hoá thạch. Có chế độ, chế độ khai triển việc thu hồi, sử dụng khí CO­2. Thực hiện bình chọn hiệu quả việc sử dụng, tái chế tro, xỉ nảy sinh trên cơ sở hợp lý nhu cầu và bản lĩnh tiêu thụ làm nguyên liệu xây dựng, nhất là tại khu vực miền Nam.
– Hoàn thiện khung chế độ, xây dựng và bổ sung hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn non sông về khí thải và chất thải trong ngành năng lượng theo hướng tiệm cận với những tiêu chuẩn của các nước tăng trưởng. Bổ sung quy định gạn lọc dự án đầu cơ theo không may về môi trường. Xây dựng quy chế vốn đầu tư về môi trường, đảm bảo tính đủ các chi tiêu về môi trường, xã hội trong đầu cơ và mức giá thành phầm. Tăng nhanh phòng đề phòng, kiểm soát các nhân vật có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao; xử lý nghiêm các vi phạm về an toàn môi trường theo quy định của luật pháp. Thông tin tuyên truyền kịp thời và đầy đủ về công việc bảo vệ môi trường trong ngành năng lượng.
– Xây dựng và khai triển Đề án tích hợp mẫu hình kinh tế tuần hoàn vào chiến lược tăng trưởng các công ty năng lượng. Phát triển hệ thống điều hành và xử lý chất thải trong sản xuất năng lượng với công nghệ hiện đại, thích hợp với điều kiện nước ta; đảm bảo năng lực tự xử lý các nguồn thải trong các công ty năng lượng. Có chế độ, chế độ khuyến khích tăng trưởng công nghiệp môi trường gắn với ngành năng lượng.
– Kiểm tra, điều chỉnh và bổ sung những nội dung liên can tới ngành năng lượng trong Chiến lược non sông về chuyển đổi khí hậu, Chiến lược non sông về phát triển xanh, Chiến lược tăng trưởng vững bền Việt Nam, Chiến lược biển Việt Nam và các chiến lược khác có liên can.
10. Tăng nhanh sự chỉ đạo của Đảng; tăng lên hiệu lực, hiệu quả điều hành của Nhà nước; phát huy quyền làm chủ của quần chúng và vai trò của Chiến trận Đất nước Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội trong tăng trưởng ngành năng lượng
– Tăng lên nhận thức của các đơn vị quản lý uỷ đảng và cả hệ thống chính trị và quần chúng về vai trò, địa điểm, tầm quan trọng của ngành năng lượng. Các đơn vị quản lý uỷ đảng và chính quyền từ Trung ương tới địa phương cần xác định tăng trưởng năng lượng non sông là nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt, nghiêm chỉnh chỉ đạo, chỉ huy, tổ chức tiến hành. Xây dựng chế độ và khung pháp lý đảm bảo cho việc tuân thủ quy hoạch tăng trưởng năng lượng non sông. Xử lý nghiêm đối với các dự án đầu cơ chậm tiến độ, làm tác động tới an ninh năng lượng non sông.
– Kiểm tra, hoàn thiện mẫu hình điều hành nhà nước trong lĩnh vực năng lượng. Phân định rõ bổn phận, quyền hạn, chế độ phối hợp giữa Trung ương và địa phương, giữa các cơ quan điều hành nhà nước trong tăng trưởng năng lượng. Tăng nhanh công việc tuyên truyền, bình thường các văn bản quy phạm luật pháp, tăng lên tinh thần chấp hành và thực thi nghiêm chỉnh các quy định luật pháp về năng lượng. Thực hiện tốt vai trò định hướng, xây dựng chế độ gắn với tăng nhanh công việc rà soát, giám sát, phân phối tiến hành.
– Phát huy quyền làm chủ của quần chúng; mở mang sự tham dự của Chiến trận Đất nước Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp, các nhân vật chịu ảnh hưởng của chế độ vào giai đoạn xây dựng và giám sát tiến hành chiến lược, quy hoạch và chế độ tăng trưởng năng lượng non sông.
IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Các tỉnh uỷ, thành uỷ, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết đến cán bộ, đảng viên; xây dựng chương trình, kế hoạch khai triển tiến hành Nghị quyết.
2. Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện luật pháp để tạo thuận tiện cho tăng trưởng năng lượng non sông theo ý thức của Nghị quyết; tăng nhanh giám sát việc xây dựng và tổ chức tiến hành chiến lược, quy hoạch và các chế độ tăng trưởng năng lượng non sông.
3. Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo xây dựng và khai triển Chiến lược tăng trưởng năng lượng non sông và các chiến lược tăng trưởng các phân ngành năng lượng, Quy hoạch toàn cục năng lượng non sông, Quy hoạch tăng trưởng điện lực non sông thích hợp với ý thức của Nghị quyết; dành đầu tiên xếp đặt đủ nguồn lực tiến hành các nhiệm vụ đã nêu trong Nghị quyết; khẩn trương khai triển các cam kết quốc tế trong việc nghiên cứu phần mềm năng lượng hạt nhân cho mục tiêu hoà bình; sớm tổng kết kiểm tra Luật Điện lực và các luật có liên can để trình Quốc hội sửa đổi những nội dung còn bất cập, nhất là vấn đề quy hoạch, truyền tải điện.
4. Chiến trận Đất nước Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát việc tiến hành Nghị quyết.
5. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương và các cơ quan liên can chỉ dẫn việc quán triệt tiến hành Nghị quyết.
6. Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên can thường xuyên theo dõi, chỉ dẫn rà soát, giám sát, đôn đốc khai triển tiến hành Nghị quyết; định kỳ sơ kết, tổng kết việc tiến hành, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thơ.

Nơi nhận:– Các tỉnh uỷ, thành uỷ,– Các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương,– Các đảng uỷ đơn vị sự nghiệp Trung ương,– Các đồng đội Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương,– Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.

T/M BỘ CHÍNH TRỊTỔNG BÍ THƯNguyễn Phú Trọng

TagsNghị quyết 55-NQ/TW

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Nghị #quyết #55NQTW


#Nghị #quyết #55NQTW

Vik News

Vik News

Viknews Việt Nam chuyên chia sẻ những kiến thức hữu ích về hôn nhân – gia đình, làm đẹp, kinh nghiệm làm mẹ, chăm sóc dinh dưỡng khi mang thai kỳ, trước sau sinh, son môi , sữa ong chúa, nhà cửa nội thất (cửa gỗ, đèn chùm trang trí, bàn ăn, tủ bếp..)……

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button