Những giá trị về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

Em hãy cho biết những trị giá về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, thể hiện bằng 1 bài văn ngắn để giúp người đọc, người nghe thông suốt hơn về trị giá thâm thúy của tác phẩm.

Đề bài: Những trị giá về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

Bài văn mẫu Những trị giá về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

Bài làm

Chiếc thuyền ngoài xa có mặt trên thị trường 3 5 trước thời điếm 1986 – mốc nhưng mà bất kỳ 1 nhà văn Việt Nam xã hội chủ nghĩa nào cũng phải nhớ, như là 5 khai sinh và tái sinh tuyến đường nghệ thuật của mình, chí ít là về tư thế cầm bút, họ được tự do.

Nguyễn Minh Châu được coi là vị khai quốc công thần của triều đại văn chương đổi mới. Kể từ Bức tranh, Người nữ giới trên chuyến tàu tốc hành, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu tăng dần độ rung chấn vào cơ địa văn đàn đương thời, dự đoán 1 cuộc bung trào dung nham đổi mới triệt để của văn chương nghệ thuật những 5 sau đấy. Cuộc bung trào dung nham này như là 1 nhu cầu nội sinh, xuất hành từ chính bản thân văn chương, mặt khác, từ chính những chuyển đổi phệ lao của đời sống xã hội. Nhà văn buộc phải phải kiểm soát những nhu cầu đó, rời xa nó nghĩa là chuốc lấy cho mình tuyến đường hẹp, mọi sáng tác chỉ như 1 phê liệu của nghệ thuật nhưng mà thôi.

Nguyễn Minh Châu tinh thần rất rõ nhu cầu của nùnh và nhu cầu của văn chương. Ông từ biệt chính ông, truy đuổi những cách khám nghiệm đời sống dưới góc nhìn và công cụ mới. Trong Bức tranh và Người nữ giới trên chuyến tàu tốc hành, chí ít, sự truy đuổi đó đã đặt Nguyền Minh Châu trước 1 thách thức triết học: sự tự nhận thức. Nhận thức ko chỉ diễn ra dưới công năng của tư duy lí trí, nhưng mà nghe đâu còn phải diễn ra bằng những luồng xung của tâm thức, của vùng sâu vùng sáng và vùng tối trong tâm hồn. Mà lại, cũng phải thấy, đôi lúc ông bất lực để lí giải, lí giải cho đối tượng và lí giải cho hiện thực. Nhân vật của ông vượt qua những giăng bẫy hiện thực nhưng mà ông sống động dựng nên, rơi vào hiện trạng “bất khả tri”. Sự tự nhận thức phát triển thành đớn đau, biến thành 1 vết thương chuẩn bị thức tỉnh. Ai nào biết được gương mặt trong bức tranh kia là gương mặt gì của thời đại, của lứa tuổi, của từng cá nhản; người nào biết được người nữ giới tên Quì đó mắc 1 chứng bệnh tư nhân hay của lứa tuổi, của thời đại…?. Không đơn giản đưa ra kết luận, cũng như các đối tượng kia, ko đơn giản dập tắt ngọn lửa tự nhận thức trong mình, dập tắt đồng nghĩa với thiêu rụi sự sống.

Chiếc thuyền ngoài xa nằm trong mạch sáng tác yêu cầu cả bạn đọc và nhà văn phải nhận thức lại hiện thực. Hiện thực hiện thời ko dễ dãi là 1 vết xước rớm máu trên cánh trắng tay đẹp của cô gái thanh niên xung phong kia nhưng mà có nhẽ phải là vết xước trong tâm hồn. Ở đấy, mỗi tư nhân là 1 chỉnh thể, 1 sở hữu của vết xước, bảo toàn và chưng cất nó khiến sự nhận thức mãi mãi ko đưa ra 1 hệ số chấp thuận.

Câu chuyện từ khi việc Phùng, phóng viên ảnh, đi “săn” 1 tấm hình, chụp cảnh binh minh trên biển. Tấm hình kia phải là 1 tác phẩm nghệ thuật, hẳn nhiên, như anh nhận thức, cần tránh lặp lại, nhàm chán và không xa lạ, Phùng rời Hà Nội gần 6 trăm cây số, “phục” ở 1 bờ biển, nơi vẫn còn lưu dấu trận đánh tranh: đấy là bãi mặt trận. Tâm thế Phùng là chuẩn bị kì vọng, anh quen được Phác, 1 cậu nhỏ sáng dạ ở hải phận đấy. Sau gần tuần lễ, anh chụp được khá nhiều tấm hình cảnh ngư gia đánh mẻ lưới cuối đồng thời rạng đông lên. Nhưng tấm hình để đời, tuyệt tác nhưng mà anh hằng mong muốn thì chưa có. Nghệ thuật nhiếp ảnh, qua cách hành xử của Phùng, nhiều ít là thứ quà tặng của tự nhiên.

Và rồi thì anh cũng có 1 cảnh trời cho: “Trước mặt tôi là 1 bức tranh mực tàu của 1 danh họa thời cổ. Mũi thuyền in 1 nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu trời sương mù trắng như sữa có pha chút ít màu hồng do ánh sáng mặt trôi chiếu vào. Toàn bộ quang cảnh từ đường nét tới ánh sáng đều hài hòa và đẹp, 1 vẻ đẹp thực dễ dãi và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở liên lúng túng, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”. Những xúc cảm nghệ thuật nhưng mà Phùng đón chờ trước vẻ đẹp tự nhiên quả khiến cho ta cảm động. Nó là niềm hạnh phúc, nỗi phấn kích của kẻ luôn sẵn tinh thần và phận sự với con đẻ ý thức nhưng mà mình hăng tâm nuôi dưỡng. Phùng rơi vào hiện trạng “lên đồng”, 1 hiện trạng cần có trước khi sinh thành những xúc cảm thông minh: “Trong phút giây lúng túng đó, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá cái phút giây trong ngần của tâm hồn”. Vào phút giây đấy Phùng hoàn toàn tâm thành với nghệ thuật, nó vừa là cái toàn thiện, cái đạo đức, cái trong ngần, vừa là hạnh phúc.. Anh được nó nâng đỡ, tặng thưởng cùng lúc thông minh nó, cảm nhận nó. Và trong giây khắc anh “bấm liên thanh 1 hồi hết 1 phần tư cuốn phim”. “Cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa đem lại” trong ống kính có nhẽ là cái đẹp đạo đức của tự nhiên. Thiên nhiên, ngay cả lúc dữ dội nhất, tàn nhẫn nhất, người ta vẫn nhận được khoảng khắc rất đẹp: núi lửa, tia chớp, sóng thần, bão cát… Thiên nhiên là bản thể tự nó. Cái gọi là “vẻ đẹp” kia chẳng qua là 1 chuỗi những thỏa thuận nằm ngoài nó, do con người hình thành.

Nhưng câu chuyện bỗng dưng chuyển sang 1 hướng khác, sau phút giây trời cho đó, Phùng rơi vào 1 phút giây, 1 cảnh huống “hiện thực cuộc sống” ban cho. Chính từ khi này, Phùng vấp phải 1 thách đố khác, có nhẽ còn nghiệt ngã hơn cả sự thông minh nghệ thuật – thách đố lí giải, nhận thức hiện thực.

Trước cảnh tượng liền kề với phút giây nghệ thuật, Phùng ngạc nhiên tới mức “trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há miệng ra nhưng mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào đến”. Phùng lao đến nơi người con trai “tấm lưng rộng và cong như lưng 1 chiếc thuyền, hàng chân mày cháy nắng rũ xuống 2 con mắt đầy vẻ độc dữ” đang dùng chiếc dây lưng quật đến tấp vào lưng người nữ giới “cao phệ với những nét thô kệch”, “lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, 2 hàm răng nghiến ken két”… Nhưng Phùng đã bị cản lại bởi “bóng 1 đứa trẻ nhỏ”, đấy là Phác, đàn ông của cặp vợ chồng kia. Phác giật chiếc dây lưng từ tay người con trai, lão “dang thẳng cánh tay cho thằng nhỏ 2 cái tát”. Rồi lão lẳng lặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền. Xong xuôi cái cảnh tượng đó, “bãi cát lại trở về với vẻ mênh mang và hoang vu”, chỉ còn Phùng, cậu nhỏ Phác và tiếng sóng ngoài khơi, tất cả chìm vào cõi yên lặng…

Có nhẽ, đấy là 1 hiện chực “quái gở”. 1 hiện thực hiển nhiên nhưng mà chẳng thể lí giải. Người nữ giới nhẫn nhục chịu đựng sự hành tội của chồng. Người chồng đánh đặp vợ tàn nhẫn như 1 lề thói, vô cảm và bản năng. Những đứa con bất lực nhìn cảnh bạo lực diễn ra ở chính tía má chúng. Tất cả đều yên lặng, miên man ở ngay nơi chiến tranh vừa đi qua. Tất cả đều diễn ra đằng sau cái vẻ đẹp dễ dãi và toàn bích của tự nhiên. 1 hiện thực quái gở lấn chiếm ngay sau khoảnh khắc hạnh phúc của người nghệ sĩ. 1 nỗi đau và dìm nén nỗi đau, 1 bình an và phá hoại bình an, 1 dư chấn và 1 khoảng lặng cứ đan cài nhau giữa muôn trùng tiếng sóng biển. Và rồi, cũng như trong câu chuyện cổ quái gở, tất cả đều mất tích, tất cả cứ lặp lại…

Lần thứ 2 chứng kiến, Phùng biến thành anh hùng, anh đánh quật gã con trai vũ phu bằng cú đánh của người “ko cho phép hắn đánh 1 người nữ giới, cho dù đấy là vợ và tình nguyện rúc vào xó bãi xe tăng bí ẩn cho hắn đánh…”. Phùng nhân danh 1 người lính – những người đã đổ máu để giành lại bình an cho đồng bào mình, chăng? Hay ở anh còn có 1 động cơ “đạo đức” của người nghệ sĩ – người biết thưởng thức và giữ giàng vẻ đẹp toàn thiện chứ không hề là toàn ác, tha hóa?

Phùng đã nhờ Đẩu, người bạn đồng ngũ nay là chánh án huyện gánh vác địa bàn, can thiệp vào trường hợp gia đình vợ chồng thuyền chài này. Những cú đánh của Phùng chỉ là phản ứng nhất thời, anh cần tới ngôn ngữ của 1 quan tòa. Nhưng rút cuộc, cả Đẩu và Phùng chỉ như những đứa trẻ, đi hết bất thần rồi căm phẫn rồi yên lặng trước lời đầu thú, kế lể của người nữ giới: “Đây là chị nói thành thực, chị cảm ơn các chú, Lòng các chú tốt, mà các chú đâu có phải là người làm ăn… do vậy các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, nặng nhọc”. Hóa ra, ở người nữ giới xấu xí và khổ thân này là cả 1 hiện thực “bất khá tri”. Bà nhẫn nhục chịu đựng sự hành tội của chồng như chức vụ nhưng mà mình có được, thỏa nguyện vì chức vụ đấy. Trong thâm tâm bà, những nỗi đớn đau nhưng mà mình gánh chịu xứng đáng như thế vì bởi bà… đẻ nhiều con quá. Điều đấy đồng nghĩa với cái đói, cái nghèo đói còn bám riết lấy gia đình này. Nhưng thực tiễn, cái đói, cái nghèo đói đâu chỉ bởi bà đẻ nhiều, nhưng mà nó cùng là 1 thiên thức rất nữ giới thôi. Trong lời đầu thú ngùi ngùi, sống động và tái tê của bà, có những câu hỏi ko dễ giải đáp, những tranh chấp khó giảng giải: để mến thương và sống qua muôn nỗi gian nan, cùng cực, đôi lúc người ta phải chấp thuận sự tàn nhẫn, tha hóa, phi đạo đức.

Người chồng vốn dĩ hiền hậu, nghĩa hiệp. Sự cơ cực, mỏng manh của đời sống chài lưới đã biến ông ta thành vũ phu. Có phải là 1 Chí Phèo, 1 quỷ dữ bước ra từ cái làng heo hút kia ko? Vì sao, dưới cái xã hội mới này, nơi nhưng mà “giấc mơ đại tự sự” đã lan tỏa trong mọi ko gian bé hẹp của đời sống, vẫn có những mảnh đời đớn đau, tha hóa kia?

Hành động vũ phu hay là sự tuyệt vọng, hay là sự đánh tháo của những con người khổ thân. “Bất kể khi nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như con trai thuyền khác uống rượu… Sau này con cái phệ lên, tôi mới xin được với lão… đưa tôi lên bờ nhưng mà đánh…”. Rõ ràng, đây là 1 cách đánh tháo trong tuyệt vọng, 1 đánh tháo dầm nước mắt và đớn đau.

Cả Đẩu và Phùng đều thốt lên: ”Không thể nào hiểu được, chẳng thể nào hiểu được”. Họ chẳng thể hiểu vì sao 2 con người bé nhỏ kia lại chấp thuận sống và mến thương bằng kiểu lạ thường tương tự. Dù lời kể cua người nữ giới phần nào giúp họ trông thấy những ẩn ức thẳm sâu mà họ vẫn ngừng lại trên bờ vực của sự nhận thức hiện thực. Họ chưa thể nào dò thấu đáy sâu của nổi ẩn ức kia cũng như hiện thực đang diễn ra trước mặt họ.

Cảnh huống nhưng mà Phùng ko lường trước trong chuyến đi này có phải là cảnh huống dựng của nhà văn? Nhà văn đặt đối tượng và bạn đọc vào 1 cảnh huống phải nhận thức. Nhưng đối tượng đã ko lí giải được hiện thực, ngôn ngữ của quan tòa cũng phát triển thành lạc điệu. Họ chấp thuận nó bằng những thỏa thuận bên ngoài. Cơn bão biển khơi lại nổi lên, biển động, gia đình thuyền chài này rất có thể lại phải nhịn ăn, đói rách. Cái cảnh tượng thường tình kia, sẽ lại xảy ra “Con sói con” – cậu nhỏ Phác, lại phải thủ 1 con dao trong mình để trấn áp người cha, trấn áp người con trai lầm lũi kia… Những dự cảm buồn như vết xước trở đi quay về trong tâm hồn. Những tâm hồn đầy vùng tối.

Phùng đã có 1 tấm hình để đời, được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Nhưng ám ảnh về cảnh tượng đằng sau bức ảnh thì chẳng thể xóa mờ. Đằng sau vẻ đẹp vĩnh hằng kia cũng là nỗi đau vĩnh viễn. Nghệ thuật đã bưng bít, khỏa lấp cái tha hóa, phi đạo đức? Hay nghệ thuật “bất khả tri” trước hiện thực? Cũng như chiếc thuyền ngoài xa, nghệ thuật chỉ

có thể nắm bắt được cái bóng của nó, cái bóng của hiện thực, hình thức của nghệ thuật, đôi lúc như màn sương làm “mờ hóa” bản lĩnh tri nhận ở chúng ta. “Bất khá tri” biến thành niềm day dứt của người nghệ sĩ. Với người nghệ sĩ, thiên chức là ngưỡng vọng và thông minh 1 vẻ đẹp toàn thiện mà sẽ là kẻ tội đồ nếu vẻ đẹp đó làm che khuất và quên đi những xấu số trong đời. Cái đẹp ko chỉ là đạo đức, nó là sự phản tỉnh.

Tư nhân Phùng, Đẩu sẽ ko đủ sức lí giải, kết thúc thảm kịch của gia đình thuyền chài kia. Họ chưa đủ làm ánh sáng để xua đi vùng tối trong tâm hồn những con người bé bỏng, đau khổ. Trước vẻ đẹp của tự nhiên, Phùng hoàn toàn thâu nhận. Trước căn số của người nữ giới, Phùng là người dưng cuộc. Tranh chấp đấy nghe đâu đeo đẳng suốt hành trình thông minh của nghệ thuật.

Chiếc thuyền ngoài xa là 1 truyện ngắn giàu chất điện ảnh do có sự ngày càng tăng của kiểu cụ thể – hình ảnh. Trường đoạn Phùng chứng kiến người chồng hành hung vợ là trường đoạn được kể bằng hình ảnh. Nó diễn ra dưới 1 cú quay toàn cảnh kéo dài. Kịch tính tới không thở được, bất thần tới choáng váng. Nhân tố “động” của cụ thể được bao bọc trong sự yên tĩnh của cảnh, cảm giác máy quay ko chuyển di. Lời thoại rút giảm tối đa, những hình ảnh khô khốc và bạo lực. Tiếng nghiến răng ken két của gã con trai vũ phu, tiếng dây lưng quật đến tấp vào người nữ giới ngưng đọng giữa tiếng sóng biển. Thứ âm thanh dẫn dắt xúc cảm người đọc – người xem vào những mao quản sự ghi nhớ không giống nhau, hoặc rát buốt hoặc tê cóng hoặc câm nín. Xong xuôi trường đoạn, cảnh vật phát triển thành bằng lặng, êm ả như chưa hề nhuốm sắc thái bạo lực ác liệt. 1 sự trả về dửng dưng của tự nhiên. Ống kính ngừng lại ở 1 phút giây bình an nhưng mà nhức buốt tâm can… Sử dụng nhân tố điện ảnh, Nguyễn Minh Châu hình thành hiện thực hầu hết 1 cuốn phim tư liệu, chân thật và xúc động.

Là kiểu truyện ngắn mở ra cảnh huống nhận thức, Nguyễn Minh Châu còn sử dụng tính biểu trưng. Biểu tượng từ việc đặt tên đối tượng (Phùng – gặp mặt, chứng kiến, hàm ý người quan sát; Đẩu – vị phán quyết; Phác – sự thuần phác, hàm ý 1 phẩm giá của nghệ thuật; đứa con gái của vợ chồng thuyền chài – nàng tiên cá, hàm ý vẻ đẹp bí mật nhưng mà cuộc sống tặng thưởng) tới biểu trưng trung tâm: chiếc thuyền ngoài xa. Chiếc thuyền ngoài xa hay là sự bất khả tri, kiểm soát và chứng kiến được? Chiếc thuyền ngoài xa mãi mài là 1 khát vọng kiếm tìm, với đến để níu giữ, để nhìn lại. Khi chiếc thuyền vẫn còn ở ngoài xa, những định giá và huyền tưởng về nó vẫn chỉ nằm trong 1 lớp sương mờ ảo nhưng mà thôi.

5 1983, lúc Chiếc thuyền ngoài xa có mặt trên thị trường, tổ quốc vẫn chưa thoát khỏi dư chấn của chiến tranh, đời sống quần chúng cực kỳ gian nan, căn số tư nhân nằm im dưới lớp thăng hà của “giấc mơ đại tự sự”. Với những dự cảm thời cục sắc bén và tài năng nghệ thuật của mình, Nguyễn Minh Châu đã giúp lớp thăng hà kia có những vết nứt thiết yếu, vết nứt để nhìn ra vùng tối, và có thể, đón chờ vùng sáng.

——————HẾT—————-


Các em vừa mày mò bài Những trị giá về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, để hiểu hết những thông điệp nhưng mà nhà văn Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm trong tác phẩm này, các em hãy cùng tham khảo: Cảm nhận về vẻ đẹp khuất lấp của người nữ giới hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa, Phân tích 2 phát hiện của nghệ sĩ Phùng trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Phân tích hình tượng chiếc thuyền ngoài xa, Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua Chiếc thuyền ngoài xa.

Xem thêm thông tin Những giá trị về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

Những trị giá về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

Em hãy cho biết những trị giá về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, thể hiện bằng 1 bài văn ngắn để giúp người đọc, người nghe thông suốt hơn về trị giá thâm thúy của tác phẩm.
Đề bài: Những trị giá về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

Bài văn mẫu Những trị giá về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
Bài làm
Chiếc thuyền ngoài xa có mặt trên thị trường 3 5 trước thời điếm 1986 – mốc nhưng mà bất kỳ 1 nhà văn Việt Nam xã hội chủ nghĩa nào cũng phải nhớ, như là 5 khai sinh và tái sinh tuyến đường nghệ thuật của mình, chí ít là về tư thế cầm bút, họ được tự do.
Nguyễn Minh Châu được coi là vị khai quốc công thần của triều đại văn chương đổi mới. Kể từ Bức tranh, Người nữ giới trên chuyến tàu tốc hành, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu tăng dần độ rung chấn vào cơ địa văn đàn đương thời, dự đoán 1 cuộc bung trào dung nham đổi mới triệt để của văn chương nghệ thuật những 5 sau đấy. Cuộc bung trào dung nham này như là 1 nhu cầu nội sinh, xuất hành từ chính bản thân văn chương, mặt khác, từ chính những chuyển đổi phệ lao của đời sống xã hội. Nhà văn buộc phải phải kiểm soát những nhu cầu đó, rời xa nó nghĩa là chuốc lấy cho mình tuyến đường hẹp, mọi sáng tác chỉ như 1 phê liệu của nghệ thuật nhưng mà thôi.
Nguyễn Minh Châu tinh thần rất rõ nhu cầu của nùnh và nhu cầu của văn chương. Ông từ biệt chính ông, truy đuổi những cách khám nghiệm đời sống dưới góc nhìn và công cụ mới. Trong Bức tranh và Người nữ giới trên chuyến tàu tốc hành, chí ít, sự truy đuổi đó đã đặt Nguyền Minh Châu trước 1 thách thức triết học: sự tự nhận thức. Nhận thức ko chỉ diễn ra dưới công năng của tư duy lí trí, nhưng mà nghe đâu còn phải diễn ra bằng những luồng xung của tâm thức, của vùng sâu vùng sáng và vùng tối trong tâm hồn. Mà lại, cũng phải thấy, đôi lúc ông bất lực để lí giải, lí giải cho đối tượng và lí giải cho hiện thực. Nhân vật của ông vượt qua những giăng bẫy hiện thực nhưng mà ông sống động dựng nên, rơi vào hiện trạng “bất khả tri”. Sự tự nhận thức phát triển thành đớn đau, biến thành 1 vết thương chuẩn bị thức tỉnh. Ai nào biết được gương mặt trong bức tranh kia là gương mặt gì của thời đại, của lứa tuổi, của từng cá nhản; người nào biết được người nữ giới tên Quì đó mắc 1 chứng bệnh tư nhân hay của lứa tuổi, của thời đại…?. Không đơn giản đưa ra kết luận, cũng như các đối tượng kia, ko đơn giản dập tắt ngọn lửa tự nhận thức trong mình, dập tắt đồng nghĩa với thiêu rụi sự sống.
Chiếc thuyền ngoài xa nằm trong mạch sáng tác yêu cầu cả bạn đọc và nhà văn phải nhận thức lại hiện thực. Hiện thực hiện thời ko dễ dãi là 1 vết xước rớm máu trên cánh trắng tay đẹp của cô gái thanh niên xung phong kia nhưng mà có nhẽ phải là vết xước trong tâm hồn. Ở đấy, mỗi tư nhân là 1 chỉnh thể, 1 sở hữu của vết xước, bảo toàn và chưng cất nó khiến sự nhận thức mãi mãi ko đưa ra 1 hệ số chấp thuận.
Câu chuyện từ khi việc Phùng, phóng viên ảnh, đi “săn” 1 tấm hình, chụp cảnh binh minh trên biển. Tấm hình kia phải là 1 tác phẩm nghệ thuật, hẳn nhiên, như anh nhận thức, cần tránh lặp lại, nhàm chán và không xa lạ, Phùng rời Hà Nội gần 6 trăm cây số, “phục” ở 1 bờ biển, nơi vẫn còn lưu dấu trận đánh tranh: đấy là bãi mặt trận. Tâm thế Phùng là chuẩn bị kì vọng, anh quen được Phác, 1 cậu nhỏ sáng dạ ở hải phận đấy. Sau gần tuần lễ, anh chụp được khá nhiều tấm hình cảnh ngư gia đánh mẻ lưới cuối đồng thời rạng đông lên. Nhưng tấm hình để đời, tuyệt tác nhưng mà anh hằng mong muốn thì chưa có. Nghệ thuật nhiếp ảnh, qua cách hành xử của Phùng, nhiều ít là thứ quà tặng của tự nhiên.
Và rồi thì anh cũng có 1 cảnh trời cho: “Trước mặt tôi là 1 bức tranh mực tàu của 1 danh họa thời cổ. Mũi thuyền in 1 nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu trời sương mù trắng như sữa có pha chút ít màu hồng do ánh sáng mặt trôi chiếu vào. Toàn bộ quang cảnh từ đường nét tới ánh sáng đều hài hòa và đẹp, 1 vẻ đẹp thực dễ dãi và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở liên lúng túng, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”. Những xúc cảm nghệ thuật nhưng mà Phùng đón chờ trước vẻ đẹp tự nhiên quả khiến cho ta cảm động. Nó là niềm hạnh phúc, nỗi phấn kích của kẻ luôn sẵn tinh thần và phận sự với con đẻ ý thức nhưng mà mình hăng tâm nuôi dưỡng. Phùng rơi vào hiện trạng “lên đồng”, 1 hiện trạng cần có trước khi sinh thành những xúc cảm thông minh: “Trong phút giây lúng túng đó, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá cái phút giây trong ngần của tâm hồn”. Vào phút giây đấy Phùng hoàn toàn tâm thành với nghệ thuật, nó vừa là cái toàn thiện, cái đạo đức, cái trong ngần, vừa là hạnh phúc.. Anh được nó nâng đỡ, tặng thưởng cùng lúc thông minh nó, cảm nhận nó. Và trong giây khắc anh “bấm liên thanh 1 hồi hết 1 phần tư cuốn phim”. “Cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa đem lại” trong ống kính có nhẽ là cái đẹp đạo đức của tự nhiên. Thiên nhiên, ngay cả lúc dữ dội nhất, tàn nhẫn nhất, người ta vẫn nhận được khoảng khắc rất đẹp: núi lửa, tia chớp, sóng thần, bão cát… Thiên nhiên là bản thể tự nó. Cái gọi là “vẻ đẹp” kia chẳng qua là 1 chuỗi những thỏa thuận nằm ngoài nó, do con người hình thành.
Nhưng câu chuyện bỗng dưng chuyển sang 1 hướng khác, sau phút giây trời cho đó, Phùng rơi vào 1 phút giây, 1 cảnh huống “hiện thực cuộc sống” ban cho. Chính từ khi này, Phùng vấp phải 1 thách đố khác, có nhẽ còn nghiệt ngã hơn cả sự thông minh nghệ thuật – thách đố lí giải, nhận thức hiện thực.
Trước cảnh tượng liền kề với phút giây nghệ thuật, Phùng ngạc nhiên tới mức “trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há miệng ra nhưng mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào đến”. Phùng lao đến nơi người con trai “tấm lưng rộng và cong như lưng 1 chiếc thuyền, hàng chân mày cháy nắng rũ xuống 2 con mắt đầy vẻ độc dữ” đang dùng chiếc dây lưng quật đến tấp vào lưng người nữ giới “cao phệ với những nét thô kệch”, “lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, 2 hàm răng nghiến ken két”… Nhưng Phùng đã bị cản lại bởi “bóng 1 đứa trẻ nhỏ”, đấy là Phác, đàn ông của cặp vợ chồng kia. Phác giật chiếc dây lưng từ tay người con trai, lão “dang thẳng cánh tay cho thằng nhỏ 2 cái tát”. Rồi lão lẳng lặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền. Xong xuôi cái cảnh tượng đó, “bãi cát lại trở về với vẻ mênh mang và hoang vu”, chỉ còn Phùng, cậu nhỏ Phác và tiếng sóng ngoài khơi, tất cả chìm vào cõi yên lặng…
Có nhẽ, đấy là 1 hiện chực “quái gở”. 1 hiện thực hiển nhiên nhưng mà chẳng thể lí giải. Người nữ giới nhẫn nhục chịu đựng sự hành tội của chồng. Người chồng đánh đặp vợ tàn nhẫn như 1 lề thói, vô cảm và bản năng. Những đứa con bất lực nhìn cảnh bạo lực diễn ra ở chính tía má chúng. Tất cả đều yên lặng, miên man ở ngay nơi chiến tranh vừa đi qua. Tất cả đều diễn ra đằng sau cái vẻ đẹp dễ dãi và toàn bích của tự nhiên. 1 hiện thực quái gở lấn chiếm ngay sau khoảnh khắc hạnh phúc của người nghệ sĩ. 1 nỗi đau và dìm nén nỗi đau, 1 bình an và phá hoại bình an, 1 dư chấn và 1 khoảng lặng cứ đan cài nhau giữa muôn trùng tiếng sóng biển. Và rồi, cũng như trong câu chuyện cổ quái gở, tất cả đều mất tích, tất cả cứ lặp lại…
Lần thứ 2 chứng kiến, Phùng biến thành anh hùng, anh đánh quật gã con trai vũ phu bằng cú đánh của người “ko cho phép hắn đánh 1 người nữ giới, cho dù đấy là vợ và tình nguyện rúc vào xó bãi xe tăng bí ẩn cho hắn đánh…”. Phùng nhân danh 1 người lính – những người đã đổ máu để giành lại bình an cho đồng bào mình, chăng? Hay ở anh còn có 1 động cơ “đạo đức” của người nghệ sĩ – người biết thưởng thức và giữ giàng vẻ đẹp toàn thiện chứ không hề là toàn ác, tha hóa?
Phùng đã nhờ Đẩu, người bạn đồng ngũ nay là chánh án huyện gánh vác địa bàn, can thiệp vào trường hợp gia đình vợ chồng thuyền chài này. Những cú đánh của Phùng chỉ là phản ứng nhất thời, anh cần tới ngôn ngữ của 1 quan tòa. Nhưng rút cuộc, cả Đẩu và Phùng chỉ như những đứa trẻ, đi hết bất thần rồi căm phẫn rồi yên lặng trước lời đầu thú, kế lể của người nữ giới: “Đây là chị nói thành thực, chị cảm ơn các chú, Lòng các chú tốt, mà các chú đâu có phải là người làm ăn… do vậy các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, nặng nhọc”. Hóa ra, ở người nữ giới xấu xí và khổ thân này là cả 1 hiện thực “bất khá tri”. Bà nhẫn nhục chịu đựng sự hành tội của chồng như chức vụ nhưng mà mình có được, thỏa nguyện vì chức vụ đấy. Trong thâm tâm bà, những nỗi đớn đau nhưng mà mình gánh chịu xứng đáng như thế vì bởi bà… đẻ nhiều con quá. Điều đấy đồng nghĩa với cái đói, cái nghèo đói còn bám riết lấy gia đình này. Nhưng thực tiễn, cái đói, cái nghèo đói đâu chỉ bởi bà đẻ nhiều, nhưng mà nó cùng là 1 thiên thức rất nữ giới thôi. Trong lời đầu thú ngùi ngùi, sống động và tái tê của bà, có những câu hỏi ko dễ giải đáp, những tranh chấp khó giảng giải: để mến thương và sống qua muôn nỗi gian nan, cùng cực, đôi lúc người ta phải chấp thuận sự tàn nhẫn, tha hóa, phi đạo đức.
Người chồng vốn dĩ hiền hậu, nghĩa hiệp. Sự cơ cực, mỏng manh của đời sống chài lưới đã biến ông ta thành vũ phu. Có phải là 1 Chí Phèo, 1 quỷ dữ bước ra từ cái làng heo hút kia ko? Vì sao, dưới cái xã hội mới này, nơi nhưng mà “giấc mơ đại tự sự” đã lan tỏa trong mọi ko gian bé hẹp của đời sống, vẫn có những mảnh đời đớn đau, tha hóa kia?
Hành động vũ phu hay là sự tuyệt vọng, hay là sự đánh tháo của những con người khổ thân. “Bất kể khi nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như con trai thuyền khác uống rượu… Sau này con cái phệ lên, tôi mới xin được với lão… đưa tôi lên bờ nhưng mà đánh…”. Rõ ràng, đây là 1 cách đánh tháo trong tuyệt vọng, 1 đánh tháo dầm nước mắt và đớn đau.
Cả Đẩu và Phùng đều thốt lên: ”Không thể nào hiểu được, chẳng thể nào hiểu được”. Họ chẳng thể hiểu vì sao 2 con người bé nhỏ kia lại chấp thuận sống và mến thương bằng kiểu lạ thường tương tự. Dù lời kể cua người nữ giới phần nào giúp họ trông thấy những ẩn ức thẳm sâu mà họ vẫn ngừng lại trên bờ vực của sự nhận thức hiện thực. Họ chưa thể nào dò thấu đáy sâu của nổi ẩn ức kia cũng như hiện thực đang diễn ra trước mặt họ.
Cảnh huống nhưng mà Phùng ko lường trước trong chuyến đi này có phải là cảnh huống dựng của nhà văn? Nhà văn đặt đối tượng và bạn đọc vào 1 cảnh huống phải nhận thức. Nhưng đối tượng đã ko lí giải được hiện thực, ngôn ngữ của quan tòa cũng phát triển thành lạc điệu. Họ chấp thuận nó bằng những thỏa thuận bên ngoài. Cơn bão biển khơi lại nổi lên, biển động, gia đình thuyền chài này rất có thể lại phải nhịn ăn, đói rách. Cái cảnh tượng thường tình kia, sẽ lại xảy ra “Con sói con” – cậu nhỏ Phác, lại phải thủ 1 con dao trong mình để trấn áp người cha, trấn áp người con trai lầm lũi kia… Những dự cảm buồn như vết xước trở đi quay về trong tâm hồn. Những tâm hồn đầy vùng tối.
Phùng đã có 1 tấm hình để đời, được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Nhưng ám ảnh về cảnh tượng đằng sau bức ảnh thì chẳng thể xóa mờ. Đằng sau vẻ đẹp vĩnh hằng kia cũng là nỗi đau vĩnh viễn. Nghệ thuật đã bưng bít, khỏa lấp cái tha hóa, phi đạo đức? Hay nghệ thuật “bất khả tri” trước hiện thực? Cũng như chiếc thuyền ngoài xa, nghệ thuật chỉ
có thể nắm bắt được cái bóng của nó, cái bóng của hiện thực, hình thức của nghệ thuật, đôi lúc như màn sương làm “mờ hóa” bản lĩnh tri nhận ở chúng ta. “Bất khá tri” biến thành niềm day dứt của người nghệ sĩ. Với người nghệ sĩ, thiên chức là ngưỡng vọng và thông minh 1 vẻ đẹp toàn thiện mà sẽ là kẻ tội đồ nếu vẻ đẹp đó làm che khuất và quên đi những xấu số trong đời. Cái đẹp ko chỉ là đạo đức, nó là sự phản tỉnh.
Tư nhân Phùng, Đẩu sẽ ko đủ sức lí giải, kết thúc thảm kịch của gia đình thuyền chài kia. Họ chưa đủ làm ánh sáng để xua đi vùng tối trong tâm hồn những con người bé bỏng, đau khổ. Trước vẻ đẹp của tự nhiên, Phùng hoàn toàn thâu nhận. Trước căn số của người nữ giới, Phùng là người dưng cuộc. Tranh chấp đấy nghe đâu đeo đẳng suốt hành trình thông minh của nghệ thuật.
Chiếc thuyền ngoài xa là 1 truyện ngắn giàu chất điện ảnh do có sự ngày càng tăng của kiểu cụ thể – hình ảnh. Trường đoạn Phùng chứng kiến người chồng hành hung vợ là trường đoạn được kể bằng hình ảnh. Nó diễn ra dưới 1 cú quay toàn cảnh kéo dài. Kịch tính tới không thở được, bất thần tới choáng váng. Nhân tố “động” của cụ thể được bao bọc trong sự yên tĩnh của cảnh, cảm giác máy quay ko chuyển di. Lời thoại rút giảm tối đa, những hình ảnh khô khốc và bạo lực. Tiếng nghiến răng ken két của gã con trai vũ phu, tiếng dây lưng quật đến tấp vào người nữ giới ngưng đọng giữa tiếng sóng biển. Thứ âm thanh dẫn dắt xúc cảm người đọc – người xem vào những mao quản sự ghi nhớ không giống nhau, hoặc rát buốt hoặc tê cóng hoặc câm nín. Xong xuôi trường đoạn, cảnh vật phát triển thành bằng lặng, êm ả như chưa hề nhuốm sắc thái bạo lực ác liệt. 1 sự trả về dửng dưng của tự nhiên. Ống kính ngừng lại ở 1 phút giây bình an nhưng mà nhức buốt tâm can… Sử dụng nhân tố điện ảnh, Nguyễn Minh Châu hình thành hiện thực hầu hết 1 cuốn phim tư liệu, chân thật và xúc động.
Là kiểu truyện ngắn mở ra cảnh huống nhận thức, Nguyễn Minh Châu còn sử dụng tính biểu trưng. Biểu tượng từ việc đặt tên đối tượng (Phùng – gặp mặt, chứng kiến, hàm ý người quan sát; Đẩu – vị phán quyết; Phác – sự thuần phác, hàm ý 1 phẩm giá của nghệ thuật; đứa con gái của vợ chồng thuyền chài – nàng tiên cá, hàm ý vẻ đẹp bí mật nhưng mà cuộc sống tặng thưởng) tới biểu trưng trung tâm: chiếc thuyền ngoài xa. Chiếc thuyền ngoài xa hay là sự bất khả tri, kiểm soát và chứng kiến được? Chiếc thuyền ngoài xa mãi mài là 1 khát vọng kiếm tìm, với đến để níu giữ, để nhìn lại. Khi chiếc thuyền vẫn còn ở ngoài xa, những định giá và huyền tưởng về nó vẫn chỉ nằm trong 1 lớp sương mờ ảo nhưng mà thôi.
5 1983, lúc Chiếc thuyền ngoài xa có mặt trên thị trường, tổ quốc vẫn chưa thoát khỏi dư chấn của chiến tranh, đời sống quần chúng cực kỳ gian nan, căn số tư nhân nằm im dưới lớp thăng hà của “giấc mơ đại tự sự”. Với những dự cảm thời cục sắc bén và tài năng nghệ thuật của mình, Nguyễn Minh Châu đã giúp lớp thăng hà kia có những vết nứt thiết yếu, vết nứt để nhìn ra vùng tối, và có thể, đón chờ vùng sáng.
——————HẾT—————-
Các em vừa mày mò bài Những trị giá về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, để hiểu hết những thông điệp nhưng mà nhà văn Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm trong tác phẩm này, các em hãy cùng tham khảo: Cảm nhận về vẻ đẹp khuất lấp của người nữ giới hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa, Phân tích 2 phát hiện của nghệ sĩ Phùng trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Phân tích hình tượng chiếc thuyền ngoài xa, Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua Chiếc thuyền ngoài xa.

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Những #giá #trị #về #nội #dung #và #nghệ #thuật #trong #truyện #ngắn #Chiếc #thuyền #ngoài

Những trị giá về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

Em hãy cho biết những trị giá về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, thể hiện bằng 1 bài văn ngắn để giúp người đọc, người nghe thông suốt hơn về trị giá thâm thúy của tác phẩm.
Đề bài: Những trị giá về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

Bài văn mẫu Những trị giá về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
Bài làm
Chiếc thuyền ngoài xa có mặt trên thị trường 3 5 trước thời điếm 1986 – mốc nhưng mà bất kỳ 1 nhà văn Việt Nam xã hội chủ nghĩa nào cũng phải nhớ, như là 5 khai sinh và tái sinh tuyến đường nghệ thuật của mình, chí ít là về tư thế cầm bút, họ được tự do.
Nguyễn Minh Châu được coi là vị khai quốc công thần của triều đại văn chương đổi mới. Kể từ Bức tranh, Người nữ giới trên chuyến tàu tốc hành, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu tăng dần độ rung chấn vào cơ địa văn đàn đương thời, dự đoán 1 cuộc bung trào dung nham đổi mới triệt để của văn chương nghệ thuật những 5 sau đấy. Cuộc bung trào dung nham này như là 1 nhu cầu nội sinh, xuất hành từ chính bản thân văn chương, mặt khác, từ chính những chuyển đổi phệ lao của đời sống xã hội. Nhà văn buộc phải phải kiểm soát những nhu cầu đó, rời xa nó nghĩa là chuốc lấy cho mình tuyến đường hẹp, mọi sáng tác chỉ như 1 phê liệu của nghệ thuật nhưng mà thôi.
Nguyễn Minh Châu tinh thần rất rõ nhu cầu của nùnh và nhu cầu của văn chương. Ông từ biệt chính ông, truy đuổi những cách khám nghiệm đời sống dưới góc nhìn và công cụ mới. Trong Bức tranh và Người nữ giới trên chuyến tàu tốc hành, chí ít, sự truy đuổi đó đã đặt Nguyền Minh Châu trước 1 thách thức triết học: sự tự nhận thức. Nhận thức ko chỉ diễn ra dưới công năng của tư duy lí trí, nhưng mà nghe đâu còn phải diễn ra bằng những luồng xung của tâm thức, của vùng sâu vùng sáng và vùng tối trong tâm hồn. Mà lại, cũng phải thấy, đôi lúc ông bất lực để lí giải, lí giải cho đối tượng và lí giải cho hiện thực. Nhân vật của ông vượt qua những giăng bẫy hiện thực nhưng mà ông sống động dựng nên, rơi vào hiện trạng “bất khả tri”. Sự tự nhận thức phát triển thành đớn đau, biến thành 1 vết thương chuẩn bị thức tỉnh. Ai nào biết được gương mặt trong bức tranh kia là gương mặt gì của thời đại, của lứa tuổi, của từng cá nhản; người nào biết được người nữ giới tên Quì đó mắc 1 chứng bệnh tư nhân hay của lứa tuổi, của thời đại…?. Không đơn giản đưa ra kết luận, cũng như các đối tượng kia, ko đơn giản dập tắt ngọn lửa tự nhận thức trong mình, dập tắt đồng nghĩa với thiêu rụi sự sống.
Chiếc thuyền ngoài xa nằm trong mạch sáng tác yêu cầu cả bạn đọc và nhà văn phải nhận thức lại hiện thực. Hiện thực hiện thời ko dễ dãi là 1 vết xước rớm máu trên cánh trắng tay đẹp của cô gái thanh niên xung phong kia nhưng mà có nhẽ phải là vết xước trong tâm hồn. Ở đấy, mỗi tư nhân là 1 chỉnh thể, 1 sở hữu của vết xước, bảo toàn và chưng cất nó khiến sự nhận thức mãi mãi ko đưa ra 1 hệ số chấp thuận.
Câu chuyện từ khi việc Phùng, phóng viên ảnh, đi “săn” 1 tấm hình, chụp cảnh binh minh trên biển. Tấm hình kia phải là 1 tác phẩm nghệ thuật, hẳn nhiên, như anh nhận thức, cần tránh lặp lại, nhàm chán và không xa lạ, Phùng rời Hà Nội gần 6 trăm cây số, “phục” ở 1 bờ biển, nơi vẫn còn lưu dấu trận đánh tranh: đấy là bãi mặt trận. Tâm thế Phùng là chuẩn bị kì vọng, anh quen được Phác, 1 cậu nhỏ sáng dạ ở hải phận đấy. Sau gần tuần lễ, anh chụp được khá nhiều tấm hình cảnh ngư gia đánh mẻ lưới cuối đồng thời rạng đông lên. Nhưng tấm hình để đời, tuyệt tác nhưng mà anh hằng mong muốn thì chưa có. Nghệ thuật nhiếp ảnh, qua cách hành xử của Phùng, nhiều ít là thứ quà tặng của tự nhiên.
Và rồi thì anh cũng có 1 cảnh trời cho: “Trước mặt tôi là 1 bức tranh mực tàu của 1 danh họa thời cổ. Mũi thuyền in 1 nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu trời sương mù trắng như sữa có pha chút ít màu hồng do ánh sáng mặt trôi chiếu vào. Toàn bộ quang cảnh từ đường nét tới ánh sáng đều hài hòa và đẹp, 1 vẻ đẹp thực dễ dãi và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở liên lúng túng, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”. Những xúc cảm nghệ thuật nhưng mà Phùng đón chờ trước vẻ đẹp tự nhiên quả khiến cho ta cảm động. Nó là niềm hạnh phúc, nỗi phấn kích của kẻ luôn sẵn tinh thần và phận sự với con đẻ ý thức nhưng mà mình hăng tâm nuôi dưỡng. Phùng rơi vào hiện trạng “lên đồng”, 1 hiện trạng cần có trước khi sinh thành những xúc cảm thông minh: “Trong phút giây lúng túng đó, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá cái phút giây trong ngần của tâm hồn”. Vào phút giây đấy Phùng hoàn toàn tâm thành với nghệ thuật, nó vừa là cái toàn thiện, cái đạo đức, cái trong ngần, vừa là hạnh phúc.. Anh được nó nâng đỡ, tặng thưởng cùng lúc thông minh nó, cảm nhận nó. Và trong giây khắc anh “bấm liên thanh 1 hồi hết 1 phần tư cuốn phim”. “Cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa đem lại” trong ống kính có nhẽ là cái đẹp đạo đức của tự nhiên. Thiên nhiên, ngay cả lúc dữ dội nhất, tàn nhẫn nhất, người ta vẫn nhận được khoảng khắc rất đẹp: núi lửa, tia chớp, sóng thần, bão cát… Thiên nhiên là bản thể tự nó. Cái gọi là “vẻ đẹp” kia chẳng qua là 1 chuỗi những thỏa thuận nằm ngoài nó, do con người hình thành.
Nhưng câu chuyện bỗng dưng chuyển sang 1 hướng khác, sau phút giây trời cho đó, Phùng rơi vào 1 phút giây, 1 cảnh huống “hiện thực cuộc sống” ban cho. Chính từ khi này, Phùng vấp phải 1 thách đố khác, có nhẽ còn nghiệt ngã hơn cả sự thông minh nghệ thuật – thách đố lí giải, nhận thức hiện thực.
Trước cảnh tượng liền kề với phút giây nghệ thuật, Phùng ngạc nhiên tới mức “trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há miệng ra nhưng mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào đến”. Phùng lao đến nơi người con trai “tấm lưng rộng và cong như lưng 1 chiếc thuyền, hàng chân mày cháy nắng rũ xuống 2 con mắt đầy vẻ độc dữ” đang dùng chiếc dây lưng quật đến tấp vào lưng người nữ giới “cao phệ với những nét thô kệch”, “lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, 2 hàm răng nghiến ken két”… Nhưng Phùng đã bị cản lại bởi “bóng 1 đứa trẻ nhỏ”, đấy là Phác, đàn ông của cặp vợ chồng kia. Phác giật chiếc dây lưng từ tay người con trai, lão “dang thẳng cánh tay cho thằng nhỏ 2 cái tát”. Rồi lão lẳng lặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền. Xong xuôi cái cảnh tượng đó, “bãi cát lại trở về với vẻ mênh mang và hoang vu”, chỉ còn Phùng, cậu nhỏ Phác và tiếng sóng ngoài khơi, tất cả chìm vào cõi yên lặng…
Có nhẽ, đấy là 1 hiện chực “quái gở”. 1 hiện thực hiển nhiên nhưng mà chẳng thể lí giải. Người nữ giới nhẫn nhục chịu đựng sự hành tội của chồng. Người chồng đánh đặp vợ tàn nhẫn như 1 lề thói, vô cảm và bản năng. Những đứa con bất lực nhìn cảnh bạo lực diễn ra ở chính tía má chúng. Tất cả đều yên lặng, miên man ở ngay nơi chiến tranh vừa đi qua. Tất cả đều diễn ra đằng sau cái vẻ đẹp dễ dãi và toàn bích của tự nhiên. 1 hiện thực quái gở lấn chiếm ngay sau khoảnh khắc hạnh phúc của người nghệ sĩ. 1 nỗi đau và dìm nén nỗi đau, 1 bình an và phá hoại bình an, 1 dư chấn và 1 khoảng lặng cứ đan cài nhau giữa muôn trùng tiếng sóng biển. Và rồi, cũng như trong câu chuyện cổ quái gở, tất cả đều mất tích, tất cả cứ lặp lại…
Lần thứ 2 chứng kiến, Phùng biến thành anh hùng, anh đánh quật gã con trai vũ phu bằng cú đánh của người “ko cho phép hắn đánh 1 người nữ giới, cho dù đấy là vợ và tình nguyện rúc vào xó bãi xe tăng bí ẩn cho hắn đánh…”. Phùng nhân danh 1 người lính – những người đã đổ máu để giành lại bình an cho đồng bào mình, chăng? Hay ở anh còn có 1 động cơ “đạo đức” của người nghệ sĩ – người biết thưởng thức và giữ giàng vẻ đẹp toàn thiện chứ không hề là toàn ác, tha hóa?
Phùng đã nhờ Đẩu, người bạn đồng ngũ nay là chánh án huyện gánh vác địa bàn, can thiệp vào trường hợp gia đình vợ chồng thuyền chài này. Những cú đánh của Phùng chỉ là phản ứng nhất thời, anh cần tới ngôn ngữ của 1 quan tòa. Nhưng rút cuộc, cả Đẩu và Phùng chỉ như những đứa trẻ, đi hết bất thần rồi căm phẫn rồi yên lặng trước lời đầu thú, kế lể của người nữ giới: “Đây là chị nói thành thực, chị cảm ơn các chú, Lòng các chú tốt, mà các chú đâu có phải là người làm ăn… do vậy các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, nặng nhọc”. Hóa ra, ở người nữ giới xấu xí và khổ thân này là cả 1 hiện thực “bất khá tri”. Bà nhẫn nhục chịu đựng sự hành tội của chồng như chức vụ nhưng mà mình có được, thỏa nguyện vì chức vụ đấy. Trong thâm tâm bà, những nỗi đớn đau nhưng mà mình gánh chịu xứng đáng như thế vì bởi bà… đẻ nhiều con quá. Điều đấy đồng nghĩa với cái đói, cái nghèo đói còn bám riết lấy gia đình này. Nhưng thực tiễn, cái đói, cái nghèo đói đâu chỉ bởi bà đẻ nhiều, nhưng mà nó cùng là 1 thiên thức rất nữ giới thôi. Trong lời đầu thú ngùi ngùi, sống động và tái tê của bà, có những câu hỏi ko dễ giải đáp, những tranh chấp khó giảng giải: để mến thương và sống qua muôn nỗi gian nan, cùng cực, đôi lúc người ta phải chấp thuận sự tàn nhẫn, tha hóa, phi đạo đức.
Người chồng vốn dĩ hiền hậu, nghĩa hiệp. Sự cơ cực, mỏng manh của đời sống chài lưới đã biến ông ta thành vũ phu. Có phải là 1 Chí Phèo, 1 quỷ dữ bước ra từ cái làng heo hút kia ko? Vì sao, dưới cái xã hội mới này, nơi nhưng mà “giấc mơ đại tự sự” đã lan tỏa trong mọi ko gian bé hẹp của đời sống, vẫn có những mảnh đời đớn đau, tha hóa kia?
Hành động vũ phu hay là sự tuyệt vọng, hay là sự đánh tháo của những con người khổ thân. “Bất kể khi nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như con trai thuyền khác uống rượu… Sau này con cái phệ lên, tôi mới xin được với lão… đưa tôi lên bờ nhưng mà đánh…”. Rõ ràng, đây là 1 cách đánh tháo trong tuyệt vọng, 1 đánh tháo dầm nước mắt và đớn đau.
Cả Đẩu và Phùng đều thốt lên: ”Không thể nào hiểu được, chẳng thể nào hiểu được”. Họ chẳng thể hiểu vì sao 2 con người bé nhỏ kia lại chấp thuận sống và mến thương bằng kiểu lạ thường tương tự. Dù lời kể cua người nữ giới phần nào giúp họ trông thấy những ẩn ức thẳm sâu mà họ vẫn ngừng lại trên bờ vực của sự nhận thức hiện thực. Họ chưa thể nào dò thấu đáy sâu của nổi ẩn ức kia cũng như hiện thực đang diễn ra trước mặt họ.
Cảnh huống nhưng mà Phùng ko lường trước trong chuyến đi này có phải là cảnh huống dựng của nhà văn? Nhà văn đặt đối tượng và bạn đọc vào 1 cảnh huống phải nhận thức. Nhưng đối tượng đã ko lí giải được hiện thực, ngôn ngữ của quan tòa cũng phát triển thành lạc điệu. Họ chấp thuận nó bằng những thỏa thuận bên ngoài. Cơn bão biển khơi lại nổi lên, biển động, gia đình thuyền chài này rất có thể lại phải nhịn ăn, đói rách. Cái cảnh tượng thường tình kia, sẽ lại xảy ra “Con sói con” – cậu nhỏ Phác, lại phải thủ 1 con dao trong mình để trấn áp người cha, trấn áp người con trai lầm lũi kia… Những dự cảm buồn như vết xước trở đi quay về trong tâm hồn. Những tâm hồn đầy vùng tối.
Phùng đã có 1 tấm hình để đời, được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Nhưng ám ảnh về cảnh tượng đằng sau bức ảnh thì chẳng thể xóa mờ. Đằng sau vẻ đẹp vĩnh hằng kia cũng là nỗi đau vĩnh viễn. Nghệ thuật đã bưng bít, khỏa lấp cái tha hóa, phi đạo đức? Hay nghệ thuật “bất khả tri” trước hiện thực? Cũng như chiếc thuyền ngoài xa, nghệ thuật chỉ
có thể nắm bắt được cái bóng của nó, cái bóng của hiện thực, hình thức của nghệ thuật, đôi lúc như màn sương làm “mờ hóa” bản lĩnh tri nhận ở chúng ta. “Bất khá tri” biến thành niềm day dứt của người nghệ sĩ. Với người nghệ sĩ, thiên chức là ngưỡng vọng và thông minh 1 vẻ đẹp toàn thiện mà sẽ là kẻ tội đồ nếu vẻ đẹp đó làm che khuất và quên đi những xấu số trong đời. Cái đẹp ko chỉ là đạo đức, nó là sự phản tỉnh.
Tư nhân Phùng, Đẩu sẽ ko đủ sức lí giải, kết thúc thảm kịch của gia đình thuyền chài kia. Họ chưa đủ làm ánh sáng để xua đi vùng tối trong tâm hồn những con người bé bỏng, đau khổ. Trước vẻ đẹp của tự nhiên, Phùng hoàn toàn thâu nhận. Trước căn số của người nữ giới, Phùng là người dưng cuộc. Tranh chấp đấy nghe đâu đeo đẳng suốt hành trình thông minh của nghệ thuật.
Chiếc thuyền ngoài xa là 1 truyện ngắn giàu chất điện ảnh do có sự ngày càng tăng của kiểu cụ thể – hình ảnh. Trường đoạn Phùng chứng kiến người chồng hành hung vợ là trường đoạn được kể bằng hình ảnh. Nó diễn ra dưới 1 cú quay toàn cảnh kéo dài. Kịch tính tới không thở được, bất thần tới choáng váng. Nhân tố “động” của cụ thể được bao bọc trong sự yên tĩnh của cảnh, cảm giác máy quay ko chuyển di. Lời thoại rút giảm tối đa, những hình ảnh khô khốc và bạo lực. Tiếng nghiến răng ken két của gã con trai vũ phu, tiếng dây lưng quật đến tấp vào người nữ giới ngưng đọng giữa tiếng sóng biển. Thứ âm thanh dẫn dắt xúc cảm người đọc – người xem vào những mao quản sự ghi nhớ không giống nhau, hoặc rát buốt hoặc tê cóng hoặc câm nín. Xong xuôi trường đoạn, cảnh vật phát triển thành bằng lặng, êm ả như chưa hề nhuốm sắc thái bạo lực ác liệt. 1 sự trả về dửng dưng của tự nhiên. Ống kính ngừng lại ở 1 phút giây bình an nhưng mà nhức buốt tâm can… Sử dụng nhân tố điện ảnh, Nguyễn Minh Châu hình thành hiện thực hầu hết 1 cuốn phim tư liệu, chân thật và xúc động.
Là kiểu truyện ngắn mở ra cảnh huống nhận thức, Nguyễn Minh Châu còn sử dụng tính biểu trưng. Biểu tượng từ việc đặt tên đối tượng (Phùng – gặp mặt, chứng kiến, hàm ý người quan sát; Đẩu – vị phán quyết; Phác – sự thuần phác, hàm ý 1 phẩm giá của nghệ thuật; đứa con gái của vợ chồng thuyền chài – nàng tiên cá, hàm ý vẻ đẹp bí mật nhưng mà cuộc sống tặng thưởng) tới biểu trưng trung tâm: chiếc thuyền ngoài xa. Chiếc thuyền ngoài xa hay là sự bất khả tri, kiểm soát và chứng kiến được? Chiếc thuyền ngoài xa mãi mài là 1 khát vọng kiếm tìm, với đến để níu giữ, để nhìn lại. Khi chiếc thuyền vẫn còn ở ngoài xa, những định giá và huyền tưởng về nó vẫn chỉ nằm trong 1 lớp sương mờ ảo nhưng mà thôi.
5 1983, lúc Chiếc thuyền ngoài xa có mặt trên thị trường, tổ quốc vẫn chưa thoát khỏi dư chấn của chiến tranh, đời sống quần chúng cực kỳ gian nan, căn số tư nhân nằm im dưới lớp thăng hà của “giấc mơ đại tự sự”. Với những dự cảm thời cục sắc bén và tài năng nghệ thuật của mình, Nguyễn Minh Châu đã giúp lớp thăng hà kia có những vết nứt thiết yếu, vết nứt để nhìn ra vùng tối, và có thể, đón chờ vùng sáng.
——————HẾT—————-
Các em vừa mày mò bài Những trị giá về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, để hiểu hết những thông điệp nhưng mà nhà văn Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm trong tác phẩm này, các em hãy cùng tham khảo: Cảm nhận về vẻ đẹp khuất lấp của người nữ giới hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa, Phân tích 2 phát hiện của nghệ sĩ Phùng trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Phân tích hình tượng chiếc thuyền ngoài xa, Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua Chiếc thuyền ngoài xa.

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Những #giá #trị #về #nội #dung #và #nghệ #thuật #trong #truyện #ngắn #Chiếc #thuyền #ngoài


#Những #giá #trị #về #nội #dung #và #nghệ #thuật #trong #truyện #ngắn #Chiếc #thuyền #ngoài

Vik News

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button