Giáo Dục

Phân tích khổ 8 bài thơ Việt Bắc

Bài văn phân tích thành phố Việt Bắc trong 8 khổ thơ là một trong những bài văn mẫu các em nên tham khảo trước khi tham gia kì thi THPT quốc gia sắp tới. Bài phân tích này sẽ giúp các bạn nắm được những kiến ​​thức cơ bản về thơ Việt Bắc và hiểu rõ hơn về phong cách sáng tác của nhà thơ Tố Hữu.

môn học: 8 Phân tích Cánh diều về Thành phố Việt Bắc

Nội dung bài viết:
I. Tổng quan chi tiết
II. bài văn mẫu

8 Phân tích Cánh diều về Thành phố Việt Bắc

I. Phân tích cấu trúc tám khổ thơ Thành phố Việt Bắc (chuẩn)

1. Khai giảng lớp:

– Giới thiệu về tác giả Tố Hữu, tác phẩm Việt Bắc và khổ thơ thứ 8 của bài thơ “Việt Bắc”.

2. Phần thân bài:

tất cả các. Nêu khái quát về tác giả, tác phẩm và tám khổ thơ của bài thơ “Việt Bắc”.

– Tố Hữu (1920-2002) là một lãnh tụ trong Cách mạng Việt Nam.
– “Việt Bắc” được sáng tác vào tháng 10 năm 1954 khi chính phủ rời Việt Bắc về thủ đô.
– Khổ thơ thứ tám của bài thơ là không khí sôi nổi và đầy ám ảnh của cuộc kháng chiến chống Pháp.

cơn mưa. Hai dòng đầu của khổ thơ thứ tám của bài thơ “Việt Bắc”:

– Họa sĩ tái hiện không khí Chiến tranh Nhân dân xung quanh ‘Phố bánh xèo Việt Nam của chúng tôi’.
– Không khí kháng chiến mạnh mẽ là “đêm và đêm”, và người nghệ sĩ ví không khí “ầm ầm” với “trời rung chuyển”.
– Mang không khí của những cuộc kháng chiến trở nên hùng tráng tạo nên âm hưởng hùng tráng, thiết tha.

Hạt giống. Sáu câu thơ tiếp theo của khổ thơ thứ tám của bài thơ “Việt Bắc”:

– Tác giả tái hiện không khí của những cuộc kháng chiến.
+ Hình ảnh đoàn quân được trình bày như một “đôi điệp” thể hiện nhiều tấm gương “chiến trường thế kỷ 40”.
+ Hình ảnh người dân tham chiến được kết hợp với người lính tạo nên không khí hùng tráng.
+ Nhà thơ bày tỏ niềm tin rằng cảm hứng xuất phát từ một tình yêu say mê lãng mạn cách mạng, một niềm lạc quan cách mạng cho ngày mai.

Nói cách khác. Bốn dòng cuối của khổ thơ thứ tám của bài thơ “Việt Bắc”:

– Niềm vui của những người kháng chiến uất ức, trùng trùng, trào dâng vì đó là niềm tự hào của những người kháng chiến.
– Niềm vui chiến thắng ở hàng trăm vùng dân cư đông đúc như Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê, Việt Bắc, đèo De, núi Đỏ.
– Thể hiện sự ca ngợi và tự hào về nhà thơ Gongdeokjeon với thành ngữ “niềm vui”.

E. Thúc giục:

– Nghệ thuật: giọng thơ lãng mạn, cảm hứng trần thuật, cách sử dụng phép tu từ liệt kê thể hiện niềm vui, niềm tự hào của tác giả.
-Nội dung: Bài thơ chân thực là một cuộc kháng chiến vui tươi, khí thế ra quân kháng chiến được diễn tả đầy đủ của các lực lượng tham gia chiến đấu, con đường nối liền các vùng miền tạo nên hình ảnh.

3. Kết luận:

– Nêu nội dung khổ thơ thứ 8 của bài thơ “Việt Bắc”:

II. Phân tích bài văn mẫu 8 khổ thơ Thành phố Việt Bắc (chuẩn)

“Trong những lời nói đó, tôi đã cảm nắng
Mặt trời chân lý chiếu qua trái tim “

(sau)

Ánh sáng của cách mạng là ngọn đuốc dẫn đường cho nhân dân ta đi tìm độc lập, tự do. Là nhà thơ trưởng thành trong Kháng chiến, Tố Hữu đã mang đến cho người đọc nhiều tác phẩm cách mạng, lãng mạn, trữ tình với tinh thần yêu nước sâu sắc. Trong khổ thơ thứ tám của bài thơ “Việt Bắc”, nhà thơ đã tự hào dựng lại bức tranh hiện thực về cuộc kháng chiến chống Pháp.

Tố Hữu (1920 – 2002) là người đi trước trong nền thơ ca Cách mạng Việt Nam và có nhiều đóng góp đáng kể cho nền văn học và Cách mạng Việt Nam. Tố Hữu là nhà biên niên thơ và nhà thơ trữ tình lãng mạn cách mạng lớn nhất thế kỷ XX. Thành phố Việt Bắc được thành lập vào tháng 10 năm 1954 khi chính phủ rời Việt Bắc về tiếp quản thủ đô. Bài thơ được in thành tập thơ cùng tên và được coi là một trong những tác phẩm hay nhất của thơ ca Kháng chiến chống Pháp. Khổ thơ thứ tám của bài thơ là không khí sôi động và đầy ám ảnh của cuộc kháng chiến chống Pháp được tác giả miêu tả vô cùng sinh động bằng ngòi bút điêu luyện.

Mở đầu khổ thơ, tác giả gợi lên không khí phố phường Việt Bắc của ta và cuộc chiến tranh toàn dân.

“Phố Việt Bắc của tôi
Đêm rung chuyển như mặt đất rung chuyển ”.

Ban đêm thường là thời gian nghỉ ngơi, nhưng trong cuộc kháng chiến chống Pháp nhân dân ta đã cùng nhau xông pha chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Không khí dũng cảm của cuộc kháng chiến trong ‘Đêm và đêm’ cùng với tiếng hành quân ‘ầm ầm’, được nghệ sĩ ví như ‘đất rung chuyển’, cho thấy tinh thần đấu tranh đang diễn ra một cách tuyệt vọng. Tiếng ‘gầm’ này còn thể hiện sức mạnh của quân và dân ta luôn dũng cảm tiến lên. Không khí của các cuộc kháng chiến gợi lên sự hùng tráng mang tính sử thi với những âm vang hùng tráng, khiến bài thơ này vừa là một bản tình ca vừa là một khúc tráng ca hùng tráng.

Tác giả tái hiện không khí của cuộc kháng chiến trong sáu dòng tiếp theo của khổ thơ thứ tám.

“Quân đội giống như một điệp viên.
Ánh sao phía trên khẩu thần công, bạn và một chiếc mũ có nan.
Công dân ngọn đuốc đỏ trong nhóm
Dấu chân đè đá và hàng ngàn tia lửa bay.
Ngàn đêm trong sương mù dày đặc
Đèn pha sáng như ngày mai ”.

Đêm là lúc quân dân ta thống trị thiên hạ, tuy đêm đen nhưng là nơi mở đầu cho cuộc chiến đấu ác liệt, ác liệt. Hình ảnh quân đội được trình bày dưới dạng ‘thông điệp kép’ thể hiện nhiều mẫu ‘chiến trường thế kỷ 40’. Con người là chủ nhân của trái đất, nếu bạn nhìn lên bầu trời, bạn sẽ thấy “ánh trăng” soi sáng mọi nẻo đường. Trong bài thơ “Hạ chí” của Chính Hữu, ta còn bắt gặp hình ảnh “mõm treo trên cung trăng” vừa mang ý nghĩa hiện thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng. Mặt trăng không chỉ là người bạn của mọi thành viên trong gia đình, mà còn tượng trưng cho hòa bình và tương lai tươi sáng. Cuộc kháng chiến này không chỉ khiến người lính, mà cả những người lính, những người dân, những người đi sau đoàn kết lại để tạo nên những “bậc thang đá cuội, muôn ngàn đốm lửa”. Một bước đi mạnh mẽ, mạnh mẽ tạo ra sức mạnh để “bẻ gãy” kẻ thù. Mặc dù nghệ sĩ mô tả quang cảnh ban đêm, <베트박>Cảnh đêm không phải lúc nào cũng tối, nhưng luôn được chiếu sáng bởi đuốc, ánh trăng và đèn sân khấu. Màn đêm dường như biến mất với sự kết hợp của ánh đuốc, ánh trăng và ánh đèn sân khấu. Bởi vì sự kết hợp này đã tạo ra một thứ ánh sáng rực rỡ như ‘ngày mai’. Trong không khí sôi nổi của cuộc kháng chiến, nhà thơ đã thể hiện niềm tin cách mạng và niềm lạc quan vào tương lai, được khơi nguồn từ những đam mê lãng mạn cách mạng.

Quyết tâm của quân và dân ta đã mang lại thắng lợi vượt bậc, hòa bình lập lại, miền Bắc được giải phóng. Nhà thơ đã thể hiện niềm vui sướng tột cùng này ở bốn dòng cuối của khổ thơ thứ tám của bài thơ “Việt Bắc”.

“Tin mừng chiến thắng trăm miền
Hòa Bình, Tây Bắc và Điện Biên muốn quay lại.
Happy by Dong Thap, An Khe
Lên Việt Bắc, đèo De, núi đỏ ”.

Khí thế chiến thắng vang vọng núi rừng, niềm vui kháng chiến vượt lên chồng chất và lao về phía trước với niềm vui của cuộc trường chinh. Sở dĩ như vậy vì nó là niềm tự hào của nhân dân trong cuộc kháng chiến. Trong khi tám dòng đầu của khổ thơ tác giả gợi lên không khí chiến trận căng thẳng, căng thẳng thì bốn dòng cuối của bài thơ lại mở ra những chân trời thanh bình với niềm vui rộn ràng trăm miền. Niềm vui nối liền với những địa danh dày đặc như Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê, Việt Bắc, đèo De, núi Đỏ. Từ “hân hoan” gắn với niềm vui chiến thắng, niềm tự hào chiến thắng cũng là niềm tự hào về cuộc kháng chiến thần thánh của tác giả.

Giọng thơ lãng mạn, cảm hứng trần thuật và phép tu từ được diễn xướng là dụng ý nghệ thuật được tác giả sử dụng trong khổ thơ. Thơ quả thực là một niềm vui lớn trong các cuộc kháng chiến, không khí kháng chiến được khắc họa đầy đủ qua những bộ đội tham gia chiến đấu và những con đường nối liền các vùng miền đã mang đến một bức tranh rất chân thực.

Khổ thơ thứ tám của bài thơ “Việt Bắc” mang đến cho người đọc cảm giác sống lại những năm tháng kháng chiến với khí thế hào hùng, quật cường. Bài thơ này có tính chất hoành tráng, đậm chất sử thi đã tạo nên một bức tranh lịch sử vô cùng đẹp đẽ cùng với ý chí quyết chiến và quyết thắng của nhân dân ta.

——bên trên——

https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-kho-8-bai-tho-viet-bac-69619n.aspx
Hi vọng với phần Phân tích 8 khổ thơ của Bài thơ Việt Bắc trên đây sẽ giúp các bạn nắm vững những kiến ​​thức của mình về Bài thơ Việt Bắc. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết sau để hiểu rõ hơn về phong cách viết của nhà thơ Tố Hữu. Phân tích ba câu thơ trong thơ bánh nướng của Việt Nam; Phân tích 5 năm liên tiếp của baksi Việt Nam, Phân tích câu 4 bài Việt Bắc của Tố HữuPhân tích cảm xúc của người quá cố trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu.


Thông tin thêm

Phân tích khổ 8 bài thơ Việt Bắc

Bài Phân tích khổ 8 bài thơ Việt Bắc là một trong những bài văn các em nên tham khảo trước khi bước vào kì thi THPT Quốc gia sắp tới. Bài phân tích này sẽ giúp các em nắm vững kiến thức cơ bản về bài thơ Việt Bắc và hiểu rõ hơn về phong cách sáng tác của nhà thơ Tố Hữu.
Đề bài: Phân tích khổ 8 bài thơ Việt Bắc
Mục lục bài viết:I. Dàn ý chi tiếtII. Bài văn mẫu

Phân tích khổ 8 bài thơ Việt Bắc
I. Dàn ý Phân tích khổ 8 bài thơ Việt Bắc (Chuẩn)
1. Mở bài:
– Giới thiệu về tác giả Tố Hữu, tác phẩm Việt Bắc và khổ tám bài thơ “Việt Bắc”.
2. Thân bài:
a. Trình bày khái quát về tác giả, tác phẩm và khổ tám bài thơ “Việt Bắc”:
– Tố Hữu (1920 – 2002) là con chim đầu đàn của thơ ca cách mạng Việt Nam.– “Việt Bắc” được sáng tác vào tháng 10 năm 1954 khi chính phủ rời Việt Bắc về tiếp quản thủ đô.– Khổ tám bài thơ là không khí sôi nổi, khẩn trương của cuộc kháng chiến chống Pháp.
b. Hai câu thơ đầu của khổ tám bài thơ “Việt Bắc”:
– Tác giả tái hiện lại không khí của cuộc chiến toàn dân, toàn diện “những đường Việt Bắc của ta”.– Khí thế dũng mãnh của cuộc kháng chiến trong thời gian “đêm đêm”, không khí “rầm rập” được tác giả so sánh “như là đất rung”.– Không khí của cuộc kháng chiến được khơi gợi mang tầm vóc sử thi, gợi âm hưởng hùng tráng, thiết tha.
c. Sáu câu thơ tiếp theo của khổ tám bài thơ “Việt Bắc”:
– Tác giả tái hiện không khí của cuộc kháng chiến:+ Hình ảnh đoàn quân được khắc họa “điệp điệp trùng trùng” cho thấy số lượng đông đảo của một cuộc tổng duyệt “Bốn mươi thế kỉ cùng ra trận”.+ Hình ảnh của những con người tham gia chiến tranh được kết hợp với các chiến sĩ tạo nên không khí mang tầm vóc sử thi.+ Nhà thơ đã thể hiện được niềm tin, sự lạc quan cách mạng về ngày mai, cảm hứng ấy được khởi nguồn từ niềm hăng say lãng mạn cách mạng.
d. Bốn câu thơ cuối của khổ tám bài thơ “Việt Bắc”:
– Niềm vui của cuộc kháng chiến có sự đan chéo, chất chồng và dồn dập bởi nó là niềm tự hào của con người trong cuộc kháng chiến.– Niềm vui gắn liền với chiến thắng trăm miền, các địa danh dày đặc: Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê, Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.– Sự ngợi ca, niềm tự hào của nhà thơ trước những chiến công được thể hiện qua điệp từ “vui”.
e. Đánh giá:
– Nghệ thuật: Giọng thơ lãng mạn, mang cảm hứng sử thi, sử dụng biện pháp tu từ liệt kê cho thấy niềm vui, niềm tự hào của tác giả.– Nội dung: Đoạn thơ thực sự là một niềm vui lớn trong kháng chiến, khí thế của cuộc kháng chiến được miêu tả đầy đủ qua lực lượng tham gia chiến đấu, những con đường nối liền giữa các miền đã mang đến một bức tranh hiện thực vô cùng hoành tráng.
3. Kết bài:
– Khái quát lại nội dung của khổ tám bài thơ “Việt Bắc”:
II. Bài văn mẫu Phân tích khổ 8 bài thơ Việt Bắc (Chuẩn)
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạMặt trời chân lí chói qua tim”
(Tố Hữu)
Ánh sáng cách mạng chính là ngọn đuốc chỉ đường giúp cho nhân dân ta tìm thấy độc lập, tự do. Là một nhà thơ trưởng thành từ những cuộc kháng chiến, Tố Hữu đã đem đến cho bạn đọc rất nhiều tác phẩm trữ tình lãng mạn cách mạng với một lòng yêu nước sâu sắc. Trong khổ thơ thứ tám của bài thơ “Việt Bắc”, nhà thơ đã dựng lại bức tranh hiện thực của cuộc kháng chiến chống Pháp với niềm tự hào to lớn.
Tố Hữu (1920 – 2002) là con chim đầu đàn của thơ ca cách mạng Việt Nam, ông đã có những đóng góp và cống hiến lớn cho cách mạng và cho nền văn học nước nhà. Tố Hữu chính là người viết biên niên sử bằng thơ và là nhà thơ trữ tình lãng mạn cách mạng lớn nhất thế kỷ XX. Bài thơ Việt Bắc được sáng tác vào tháng 10 năm 1954 khi chính phủ rời Việt Bắc về tiếp quản thủ đô. Bài thơ được in trong tập thơ cùng tên và được đánh giá là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp. Khổ tám bài thơ chính là không khí sôi nổi, khẩn trương của cuộc kháng chiến chống Pháp được đã được tác giả tái hiện lại vô cùng sinh động bằng chính ngòi bút điêu luyện của mình.
Mở đầu khổ thơ, tác giả khơi gợi lại không khí của cuộc chiến toàn dân, toàn diện với những con đường Việt Bắc của ta:
“Những đường Việt Bắc của taĐêm đêm rầm rập như là đất rung”
Đêm thường là thời gian để con người nghỉ ngơi nhưng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhân dân ta đã sục sôi một lòng chiến đấu vì Tổ quốc. Khí thế dũng mãnh của cuộc kháng chiến trong thời gian “đêm đêm” với tiếng hành quân “rầm rập” được tác giả so sánh “như là đất rung” cho thấy không chí chiến đấu đang diễn ra vô cùng khẩn trương. Tiếng “rầm rập” ấy còn cho thấy sự hùng mạnh của quân dân ta luôn dũng cảm tiến về phía trước. Không khí của cuộc kháng chiến được khơi gợi mang tầm vóc sử thi với những âm hưởng hùng tráng đã khiến cho bài thơ được đánh giá vừa là một bản tình ca lại vừa là một khúc tráng ca.
Tác giả tái hiện lại không khí của cuộc kháng chiến ở sáu câu tiếp theo của khổ thơ thứ tám:
“Quân đi điệp điệp trùng trùngÁnh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.Dân công đỏ đuốc từng đoànBước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.Nghìn đêm thăm thẳm sương dàyĐèn pha bật sáng như ngày mai lên.”
Đêm chính là khoảng thời gian quân dân ta làm chủ cả đất trời, tuy màn đêm đen tối nhưng đó chính là sự khởi đầu cho một cuộc chiến đấu đầy cam go và khốc liệt. Hình ảnh đoàn quân được khắc họa “điệp điệp trùng trùng” cho thấy số lượng đông đảo của một cuộc tổng duyệt “Bốn mươi thế kỉ cùng ra trận”. Con người chính là chủ nhân trên mặt đất, ngước lên trời cao ta lại thấy hình ảnh của “ánh trăng” chiếu sáng mọi nẻo đường. Trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu ta cũng đã bắt gặp hình ảnh “Đầu súng trăng treo” vừa mang ý nghĩa tả thực lại vừa mang ý nghĩa tượng trưng. Trăng không chỉ là bạn của mọi nhà mà trăng còn tượng trưng cho sự hòa bình, cho một tương lai tươi sáng phía trước. Trong cuộc kháng chiến ấy không chỉ có chiến sĩ mà còn có cả bộ đội, dân công, những con người hậu phương được kết hợp lại với nhau tạo nên “Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”. Những bước chân gân guốc, khỏe khoắn đã tạo nên sức mạnh “giẫm nát” quân thù. Mặc dù tác giả miêu tả cảnh đêm tối nhưng cảnh đêm tối trong “Việt Bắc” không phải là một đêm tối mịt mù mà nó luôn được soi sáng bởi ngọn đuốc, bởi ánh trăng, bởi đèn pha. Màn đêm dường như tan biến bởi sự kết hợp giữa ánh sáng của ngọn đuốc, ánh trăng, đèn pha bởi sự kết hợp ấy đã tạo nên thứ ánh sáng sáng như “ngày mai lên”. Từ không khí sôi động của cuộc kháng chiến, nhà thơ đã thể hiện được niềm tin, sự lạc quan cách mạng về ngày mai, cảm hứng ấy được khởi nguồn từ niềm hăng say lãng mạn cách mạng.
Sự quyết tâm của quân dân ta đã tạo nên một chiến thắng vang dội đất trời khi hòa bình được lập lại, miền Bắc được giải phóng. Nhà thơ đã lột tả niềm vui tột cùng ấy qua bốn câu thơ cuối của khổ tám bài thơ “Việt Bắc”:
“Tin vui chiến thắng trăm miềnHoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui vềVui từ Đồng Tháp, An KhêVui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.”
Tin thắng trận vang cả núi rừng, niềm vui của cuộc kháng chiến có sự đan chéo, chất chồng và dồn dập bởi nó là niềm tự hào của con người trong cuộc kháng chiến. Nếu như tám câu thơ đầu của khổ thơ tác giả đã khơi gợi được không khí căng thẳng, khẩn trương của chiến trận thì bốn câu thơ sau, nhà thơ đã mở ra một chân trời hòa bình với niềm vui sôi nổi trăm miền. Niềm vui gắn liền với các địa danh dày đặc như Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê, Việt Bắc, đèo De, núi Hồng. Điệp từ “vui” gắn liền với niềm vui chiến thắng, niềm tự hào trước những chiến công cũng chính là niềm tự hào tác giả trước cuộc kháng chiến thần thánh.
Giọng thơ lãng mạn, mang cảm hứng sử thi, biện pháp tu từ liệt kê là những dụng ý nghệ thuật mà tác giả đã sử dụng trong khổ thơ. Đoạn thơ thực sự là một niềm vui lớn trong kháng chiến, khí thế của cuộc kháng chiến được miêu tả đầy đủ qua lực lượng tham gia chiến đấu, những con đường nối liền giữa các miền đã mang đến một bức tranh hiện thực vô cùng hoành tráng.
Khổ thơ tám của bài thơ “Việt Bắc” khiến cho người đọc như được sống lại trong những năm tháng kháng chiến với khí thế hào hùng, mãnh liệt. Đoạn thơ mang tầm vóc sử thi hoành tráng đã tạo nên một bức tranh lịch sử vô cùng đẹp với sự quyết tâm ra trận, giành chiến thắng của nhân ta.
—————-HẾT—————–
https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-kho-8-bai-tho-viet-bac-69619n.aspx Hy vọng bài Phân tích khổ 8 bài thơ Việt Bắc trên đây sẽ giúp các em nắm chắc được kiến thức về bài thơ Việt Bắc. Ngoài ra, các em có thể tham khảo thêm những bài viết sau để hiểu rõ hơn về phong cách sáng tác của nhà thơ Tố Hữu: Phân tích khổ 3 bài thơ Việt Bắc; Phân tích khổ 5 bài thơ Việt Bắc, Phân tích khổ 4 bài Việt Bắc của Tố Hữu, Phân tích tình cảm của người ra đi trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

#Phân #tích #khổ #bài #thơ #Việt #Bắc

Phân tích khổ 8 bài thơ Việt Bắc

Bài Phân tích khổ 8 bài thơ Việt Bắc là một trong những bài văn các em nên tham khảo trước khi bước vào kì thi THPT Quốc gia sắp tới. Bài phân tích này sẽ giúp các em nắm vững kiến thức cơ bản về bài thơ Việt Bắc và hiểu rõ hơn về phong cách sáng tác của nhà thơ Tố Hữu.
Đề bài: Phân tích khổ 8 bài thơ Việt Bắc
Mục lục bài viết:I. Dàn ý chi tiếtII. Bài văn mẫu

Phân tích khổ 8 bài thơ Việt Bắc
I. Dàn ý Phân tích khổ 8 bài thơ Việt Bắc (Chuẩn)
1. Mở bài:
– Giới thiệu về tác giả Tố Hữu, tác phẩm Việt Bắc và khổ tám bài thơ “Việt Bắc”.
2. Thân bài:
a. Trình bày khái quát về tác giả, tác phẩm và khổ tám bài thơ “Việt Bắc”:
– Tố Hữu (1920 – 2002) là con chim đầu đàn của thơ ca cách mạng Việt Nam.– “Việt Bắc” được sáng tác vào tháng 10 năm 1954 khi chính phủ rời Việt Bắc về tiếp quản thủ đô.– Khổ tám bài thơ là không khí sôi nổi, khẩn trương của cuộc kháng chiến chống Pháp.
b. Hai câu thơ đầu của khổ tám bài thơ “Việt Bắc”:
– Tác giả tái hiện lại không khí của cuộc chiến toàn dân, toàn diện “những đường Việt Bắc của ta”.– Khí thế dũng mãnh của cuộc kháng chiến trong thời gian “đêm đêm”, không khí “rầm rập” được tác giả so sánh “như là đất rung”.– Không khí của cuộc kháng chiến được khơi gợi mang tầm vóc sử thi, gợi âm hưởng hùng tráng, thiết tha.
c. Sáu câu thơ tiếp theo của khổ tám bài thơ “Việt Bắc”:
– Tác giả tái hiện không khí của cuộc kháng chiến:+ Hình ảnh đoàn quân được khắc họa “điệp điệp trùng trùng” cho thấy số lượng đông đảo của một cuộc tổng duyệt “Bốn mươi thế kỉ cùng ra trận”.+ Hình ảnh của những con người tham gia chiến tranh được kết hợp với các chiến sĩ tạo nên không khí mang tầm vóc sử thi.+ Nhà thơ đã thể hiện được niềm tin, sự lạc quan cách mạng về ngày mai, cảm hứng ấy được khởi nguồn từ niềm hăng say lãng mạn cách mạng.
d. Bốn câu thơ cuối của khổ tám bài thơ “Việt Bắc”:
– Niềm vui của cuộc kháng chiến có sự đan chéo, chất chồng và dồn dập bởi nó là niềm tự hào của con người trong cuộc kháng chiến.– Niềm vui gắn liền với chiến thắng trăm miền, các địa danh dày đặc: Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê, Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.– Sự ngợi ca, niềm tự hào của nhà thơ trước những chiến công được thể hiện qua điệp từ “vui”.
e. Đánh giá:
– Nghệ thuật: Giọng thơ lãng mạn, mang cảm hứng sử thi, sử dụng biện pháp tu từ liệt kê cho thấy niềm vui, niềm tự hào của tác giả.– Nội dung: Đoạn thơ thực sự là một niềm vui lớn trong kháng chiến, khí thế của cuộc kháng chiến được miêu tả đầy đủ qua lực lượng tham gia chiến đấu, những con đường nối liền giữa các miền đã mang đến một bức tranh hiện thực vô cùng hoành tráng.
3. Kết bài:
– Khái quát lại nội dung của khổ tám bài thơ “Việt Bắc”:
II. Bài văn mẫu Phân tích khổ 8 bài thơ Việt Bắc (Chuẩn)
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạMặt trời chân lí chói qua tim”
(Tố Hữu)
Ánh sáng cách mạng chính là ngọn đuốc chỉ đường giúp cho nhân dân ta tìm thấy độc lập, tự do. Là một nhà thơ trưởng thành từ những cuộc kháng chiến, Tố Hữu đã đem đến cho bạn đọc rất nhiều tác phẩm trữ tình lãng mạn cách mạng với một lòng yêu nước sâu sắc. Trong khổ thơ thứ tám của bài thơ “Việt Bắc”, nhà thơ đã dựng lại bức tranh hiện thực của cuộc kháng chiến chống Pháp với niềm tự hào to lớn.
Tố Hữu (1920 – 2002) là con chim đầu đàn của thơ ca cách mạng Việt Nam, ông đã có những đóng góp và cống hiến lớn cho cách mạng và cho nền văn học nước nhà. Tố Hữu chính là người viết biên niên sử bằng thơ và là nhà thơ trữ tình lãng mạn cách mạng lớn nhất thế kỷ XX. Bài thơ Việt Bắc được sáng tác vào tháng 10 năm 1954 khi chính phủ rời Việt Bắc về tiếp quản thủ đô. Bài thơ được in trong tập thơ cùng tên và được đánh giá là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp. Khổ tám bài thơ chính là không khí sôi nổi, khẩn trương của cuộc kháng chiến chống Pháp được đã được tác giả tái hiện lại vô cùng sinh động bằng chính ngòi bút điêu luyện của mình.
Mở đầu khổ thơ, tác giả khơi gợi lại không khí của cuộc chiến toàn dân, toàn diện với những con đường Việt Bắc của ta:
“Những đường Việt Bắc của taĐêm đêm rầm rập như là đất rung”
Đêm thường là thời gian để con người nghỉ ngơi nhưng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhân dân ta đã sục sôi một lòng chiến đấu vì Tổ quốc. Khí thế dũng mãnh của cuộc kháng chiến trong thời gian “đêm đêm” với tiếng hành quân “rầm rập” được tác giả so sánh “như là đất rung” cho thấy không chí chiến đấu đang diễn ra vô cùng khẩn trương. Tiếng “rầm rập” ấy còn cho thấy sự hùng mạnh của quân dân ta luôn dũng cảm tiến về phía trước. Không khí của cuộc kháng chiến được khơi gợi mang tầm vóc sử thi với những âm hưởng hùng tráng đã khiến cho bài thơ được đánh giá vừa là một bản tình ca lại vừa là một khúc tráng ca.
Tác giả tái hiện lại không khí của cuộc kháng chiến ở sáu câu tiếp theo của khổ thơ thứ tám:
“Quân đi điệp điệp trùng trùngÁnh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.Dân công đỏ đuốc từng đoànBước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.Nghìn đêm thăm thẳm sương dàyĐèn pha bật sáng như ngày mai lên.”
Đêm chính là khoảng thời gian quân dân ta làm chủ cả đất trời, tuy màn đêm đen tối nhưng đó chính là sự khởi đầu cho một cuộc chiến đấu đầy cam go và khốc liệt. Hình ảnh đoàn quân được khắc họa “điệp điệp trùng trùng” cho thấy số lượng đông đảo của một cuộc tổng duyệt “Bốn mươi thế kỉ cùng ra trận”. Con người chính là chủ nhân trên mặt đất, ngước lên trời cao ta lại thấy hình ảnh của “ánh trăng” chiếu sáng mọi nẻo đường. Trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu ta cũng đã bắt gặp hình ảnh “Đầu súng trăng treo” vừa mang ý nghĩa tả thực lại vừa mang ý nghĩa tượng trưng. Trăng không chỉ là bạn của mọi nhà mà trăng còn tượng trưng cho sự hòa bình, cho một tương lai tươi sáng phía trước. Trong cuộc kháng chiến ấy không chỉ có chiến sĩ mà còn có cả bộ đội, dân công, những con người hậu phương được kết hợp lại với nhau tạo nên “Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”. Những bước chân gân guốc, khỏe khoắn đã tạo nên sức mạnh “giẫm nát” quân thù. Mặc dù tác giả miêu tả cảnh đêm tối nhưng cảnh đêm tối trong “Việt Bắc” không phải là một đêm tối mịt mù mà nó luôn được soi sáng bởi ngọn đuốc, bởi ánh trăng, bởi đèn pha. Màn đêm dường như tan biến bởi sự kết hợp giữa ánh sáng của ngọn đuốc, ánh trăng, đèn pha bởi sự kết hợp ấy đã tạo nên thứ ánh sáng sáng như “ngày mai lên”. Từ không khí sôi động của cuộc kháng chiến, nhà thơ đã thể hiện được niềm tin, sự lạc quan cách mạng về ngày mai, cảm hứng ấy được khởi nguồn từ niềm hăng say lãng mạn cách mạng.
Sự quyết tâm của quân dân ta đã tạo nên một chiến thắng vang dội đất trời khi hòa bình được lập lại, miền Bắc được giải phóng. Nhà thơ đã lột tả niềm vui tột cùng ấy qua bốn câu thơ cuối của khổ tám bài thơ “Việt Bắc”:
“Tin vui chiến thắng trăm miềnHoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui vềVui từ Đồng Tháp, An KhêVui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.”
Tin thắng trận vang cả núi rừng, niềm vui của cuộc kháng chiến có sự đan chéo, chất chồng và dồn dập bởi nó là niềm tự hào của con người trong cuộc kháng chiến. Nếu như tám câu thơ đầu của khổ thơ tác giả đã khơi gợi được không khí căng thẳng, khẩn trương của chiến trận thì bốn câu thơ sau, nhà thơ đã mở ra một chân trời hòa bình với niềm vui sôi nổi trăm miền. Niềm vui gắn liền với các địa danh dày đặc như Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê, Việt Bắc, đèo De, núi Hồng. Điệp từ “vui” gắn liền với niềm vui chiến thắng, niềm tự hào trước những chiến công cũng chính là niềm tự hào tác giả trước cuộc kháng chiến thần thánh.
Giọng thơ lãng mạn, mang cảm hứng sử thi, biện pháp tu từ liệt kê là những dụng ý nghệ thuật mà tác giả đã sử dụng trong khổ thơ. Đoạn thơ thực sự là một niềm vui lớn trong kháng chiến, khí thế của cuộc kháng chiến được miêu tả đầy đủ qua lực lượng tham gia chiến đấu, những con đường nối liền giữa các miền đã mang đến một bức tranh hiện thực vô cùng hoành tráng.
Khổ thơ tám của bài thơ “Việt Bắc” khiến cho người đọc như được sống lại trong những năm tháng kháng chiến với khí thế hào hùng, mãnh liệt. Đoạn thơ mang tầm vóc sử thi hoành tráng đã tạo nên một bức tranh lịch sử vô cùng đẹp với sự quyết tâm ra trận, giành chiến thắng của nhân ta.
—————-HẾT—————–
https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-kho-8-bai-tho-viet-bac-69619n.aspx Hy vọng bài Phân tích khổ 8 bài thơ Việt Bắc trên đây sẽ giúp các em nắm chắc được kiến thức về bài thơ Việt Bắc. Ngoài ra, các em có thể tham khảo thêm những bài viết sau để hiểu rõ hơn về phong cách sáng tác của nhà thơ Tố Hữu: Phân tích khổ 3 bài thơ Việt Bắc; Phân tích khổ 5 bài thơ Việt Bắc, Phân tích khổ 4 bài Việt Bắc của Tố Hữu, Phân tích tình cảm của người ra đi trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

#Phân #tích #khổ #bài #thơ #Việt #Bắc


Tổng hợp: Vik News

Vik News

Viknews Việt Nam chuyên chia sẻ những kiến thức hữu ích về hôn nhân – gia đình, làm đẹp, kinh nghiệm làm mẹ, chăm sóc dinh dưỡng khi mang thai kỳ, trước sau sinh, son môi , sữa ong chúa, nhà cửa nội thất (cửa gỗ, đèn chùm trang trí, bàn ăn, tủ bếp..)……

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button