Tài Liệu

Quyết định 3351/QĐ-BYT

Chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 đã được Bộ Y tế ban hành tại Quyết định 3351/QĐ-BYT vào ngày 29/07/2020. Hiệu lực của văn bản luật pháp này sẽ tính từ lúc ngày được ban hành. Sau đây sẽ là nội dung cụ thể của quyết định này, xin mời các bạn cùng tham khảo.

BỘ Y TẾ
_____

Số: 3351/QĐ-BYT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
________________________

Hà Nội, ngày 29 tháng 7 5 2020

QUYẾT ĐỊNH 3351/QĐ-BYT

Về việc ban hành Chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 do chủng vi rút Corona mới (SARS-Cov-2)

___________

BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ

Căn cứ Nghị định số 75/2017/NĐ-CP ngày 20/6/2017 của Chính phủ quy định tính năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;

Theo quan điểm của Hội đồng chuyên môn cập nhật, bổ sung Chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị viêm hô hấp cấp tính do chủng vi rút Corona mới (nCoV) được thành lập tại Quyết định số 319/QĐ-BYt ngày 06/2/2020 của Bộ trưởng;

Theo đề xuất của Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh- Bộ Y tế,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này “Chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 do chủng vi rút Corona mới (SARS-CoV-2)” thay thế “Chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị viêm đường hô hấp cấp do SARS-CoV-2 (COVID-19)” ban hành kèm theo Quyết định số 1344/QĐ-BYT ngày 25/3/2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực tính từ lúc ngày ký, ban hành.

Điều 3. Các Ông/Bà: Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh; Chánh Thanh tra; Tổng Cục trưởng, Cục trưởng, Vụ trưởng các Tổng Cục, Cục, Vụ thuộc Bộ Y tế; Giám đốc các Bệnh viện, Viện có giường bệnh trực thuộc Bộ Y tế; Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thị thành trực thuộc Trung ương; Thủ trưởng y tế các cấp chịu nghĩa vụ thi hành Quyết định này.

Nơi nhận:
– Như điều 3;
– Phó TTgCP. Vũ Đức Đam- Trưởng BCĐQG
Phòng CD COVID-19 (để báo cáo);
– Quyền Bộ trưởng (để báo cáo);
– Các Thứ trưởng (để phối hợp chỉ huy);
– Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (để phối hợp);
– Cổng TTĐT Bộ Y tế; website Cục QLKCB;
– Lưu: VT; KCB.

KT.BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Nguyễn Trường Sơn
Trưởng Tiểu ban điều trị- Ban chỉ huy QG PCD COVID-19

BỘ Y TẾ
_____

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
________________________

HƯỚNG DẪN

Chẩn đoán và điều trị COVID-19 do chủng vi rút Corona mới (SARS-Cov-2)

(Ban hành kèm theo Quyết định số 3351/QĐ-BYT ngày 29 tháng 7 5 2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế)

_________________

I. ĐẠI CƯƠNG

Vi rút Corona (CoV) là 1 họ virút lây nhiễm từ động vật sang người và gây bệnh cho người từ cảm lạnh thông thường tới các trạng thái bệnh nặng, dọa nạt tính mệnh của người bệnh như Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS-CoV) 5 2002 và Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS-CoV) 5 2012. Từ tháng 12 5 2019, 1 chủng vi rút corona mới (SARS-CoV-2) đã được xác định là căn do gây dịch nhiễm trùng hô hấp cấp tính (COVID-19) tại thị thành Vũ Hán (tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc), sau ấy lan rộng ra toàn Trung Quốc và cho đến nay đa phần các nước trên toàn cầu. Ngày 11/3/2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã ban bố COVID-19 là 1 đại dịch thế giới. Chủng SARS-CoV-2 ngoài lây nhiễm từ động vật sang người, còn lây trực tiếp từ người sang người chính yếu qua giọt bắn đường hô hấp và qua đường xúc tiếp. Vi rút cũng có bản lĩnh lây nhiễm qua đường ko khí qua khí dung (aerosol), đặc trưng tại các cơ sở y tế và những nơi đông người và ở ko gian kín. Cho đến nay, lây nhiễm theo đường phân-miệng chưa có chứng cớ rõ ràng.

Người bệnh COVID-19 có bộc lộ lâm sàng nhiều chủng loại: từ nhiễm ko có triệu chứng, đến những bộc lộ bệnh lý nặng như viêm phổi nặng, suy hô hấp, sốc nhiễm trùng, suy tính năng đa cơ quan và tử vong, đặc trưng ở những người cao tuổi, người có bệnh mạn tính hay sút giảm miễn nhiễm với số lượng tế bào TCD4 giảm dưới 250 tế bào/mm3, người có D-Dimer tăng cao hoặc có đồng nhiễm hay bội nhiễm các căn do khác như vi khuẩn, nấm.

Hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng COVID-19 nên chính yếu là điều trị phân phối và điều trị triệu chứng. Các giải pháp phòng bệnh chính là phát hiện sớm và cách ly ca bệnh.

II. CHẨN ĐOÁN

1. Khái niệm ca bệnh

1.1. Trường hợp bệnh nghi ngại

Bao gồm các trường hợp:

A. Người bệnh có sốt và/hoặc viêm đường hô hấp cấp tính ko lý giải được bằng các nguyên cớ khác.

B. Người bệnh có bất cứ triệu chứng hô hấp nào VÀ có tiền sử tới/qua/ở/về từ vùng dịch tễ* có bệnh COVID-19 trong vòng 14 ngày trước lúc phát khởi các triệu chứng HOẶC xúc tiếp gần (**) với trường hợp bệnh nghi ngại hoặc xác định COVID-19 trong vòng 14 ngày trước lúc phát khởi các triệu chứng.

* Vùng dịch tễ: được xác định là những non sông, vùng bờ cõi có ghi nhận ca mắc COVID-19 lây nhiễm nội địa, hoặc nơi có ổ dịch đang hoạt động tại Việt Nam theo “Chỉ dẫn tạm bợ giám sát và phòng, chống COVID-19” của Bộ Y tế và được cập nhật bởi Cục Y tế ngừa.

** Tiếp xúc gần: bao gồm

– Tiếp xúc tại các cơ sở y tế, bao gồm: trực tiếp người bệnh COVID-19; làm việc cộng với viên chức y tế mắc COVID-19; đến thăm người bệnh hoặc ở cùng phòng bệnh có người bệnh mắc COVID-19.

– Tiếp xúc trực tiếp trong vòng cách ≤ 2 mét với trường hợp bệnh nghi ngại hoặc xác định mắc COVID-19 trong giai đoạn mắc bệnh.

– Sống cùng nhà với trường hợp bệnh nghi ngại hoặc xác định mắc COVID-19 trong giai đoạn mắc bệnh.

– Cùng nhóm làm việc hoặc cùng phòng làm việc với ca bệnh xác định hoặc ca bệnh nghi ngại trong giai đoạn mắc bệnh.

– Cùng nhóm: du hý, công việc, vui chơi, buổi liên hoan, cuộc họp … với ca bệnh xác định hoặc ca bệnh nghi ngại trong giai đoạn mắc bệnh.

– Di chuyển trên cùng công cụ (ngồi cùng hàng, trước hoặc sau 2 hàng ghế) với trường hợp bệnh nghi ngại hoặc xác định mắc COVID-19 trong giai đoạn mắc bệnh.

1.2. Trường hợp bệnh xác định

Là trường hợp bệnh nghi ngại hoặc bất kỳ ai có xét nghiệm dương tính với vi rút SARS-CoV-2 được tiến hành bởi các cơ sở xét nghiệm do Bộ Y tế cho phép khẳng định.

III. TRIỆU CHỨNG

1. Lâm sàng

– Thời gian ủ bệnh: từ 2-14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày.

– Khởi phát: Triệu chứng hay gặp là sốt, ho khan, mỏi mệt và đau cơ. 1 số trường hợp đau họng, nghẹt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, ho có đờm, nôn và đi tả.

– Diễn biến:

+ Đa phần người bệnh (khoảng hơn 80%) chỉ sốt nhẹ, ho, mỏi mệt, ko bị viêm phổi và thường tự bình phục sau khoảng 1 tuần. Tuy nhiên 1 số trường hợp ko có bộc lộ triệu chứng lâm sàng nào.

+ Khoảng 14% số bệnh nhân diễn biến nặng như viêm phổi, viêm phổi nặng cần nhập viện, khoảng 5% cần điều trị tại các đơn vị hồi sức hăng hái với các bộc lộ hô hấp cấp (thở nhanh, không thở được, tím tái, …), hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS), sốc nhiễm trùng, suy tính năng các cơ quan bao gồm thương tổn thận và thương tổn cơ tim, dẫn tới tử vong.

+ Thời gian trung bình bắt đầu từ có triệu chứng ban sơ đến lúc diễn biến nặng thường khoảng 7-8 ngày.

+ Tử vong xảy ra nhiều hơn ở người cao tuổi, người sút giảm miễn nhiễm và mắc các bệnh mạn tính kèm theo. Ở người béo, các nhân tố tiên đoán tăng nguy cơ tử vong là tuổi cao, điểm suy đa tạng SOFA cao lúc nhập viện và nồng độ D-dimer > 1 μg/L.

– Thời kỳ bình phục: Sau quá trình toàn phát 7-10 ngày, nếu ko có ARDS bệnh nhân sẽ hết sốt các tín hiệu lâm sàng dần quay về phổ biến và khỏi bệnh.

– Chưa có chứng cớ dị biệt về các bộc lộ lâm sàng của COVID-19 ở nữ giới mang thai.

– Ở trẻ con, đa phần trẻ mắc Covid-19 có các các bộc lộ lâm sàng nhẹ hơn người béo, hoặc ko có triệu chứng. Các tín hiệu thường gặp ở trẻ con là sốt và ho, hoặc các bộc lộ viêm phổi. Tuy nhiên 1 số trẻ mắc Covid-19 có thương tổn viêm đa cơ quan gần giống bệnh Kawasaski: sốt; ban đỏ hoặc xung huyết giác mạc, hoặc phù nề niêm mạc mồm, bàn tay, chân; suy tuần hoàn; các bộc lộ thương tổn tính năng tim và tăng men tim; rối loạn tiêu hóa; rối loạn đông máu và tăng các chỉ số viêm cấp.

2. Xét nghiệm cận lâm sàng

Các xét nghiệm huyết học, sinh hóa máu chỉnh sửa ko đặc hiệu:

– Số lượng bạch huyết cầu trong máu có thể phổ biến hoặc giảm; số lượng bạch huyết cầu lympho thường giảm, đặc trưng nhóm diễn biến nặng.

– Protein C phản ứng (CRP) phổ biến hoặc tăng, procalcitonin (PCT) thường phổ biến hoặc tăng nhẹ. 1 số trường hợp có thể tăng nhẹ ALT, AST, CK, LDH.

– Trong các trường hợp diễn biến nặng có các bộc lộ suy tính năng các cơ quan, rối loạn đông máu, tăng D-dimer, rối loạn điện giải và toan kiềm.

3. X-quang và chụp cắt lớp (CT) phổi

– Ở quá trình sớm hoặc chỉ viêm đường hô hấp trên, hình ảnh X-quang phổ biến.

– Khi có viêm phổi, thương tổn thường ở 2 bên với tín hiệu viêm phổi kẽ hoặc đám mờ (hoặc kính mờ) lan tỏa, ở ngoại vi hay thùy dưới. Thương tổn có thể tiến triển nhanh trong ARDS. Ít lúc gặp tín hiệu tạo hang hay tràn dịch, tràn khí màng phổi.

4. Xét nghiệm khẳng định căn do

– Phát hiện SARS-CoV-2 bằng kỹ thuật real-time RT-PCR hoặc giải trình tự gene từ các mẫu bệnh phẩm.

IV. PHÂN LOẠI CÁC THỂ LÂM SÀNG

Bệnh COVID-19 có các thể bệnh trên lâm sàng như sau:

1. Thể ko triệu chứng: là người nhiễm SARS-CoV-2 được khẳng định bằng xét nghiệm realtime RT-PCR dương tính, nhưng mà ko có triệu chứng lâm sàng.

2. Chừng độ nhẹ: Viêm đường hô hấp trên cấp tính

– Người bệnh nhiễm SARS-CoV-2 có các triệu chứng lâm sàng ko đặc hiệu như như sốt, ho khan, đau họng, nghẹt mũi, mỏi mệt, đau đầu, đau mỏi cơ.

– Không có các tín hiệu của viêm phổi hoặc thiếu ô xy.

3. Chừng độ vừa: Viêm phổi

– Người béo và trẻ béo: bị viêm phổi (sốt, ho, không thở được, thở nhanh) và ko có tín hiệu viêm phổi nặng, SpO2 ≥ 90% lúc thở khí trời.

– Trẻ bé: trẻ có ho hoặc không thở được và thở nhanh. Thở nhanh được xác định lúc nhịp thở ≥ 60 lần/phút ở trẻ dưới 2 tháng; ≥ 50 lần/phút ở trẻ từ 2 – 11 tháng; ≥ 40 lần/phút ở trẻ từ 1 – 5 tuổi) và ko có các tín hiệu của viêm phổi nặng.

– Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, bên cạnh đó, hình ảnh X-quang, siêu âm hoặc CT phổi thấy hình ảnh viêm phổi kẽ hoặc phát hiện các biến chứng.

4. Chừng độ nặng- Viêm phổi nặng

– Người béo và trẻ béo: sốt hoặc nghi ngại nhiễm trùng hô hấp, kèm theo bất cứ 1 tín hiệu sau: nhịp thở > 30 lần/phút, không thở được nặng, hoặc SpO2 ≤ 93% lúc thở khí phòng.

– Trẻ bé: ho hoặc không thở được và có chí ít 1 trong các tín hiệu sau đây: Tím tái hoặc SpO2 < 90%; suy hô hấp nặng (thở rên, rút lõm lồng ngực);

+ Hoặc trẻ được chẩn đoán viêm phổi và có bất cứ tín hiệu nặng sau: chẳng thể uống/bú được; rối loạn tinh thần (li bì hoặc hôn mê); co giật. Có thể có các tín hiệu khác của viêm phổi như rút lõm lồng ngực, thở nhanh (tần số thở/phút như trên).

– Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, chụp X-quang phổi để xác định các biến chứng.

5. Chừng độ nguy nan

5.1. Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS)

– Khởi phát: các triệu chứng hô hấp mới hoặc xấu đi trong khoảng 1 tuần tính từ lúc lúc có các triệu chứng lâm sàng.

– X-quang, CT scan hoặc siêu âm phổi: hình ảnh mờ 2 phế trường nhưng mà chẳng hề do tràn dịch màng phổi, xẹp thùy phổi hoặc các nốt ở phổi.

– Nguồn gốc của phù phổi chẳng hề do suy tim hoặc quá tải dịch. Cần bình chọn khách quan (siêu âm tim) để loại bỏ phù phổi do sức ép thủy tĩnh nếu ko thấy các nhân tố nguy cơ.

– Thiếu ô xy máu: ở người béo, phân loại dựa vào chỉ số PaO2/FiO2 (P/F) và SpO2/FiO2 (S/F) lúc ko có kết quả PaO2:

+ ARDS nhẹ: 200 mmHg < P/F ≤300 mmHg với PEEP hoặc CPAP ≥5 centimet H2O.

+ ARDS vừa: 100 mmHg <P/F ≤200 mmHg với PEEP ≥5 cmH2O).

+ ARDS nặng: P/F ≤100 mmHg với PEEP ≥ 5 cmH2O

+ Khi ko có PaO2: S/F ≤315 gợi ý ARDS (kể cả những người bệnh ko thở máy)

– Thiếu ô xy máu: ở trẻ con: dựa vào các chỉ số OI (chỉ số Oxygen hóa: OI = MAP* × FiO2 × 100 / PaO2) (MAP*: sức ép đường thở trung bình) hoặc OSI (chỉ số Oxygen hóa sử dụng SpO2: OSI = MAP × FiO2 × 100 / SpO2) cho người bệnh thở máy thâm nhập, và PaO2/FiO2 hay SpO2/FiO2 cho thở CPAP hay thở máy ko thâm nhập (NIV):

+ NIV BiLevel hoặc CPAP ≥5 cmH2O qua mặt nạ: PaO2/FiO2≤ 300 mmHg hoặc SpO2/FiO2 ≤ 264

+ ARDS nhẹ (thở máy thâm nhập): 4 ≤OI<8 hoặc 5≤OSI<7,5

+ ARDS vừa (thở máy thâm nhập): 8 ≤OI<16 hoặc 7,5≤OSI<12,3

+ ARDS nặng (thở máy thâm nhập): OI ≥16 hoặc OSI ≥12,3

5.2. Nhiễm trùng huyết (sepsis)

– Người béo: có tín hiệu rối loạn tính năng các cơ quan:

+ Thay đổi tinh thần: ngủ gà, tơ mơ, hôn mê

+ Khó thở hoặc thở nhanh, độ bão hòa ô xy thấp

+ Nhịp tim nhanh, mạch bắt yếu, chi lạnh, hoặc hạ huyết áp, da nổi vân tím

+ Thiểu niệu hoặc vô niệu

+ Xét nghiệm có rối loạn đông máu, giảm tiểu cầu, nhiễm toan, tăng lactate, tăng bilirubine…

– Trẻ em: lúc nghi ngại hoặc khẳng định do nhiễm trùng và có chí ít 2 tiêu chuẩn của hội chứng phục vụ viêm hệ thống (SIRS) và 1 trong số ấy phải là chỉnh sửa thân nhiệt hoặc số lượng bạch huyết cầu thất thường.

5.3. Sốc nhiễm trùng

– Người béo: hạ huyết áp kéo dài mặc dầu đã hồi sức dịch, phải sử dụng thuốc vận mạch để duy trì huyết áp động mạch trung bình (MAP) ≥65 mmHg và nồng độ lactate huyết thanh >2 mmol/L.

– Trẻ em: sốc nhiễm trùng xác định lúc có:

+ Bất cứ trạng thái hạ huyết áp nào: lúc huyết áp tâm thu < 5 bách phân vị hoặc > 2SD dưới ngưỡng phổ biến theo thế hệ, hoặc (trẻ <1 tuổi: < 70 mmHg; trẻ từ 1-10 tuổi: < 70 + 2 x tuổi; trẻ > 10 tuổi: <90 mmHg).

+ Hoặc có bất cứ 2-3 tín hiệu sau: chỉnh sửa tinh thần, nhịp tim nhanh hoặc chậm (< 90 nhịp/phút hoặc >160 nhịp/phút ở trẻ nhũ nhi, và <70 nhịp/phút hoặc >150 nhịp/phút ở trẻ bé); thời kì làm đầy mao quản kéo dài (>2 giây); hoặc giãn mạch ấm/mạch nẩy; thở nhanh; da nổi vân tím hoặc có chấm xuất huyết hoặc ban xuất huyết; tăng nồng độ lactate; thiểu niệu; tăng hoặc hạ thân nhiệt.

5.4. Các biến chứng nặng- nguy nan khác: nhồi máu phổi, đột quỵ, sảng. Cần theo dõi sát và vận dụng các giải pháp chẩn đoán xác định lúc nghi ngại và có giải pháp điều trị thích hợp.

V. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

– Cần chẩn đoán phân biệt viêm đường hô hấp cấp do SARS-CoV-2 (COVID-19) với viêm đường hô hấp cấp do các tác nhân hay gặp khác, bao gồm cả các tác nhân gây dịch bệnh nặng đã biết:

+ Vi rút cúm mùa (A/H3N2, A/H1N1, B), vi rút á cúm, vi rút hợp bào hô hấp (RSV), rhinovirus, myxovirrus, adenovirus.

+ Hội chứng cảm cúm do các chủng coronavirus thông thường.

+ Các căn do khuẩn vi khuẩn hay gặp, bao gồm các các vi khuẩn ko điển chừng như Mycoplasma pneumonia etc.

+ Các căn do khác có thể gây viêm đường hô hấp cấp tính nặng như cúm gia cầm A/H5N1, A/H7N9, A/H5N6, SARS-CoV, và MERS-CoV.

– Cần chẩn đoán phân biệt các trạng thái nặng của người bệnh (suy hô hấp, suy tính năng các cơ quan…) do các căn do khác hoặc do trạng thái nặng của các bệnh lý kinh niên kèm theo.

VI. XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN, GIÁM SÁT VÀ BÁO CÁO CA BỆNH

– Các trường hợp bệnh nghi ngại, cần làm xét nghiệm khẳng định nhiễm SARS-CoV-2.

– Lấy dịch đường hô hấp trên (dịch hầu họng & mũi họng) để xét nghiệm xác định vi rút bằng kỹ thuật realtime RT- PCR.

– Khi mẫu bệnh phẩm dịch đường hô hấp trên âm tính nhưng mà vẫn nghi ngại về lâm sàng, cần lấy dịch đường hô hấp dưới (đờm, dịch hút phế quản, dịch rửa phế nang).

– Nếu người bệnh thở máy có thể chỉ cần lấy dịch đường hô hấp dưới.

– Không khuyến cáo sử dụng các xét nghiệm phát hiện kháng thể kháng SARS-CoV-2 để chẩn đoán đang mắc COVID-19.

– Những trường hợp bệnh nghi ngại, kể cả ở những trường hợp đã xác định được tác nhân thông thường khác, cần làm xét nghiệm khẳng định để xác định SARS-CoV-2 chí ít 1 lần.

– Cấy máu nếu nghi ngại hoặc có nhiễm trùng huyết, nên cấy máu trước lúc dùng kháng sinh. Cần xét nghiệm các căn do vi khuẩn, vi rút khác nếu có các tín hiệu lâm sàng nghi ngại.

– Cần tiến hành đầy đủ các xét nghiệm cận lâm sàng và dò hỏi thường quy tùy từng trạng thái người bệnh để chẩn đoán, tiên đoán và theo dõi người bệnh.

– Trường hợp xác định mắc COVID-19, cần lấy mẫu bệnh phẩm dịch hô hấp và xét nghiệm nhắc lại với khoảng cách mỗi 2-4 ngày hoặc ngắn hơn nếu cần phải có cho đến lúc kết quả âm tính.

– Những trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 cần báo cáo Bộ Y tế hoặc CDC địa phương.

– Xác định về mặt dịch tễ học liên can tới các trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 như: nơi sinh sống, nơi làm việc, chuyển di, lập danh sách những người đã xúc tiếp trực tiếp, tuân thủ theo chỉ dẫn giám sát và phòng, chống COVID-19 của Bộ Y tế.

VII. CÁC BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM TỨC THÌ

Phòng ngừa lây truyền là 1 bước quan trọng trong chẩn đoán và điều trị người bệnh mắc COVID-19, bởi vậy cần được tiến hành ngay lúc người bệnh đến nơi đón tiếp ở các cơ sở y tế. Các giải pháp ngừa chuẩn phải được vận dụng ở tất cả các khu vực trong cơ sở y tế.

1. Tại khu vực chắt lọc & phân loại bệnh nhân.

– Cho người bệnh nghi ngại đeo khẩu trang và chỉ dẫn đến khu vực cách ly.

– Đảm bảo khoảng cách giữa các người bệnh ≥ 2 mét.

– Chỉ dẫn người bệnh che mũi mồm lúc ho, hắt xì và rửa tay ngay sau lúc xúc tiếp dịch hô hấp.

2. Vận dụng các giải pháp ngừa giọt bắn.

– Cần đeo khẩu trang y tế nếu làm việc trong vòng cách 2m với người bệnh.

– Dành đầu tiên cách ly người bệnh nghi ngại ở phòng riêng, hoặc sắp đặt nhóm người bệnh cùng căn do trong 1 phòng. Nếu ko xác định được căn do, xếp người bệnh có chung các triệu chứng lâm sàng và nhân tố dịch tễ. Phòng bệnh cần được đảm bảo thông thoáng.

– Khi gần người bệnh có triệu chứng hô hấp (ho, hắt xì) cần sử dụng phương tiện bảo vệ mắt.

– Giảm thiểu người bệnh vận động trong cơ sở y tế và người bệnh phải đeo khẩu trang lúc ra khỏi phòng.

3. Vận dụng các giải pháp ngừa xúc tiếp.

– Nhân viên y tế phải sử dụng các trang thiết bị bảo vệ tư nhân (khẩu trang y tế, kính bảo vệ mắt, bít tất tay, áo choàng) lúc vào phòng bệnh và cởi bỏ lúc ra khỏi phòng và tránh đưa tay bẩn lên mắt, mũi, mồm.

– Vệ sinh và khử trùng các phương tiện (ống nghe, nhiệt biểu) trước lúc sử dụng cho mỗi người bệnh.

– Tránh làm nhiễm bẩn các bề mặt môi trường bao quanh như cửa phòng, công tắc đèn, quạt…

– Bảo đảm phòng bệnh thoáng khí, mở các cửa sổ phòng bệnh (nếu có).

– Giảm thiểu vận động người bệnh

– Vệ sinh tay

4. Vận dụng các giải pháp ngừa lây nhiễm qua đường ko khí.

– Các viên chức y tế lúc khám, người bệnh đã xác định chẩn đoán, hoặc/và làm các thủ thuật như đặt ống nội khí quản, hút đường hô hấp, soi phế quản, cấp cứu tim phổi… phải sử dụng các thiết bị bảo vệ tư nhân bao gồm đeo bít tất tay, áo choàng, bảo vệ mắt, khẩu trang N95 hoặc tương đương.

– Nếu có thể, tiến hành thủ thuật ở phòng riêng, hoặc phòng sức ép âm.

– Giảm thiểu người không phù hợp ở trong phòng lúc làm thủ thuật

VIII. ĐIỀU TRỊ

1. Nguyên tắc điều trị chung

– Phân loại người bệnh và xác định nơi điều trị theo các chừng độ nghiêm trọng của bệnh:

+ Các trường hợp bệnh nghi ngại (có thể xem như trạng thái cấp cứu): cần được khám, theo dõi và cách ly ở khu riêng tại các cơ sở y tế, lấy bệnh phẩm đúng cách để làm xét nghiệm đặc hiệu chẩn đoán xác định.

+ Trường hợp bệnh xác định cần được theo dõi và điều trị cách ly hoàn toàn.

+ Ca bệnh nhẹ (viêm đường hô hấp trên, viêm phổi nhẹ) điều trị tại các khoa phòng thông thường.

+ Ca bệnh nặng (viêm phổi nặng, nhiễm trùng huyết) cần được điều trị tại các phòng cấp cứu của các khoa phòng hoặc hồi sức hăng hái.

+ Ca bệnh nặng-nguy kịch: (suy hô hấp nặng, ARDS, sốc nhiễm trùng, suy đa cơ quan) cần được điều trị hồi sức hăng hái.

– Do chưa có thuốc đặc hiệu, điều trị phân phối và điều trị triệu chứng là chính yếu.

– Cá thể hóa các giải pháp điều trị cho từng trường hợp, đặc trưng là các ca bệnh nặng-nguy kịch.

– Có thể vận dụng 1 số phác đồ điều trị nghiên cứu được Bộ Y tế cho phép. bệnh.

– Theo dõi, phát hiện và xử trí kịp thời các trạng thái nặng, biến chứng của bệnh.

2. Các giải pháp theo dõi và điều trị chung

– Nghỉ ngơi tại giường, phòng bệnh cần được bảo đảm thông thoáng, có thể sử dụng hệ thống lọc ko khí hoặc các giải pháp tiệt trùng phòng bệnh khác như đèn cực tím (nếu có).

– Vệ sinh mũi họng, có thể giữ ẩm mũi bằng bé dung dịch nước muối sinh lý, xúc mồm họng bằng các dung dịch vệ sinh mồm họng thông thường.

– Giữ ấm

– Uống đủ nước, bảo đảm thăng bằng dịch, điện giải.

– Thận trọng lúc truyền dịch cho người bệnh viêm phổi nhưng mà ko có tín hiệu của sốc.

– Bảo đảm dinh dưỡng và tăng lên thể trạng, bổ xung vitamin nếu cần phải có. Với các người bệnh nặng – nguy nan, vận dụng chỉ dẫn dinh dưỡng của Hội Hồi sức cấp cứu và chống độc đã ban hành.

– Hạ sốt nếu sốt cao, có thể dùng paracetamol liều 10-15 mg/kg/lần, ko quá 60 mg/kg/ngày cho trẻ con và ko quá 2 gam/ngày với người béo.

– Giảm ho bằng các thuốc giảm ho thông thường nếu cần phải có.

– Bình chọn, điều trị, tiên đoán các trạng thái bệnh lý kinh niên kèm theo (nếu có).

– Tham mưu, phân phối tâm lý, cổ vũ người bệnh.

– Theo dõi chặt chẽ các tín hiệu lâm sàng, tiến triển của thương tổn phổi trên phim X-quang và/hoặc CT phổi, đặc trưng trong vòng ngày thứ 7-10 của bệnh, phát hiện các tín hiệu tiến triển nặng của bệnh như suy hô hấp, suy tuần hoàn để có các giải pháp can thiệp kịp thời.

– Tại các cơ sở điều trị cần có các trang thiết bị, phương tiện cấp cứu tối thiểu: máy theo dõi độ bão hòa ô xy, hệ thống/bình cung ứng ô xy, thiết bị thở ô xy (gọng mũi, mask thông thường, mask có túi dự trữ), bóng, mặt nạ, và phương tiện đặt ống nội khí quản thích hợp các thế hệ.

3. Điều trị suy hô hấp

3.1. Liệu pháp ô xy và theo dõi

– Cần cho thở ô xy ngay với bệnh nhân viêm đường hô hấp cấp nặng có suy hô hấp, thiếu ô xy máu, sốc để đạt đích SpO2 > 94%.

– Ở người béo nếu có các tín hiệu cấp cứu (gắng công nặng, rút lõm lồng ngực, tím tái, giảm thông khí phổi) cần làm thông thoáng đường thở và cho thở ô xy ngay để đạt đích SpO2 ≥ 94 % trong giai đoạn hồi sức. Cho thở ô xy qua gọng mũi (1-4 lít/phút), hoặc mask thông thường, hoặc mask có túi dự trữ, với lưu lượng ban sơ là 5 lít/phút và nâng cao đến 10-15 lít/phút nếu cần. Khi bệnh nhân bất biến hơn, điều chỉnh để đạt đích SpO2 ≥ 90 % cho người béo, và SpO2 ≥ 92-95% cho nữ giới mang thai.

– Với trẻ con, nếu trẻ có các tín hiệu cấp cứu như không thở được nặng, tím tái, sốc, hôn mê, co giật…, cần cung ứng ô xy trong giai đoạn cấp cứu để đạt đích SpO2 ≥ 94%. Khi trạng thái trẻ bất biến, điều chỉnh để đạt đích SpO2 ≥ 90 %.

– Theo dõi sát trạng thái người bệnh để phát hiện các tín hiệu nặng, thất bại với liệu pháp thở ô xy để có can thiệp kịp thời.

3.2. Điều trị suy hô hấp nguy nan & ARDS

– Khi trạng thái giảm ô xy máu ko được cải thiện bằng các giải pháp thở ô xy, SpO2 ≤ 92%, hoặc/và gắng công hô hấp: có thể cân nhắc chỉ định thở thở ô xy dòng cao qua gọng mũi (High Flow Nasal Oxygen), CPAP, hoặc thở máy ko thâm nhập BiPAP.

– Không vận dụng giải pháp thở máy ko thâm nhập ở người bệnh có rối loạn huyết động, suy tính năng đa cơ quan, và rối loạn tinh thần.

– Cần theo dõi chặt chẽ người bệnh để phát hiện các tín hiệu thất bại để có can thiệp kịp thời. Nếu trạng thái thiếu ô xy ko cải thiện với các giải pháp phân phối hô hấp ko thâm nhập, cần đặt ống nội khí quản và thở máy thâm nhập.

– Cần đặt ống nội khí quản bởi người có kinh nghiệm, vận dụng các giải pháp ngừa lây truyền qua ko khí lúc đặt ống nội khí quản.

– Cung cấp hô hấp: vận dụng phác đồ phân phối hô hấp trong ARDS cho người béo và trẻ con. Chú ý các điểm sau:

+ Thở máy: vận dụng chiến lược thở máy bảo vệ phổi, với thể tích khí lưu thông thấp (4-8 ml/kg trọng lượng lý tưởng) và sức ép thì thở vào thấp (giữ sức ép cao nguyên hay Pplateau < 30 cmH2O, ở trẻ con, giữ Pplateau < 28 cmH2O). Thể tích khí lưu thông ban sơ 6 ml/kg, điều chỉnh theo sự phục vụ của người bệnh và theo tiêu chí điều trị.

+ Chấp nhận tăng CO2, giữ đích pH ≥ 7.20.

+ Trường hợp ARDS nặng ở người béo, cân nhắc vận dụng thở máy ở tư thế nằm sấp 12-16 giờ/ngày (nếu có thể).

+ Có thể vận dụng chiến lược PEEP cao cho ARDS vừa và nặng. Tùy theo độ co giãn (compliance) của phổi để setup PEEP thích hợp.

+ Tránh ngắt kết nối người bệnh khỏi máy thở dẫn đến mất PEEP và xẹp phổi. Nên sử dụng hệ thống hút nội khí quản kín.

+ Ở trẻ con và trẻ lọt lòng, có thể thở máy cao tần (HFOV-High Frequency Oscillatory Ventilation) sớm (nếu có), hoặc lúc thất bại với thở máy thông thường. Không sử dụng HFOV cho người béo.

+ Cần bảo đảm an thần, giảm đau phù hợp lúc thở máy. Trong trường hợp ARDS vừa- nặng, có thể dùng thuốc giãn cơ, nhưng mà ko nên dùng thường quy.

– Kiểm soát thăng bằng dịch chặt chẽ, tránh quá tải dịch, đặc trưng ngoài quá trình bù dịch hồi sức tuần hoàn.

– Trường hợp thiếu ô xy nặng, dằng dai, thất bại với các giải pháp điều trị thông thường, cân nhắc chỉ định và sử dụng các kỹ thuật bàn bạc ô xy qua màng ngoài thân thể (ECMO) cho từng trường hợp chi tiết và tiến hành ở những nơi có đủ điều kiện khai triển kỹ thuật này.

– Do ECMO chỉ có thể tiến hành được ở 1 số cơ sở y tế béo, nên trong trường hợp cân nhắc chỉ định ECMO, các cơ sở cần liên hệ, chuyển vận người bệnh sớm và tuân thủ thứ tự chuyển vận người bệnh do Bộ Y tế quy định.

4. Điều trị sốc nhiễm trùng

Vận dụng phác đồ điều trị sốc nhiễm trùng cho người béo và trẻ con. Chú ý 1 số điểm sau:

4.1. Hồi sức dịch

– Sử dụng dịch tinh thể đẳng trương như nước muối sinh lý hay Ringer lactat. Tránh dùng các dung dịch tinh thể nhược trương, dung dịch Haes-steril, Gelatin để hồi sức dịch.

– Liều lượng:

+ Người béo: truyền nhanh 250-500 ml, trong 15-30 phút đầu, bình chọn các tín hiệu quá tải dịch sau mỗi lần bù dịch nhanh.

+ Trẻ em: 10-20 ml/kg, truyền tĩnh mạch nhanh trong 30-60 phút đầu, nhắc lại nếu cần phải có, bình chọn các tín hiệu quá tải dịch sau mỗi lần bù dịch nhanh.

– Cần theo dõi sát các tín hiệu của quá tải dịch khi mà hồi sức dịch như suy hô hấp nặng hơn, gan mập, nhịp tim nhanh, tĩnh mạch cổ nổi, phổi có ran ẩm, phù phổi…nếu hiện ra, cần giảm hoặc ngừng truyền dịch.

– Theo dõi các tín hiệu cải thiện tưới máu: huyết áp trung bình > 65 mgHg cho người béo và theo thế hệ ở trẻ con; lượng nước giải (>0.5 ml/kg/giờ cho người béo, và >1 ml/kg/giờ cho trẻ con), cải thiện thời kì làm đầy mao quản, màu sắc da, trạng thái tinh thần, và nồng độ lactat trong máu.

4.2. Thuốc vận mạch

Nếu trạng thái huyết động, tưới máu ko cải thiện, cần cho thuốc vận mạch sớm.

– Người béo: nor-adrenaline là chọn lọc ban sơ, điều chỉnh liều để đạt đích huyết áp động mạch trung bình (MAP) ≥ 65 mmHg và cải thiện tưới máu. Nếu trạng thái huyết áp và tưới máu ko cải thiện hoặc có rối loạn tính năng tim dù đã đạt được đích MAP với dịch truyền và thuốc co mạch, có thể cho thêm dobutamine.

– Trẻ em: adrenaline là chọn lọc ban sơ, có thể cho dopamin, hoặc dobutamine. Trong trường hợp sốc giãn mạch (sức ép mạch hay chênh lệch huyết áp tối đa và tối thiểu >40 mmHg), cân nhắc cho thêm nor-adrenaline. Điều chỉnh liều thuốc vận mạch để đạt đích MAP > 50th bách phân vị theo thế hệ.

– Sử dụng đường truyền tĩnh mạch trung tâm để truyền các thuốc vận mạch. Nếu ko có đường truyền tĩnh mạch trung tâm, có thể dùng đường truyền tĩnh mạch ngoại biên hoặc truyền trong xương. Theo dõi các tín hiệu vỡ mạch và hoại tử.

– Có thể sử dụng các giải pháp dò hỏi huyết động thâm nhập hoặc ko thâm nhập tùy điều kiện tại mỗi cơ sở để bình chọn và theo dõi trạng thái huyết động để điều chỉnh dịch và các thuốc vận mạch theo trạng thái người bệnh.

4.3. Cấy máu và thuốc kháng sinh phổ rộng theo kinh nghiệm sớm trong khoảng 1 giờ xác định sốc nhiễm trùng.

4.4. Kiểm soát đường máu, (giữ nồng độ đường máu từ 8-10 mmol/L), can xi máu, albumin máu, (truyền albumin lúc nồng độ albumin < 30 g/L, giữ albumin máu ≥ 35 g/L).

4.5. Trường hợp có các nhân tố nguy cơ suy thượng thận cấp, hoặc sốc lệ thuộc catecholamine: có thể cho hydrocorticone liều thấp: Người béo hydrocortisone 50 mg tiêm tĩnh mạch mỗi 6 giờ; trẻ con 2 mg/kg/liều trước nhất, sau ấy 0,5-1,0 mg/kg mỗi 6 giờ.

4.6. Truyền khối hồng huyết cầu lúc cần, giữ nồng độ huyết sắc tố ≥ 10 g/dl.

5. Điều trị phân phối tính năng các cơ quan

Tùy từng trạng thái chi tiết của mỗi người bệnh để có các giải pháp phân phối phù hợp.

– Cung cấp tính năng thận:

+ Bảo đảm huyết động, thăng bằng nước và điện giải, thuốc lợi tiểu lúc cần phải có.

+ Nếu trạng thái suy thận nặng, suy tính năng đa cơ quan và/hoặc có quá tải dịch, chỉ định vận dụng các giải pháp thận thay thế như lọc máu liên tiếp, lọc máu gián đoạn, hoặc thẩm phân phúc mạc tùy điều kiện của cơ sở điều trị.

– Cung cấp tính năng gan: nếu có suy gan

– Điều chỉnh rối loạn đông máu: truyền tiểu cầu, plasma tươi, các nhân tố đông máu nếu cần phải có. Nếu D-dimer tăng từ 500- 1000 µg/L, sử dụng enoxaparine liều ngừa; Nếu D-dimer tăng trên 1000 µg/L, dùng enoxaparine liều điều trị.

6. Các giải pháp điều trị khác

6.1. Thuốc kháng sinh

– Không sử dụng thuốc kháng sinh thường quy cho các trường hợp viêm đường hô hấp trên thuần tuý.

– Với các trường hợp viêm phổi, cấy máu và cấy đờm tìm vi khuẩn và cân nhắc sử dụng kháng sinh phù hợp theo kinh nghiệm có tính năng với các tác nhân vi khuẩn có thể đồng nhiễm gây viêm phổi, (tùy theo thế hệ, dịch tễ, để gợi ý căn do). Điều chỉnh kháng sinh phù hợp theo kháng sinh đồ lúc có kết quả phân lập vi khuẩn.

– Nếu có trạng thái nhiễm trùng huyết, cần cho kháng sinh phổ rộng theo kinh nghiệm sớm, trong khoảng 1 giờ bắt đầu từ xác định nhiễm trùng huyết. Điều chỉnh kháng sinh phù hợp lúc có kết quả vi khuẩn và kháng sinh đồ.

– Các trường hợp nhiễm trùng thứ phát, tùy theo căn do, đặc điểm dịch tễ, kháng kháng sinh để chọn lọc kháng sinh phù hợp.

6.2. Thuốc kháng vi rút

Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho SARS-CoV-2 và chứng cớ về hiệu quả, tính an toàn của các thuốc kháng vi rút ức chế sao chép ngược (Antiretroviral hay ARV) và các thuốc kháng vi rút khác (như Chloroquine/Hydroxychloroquine, Remdesivir, Ribavirin). (Bộ Y tế sẽ đưa ra khuyến cáo sau lúc phê chuẩn kết quả các thí điểm lâm sàng của toàn cầu và Việt Nam).

6.3. Corticosteroids toàn thân

– Không sử dụng các thuốc corticosteroids toàn thân thường quy cho viêm đường hô hấp trên hoặc viêm phổi do vi rút trừ lúc có những chỉ định khác.

– Các trường hợp sốc nhiễm trùng, sử dụng hydrocortisone liều thấp nếu có chỉ định (xem phần điều trị sốc nhiễm trùng).

– Tùy theo tiến triển lâm sàng và hình ảnh X-quang phổi của từng trường hợp viêm phổi nặng, có thể sử dụng Dexamethasone chỉ mất khoảng 5-10 ngày.

6.4. Lọc máu ngoài thân thể

Các trường hợp ARDS nặng và/hoặc sốc nhiễm trùng nặng ko phục vụ hoặc phục vụ kém với các giải pháp điều trị thường. Cân nhắc sử dụng các giải pháp lọc máu liên tiếp ngoài thân thể bằng các loại quả lọc có bản lĩnh hấp phụ cytokines.

6.5. Immunoglobuline truyền tĩnh mạch (IVIG)

Tùy từng trường hợp chi tiết, có thể cân nhắc sử dụng IVIG cho những trường hợp bệnh nặng, và/hoặc hội chứng viêm hệ thống ở trẻ con.

6.6. Interferon

Có thể cân nhắc sử dụng interferon cho từng trường hợp chi tiết (nếu có) hoặc các thuốc kích thích sinh Interferon nội sinh.

6.7. Phục hồi tính năng hô hấp

Cân nhắc điều trị hồi phục tính năng hô hấp sớm cho các người bệnh có suy hô hấp.

6.8. Phát hiện và xử trí các bộc lộ tâm thần và thần kinh.

– Bình chọn và điều trị mê sảng, đặc trưng những bệnh nhân nặng: vận dụng các thang điểm bình chọn sảng, xác định và xử lý nguyên cớ và có các giải pháp điều trị sảng phù hợp.

– Bình chọn các tín hiệu lo lắng và trầm cảm; vận dụng các giải pháp phân phối tâm lý xã hội và các can thiệp phù hợp.

– Phát hiện và xử trí các vấn đề về rối loạn giấc ngủ.

– Cung cấp sức khỏe thần kinh và phân phối tâm lý xã hội căn bản cho tất cả những người nghi ngại hoặc công nhận mắc COVID-19.

7. Phòng ngừa biến chứng

Với các trường hợp nặng điều trị tại các đơn vị hồi sức hăng hái, cần ngừa các biến chứng hay gặp sau:

7.1. Viêm phổi liên can đến thở máy

Vận dụng và tuân thủ gói ngừa viêm phổi liên can đến thở máy:

– Nên đặt ống NKQ đường mồm.

– Đặt người bệnh nằm tư thế đầu cao 30-45 độ.

– Vệ sinh răng mồm.

– Sử dụng hệ thống hút kín, định kỳ làm thoát nước đọng trong dây máy thở.

– Sử dụng bộ dây máy thở mới cho mỗi bệnh nhân; chỉ thay dây máy thở lúc bẩn hoặc hư hỏng khi mà người bệnh đang thở máy.

– Thay bình làm ấm/ẩm lúc bị hỏng, bẩn, hoặc sau mỗi 5-7 ngày.

7.2. Phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch

– Người béo hoặc trẻ béo nhập viện, dùng Heparine trọng lượng phân tử thấp, (liều lượng theo thế hệ và cân nặng) tiêm dưới da, 2 lần/ngày nếu ko có chống chỉ định.

– Nếu có chống chỉ định; sử dụng các giải pháp cơ học.

– Theo dõi bệnh nhân COVID-19 nếu có các tín hiệu nghi ngại tắc mạch như đột quỵ, tắc mạch sâu, nhồi máu phổi, hội chứng vành cấp. Nếu có các tín hiệu nghi ngại, cần vận dụng các giải pháp chẩn đoán và điều trị phù hợp.

7.3. Nhiễm trùng máu liên can đến đường truyền trung tâm

Sử dụng bảng kiểm để theo dõi vận dụng các gói ngừa lúc đặt đường truyền và đường truyền trung tâm. Rút đường truyền trung tâm lúc ko cần phải có.

7.4. Loét do tỳ đè

Xoay trở người bệnh thường xuyên

7.5. Viêm loét bao tử do stress và xuất huyết tiêu hóa

– Cho ăn qua đường tiêu hóa sớm (trong khoảng 24-48 giờ sau nhập viện)

– Dùng thuốc kháng H2 hoặc ức chế bơm proton cho những người bệnh có nguy cơ xuất huyết tiêu hóa như thở máy ≥ 48 giờ, rối loạn đông máu, điều trị thay thế thận, có bệnh gan, nhiều bệnh nền kèm theo, và suy tính năng đa cơ quan.

7.6. Yếu cơ liên can đến điều trị hồi sức

Khi có thể, hăng hái cho đi lại sớm trong giai đoạn điều trị.

8. 1 số quần thể đặc trưng

8.1. Phụ nữ mang thai:

Khi nghi ngại hoặc khẳng định nhiễm SARS-CoV-2 cần được điều trị theo các giải pháp như trên, bên cạnh đó cần để ý đến những chỉnh sửa sinh lý lúc mang thai.

8.2. Người cao tuổi.

Người cao tuổi với các bệnh lý nền kèm theo tăng nguy cơ mắc bệnh nặng và tử vong. Chăm sóc và điều trị cần phối hợp các chuyên khoa, cần để ý đến những chỉnh sửa sinh lý ở người cao tuổi, cũng như tương tác thuốc trong giai đoạn điều trị.

IX. TIÊU CHUẨN XUẤT VIỆN

1. Người bệnh được xuất viện lúc có đủ các tiêu chuẩn sau:

– Hết sốt chí ít 3 ngày.

– Các triệu chứng lâm sàng cải thiện, toàn trạng tốt, các tín hiệu sống sót bất biến, tính năng các cơ quan phổ biến, xét nghiệm máu trở về phổ biến, X-quang phổi cải thiện.

– Ba mẫu bệnh phẩm (các mẫu lấy cách nhau chí ít 1 ngày) xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2 bằng cách thức realtime RT-PCR.

2. Theo dõi sau xuất viện

Người bệnh cần tiếp diễn được cách ly thích hợp tại nhà dưới sự giám sát giám sát của y tế cơ sở và CDC địa phương thêm 14 ngày nữa và theo dõi thân nhiệt tại nhà 2 lần/ngày, nếu thân nhiệt cao hơn 38oC ở 2 lần đo liên tục hoặc có các tín hiệu thất thường khác, phải tới khám lại ngay tại các cơ sở y tế.

.

Xem thêm thông tin Quyết định 3351/QĐ-BYT

Quyết định 3351/QĐ-BYT

Chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 đã được Bộ Y tế ban hành tại Quyết định 3351/QĐ-BYT vào ngày 29/07/2020. Hiệu lực của văn bản luật pháp này sẽ tính từ lúc ngày được ban hành. Sau đây sẽ là nội dung cụ thể của quyết định này, xin mời các bạn cùng tham khảo.

BỘ Y TẾ_____
Số: 3351/QĐ-BYT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc ________________________
Hà Nội, ngày 29 tháng 7 5 2020

QUYẾT ĐỊNH 3351/QĐ-BYT
Về việc ban hành Chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 do chủng vi rút Corona mới (SARS-Cov-2)
___________
BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
Căn cứ Nghị định số 75/2017/NĐ-CP ngày 20/6/2017 của Chính phủ quy định tính năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;
Theo quan điểm của Hội đồng chuyên môn cập nhật, bổ sung Chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị viêm hô hấp cấp tính do chủng vi rút Corona mới (nCoV) được thành lập tại Quyết định số 319/QĐ-BYt ngày 06/2/2020 của Bộ trưởng;
Theo đề xuất của Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh- Bộ Y tế,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này “Chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 do chủng vi rút Corona mới (SARS-CoV-2)” thay thế “Chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị viêm đường hô hấp cấp do SARS-CoV-2 (COVID-19)” ban hành kèm theo Quyết định số 1344/QĐ-BYT ngày 25/3/2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực tính từ lúc ngày ký, ban hành.
Điều 3. Các Ông/Bà: Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh; Chánh Thanh tra; Tổng Cục trưởng, Cục trưởng, Vụ trưởng các Tổng Cục, Cục, Vụ thuộc Bộ Y tế; Giám đốc các Bệnh viện, Viện có giường bệnh trực thuộc Bộ Y tế; Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thị thành trực thuộc Trung ương; Thủ trưởng y tế các cấp chịu nghĩa vụ thi hành Quyết định này.

Nơi nhận:– Như điều 3;– Phó TTgCP. Vũ Đức Đam- Trưởng BCĐQGPhòng CD COVID-19 (để báo cáo);– Quyền Bộ trưởng (để báo cáo);– Các Thứ trưởng (để phối hợp chỉ huy);– Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (để phối hợp);– Cổng TTĐT Bộ Y tế; website Cục QLKCB;– Lưu: VT; KCB.

KT.BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNGNguyễn Trường SơnTrưởng Tiểu ban điều trị- Ban chỉ huy QG PCD COVID-19

BỘ Y TẾ_____

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc ________________________

HƯỚNG DẪN
Chẩn đoán và điều trị COVID-19 do chủng vi rút Corona mới (SARS-Cov-2)
(Ban hành kèm theo Quyết định số 3351/QĐ-BYT ngày 29 tháng 7 5 2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
_________________
I. ĐẠI CƯƠNG
Vi rút Corona (CoV) là 1 họ virút lây nhiễm từ động vật sang người và gây bệnh cho người từ cảm lạnh thông thường tới các trạng thái bệnh nặng, dọa nạt tính mệnh của người bệnh như Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS-CoV) 5 2002 và Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS-CoV) 5 2012. Từ tháng 12 5 2019, 1 chủng vi rút corona mới (SARS-CoV-2) đã được xác định là căn do gây dịch nhiễm trùng hô hấp cấp tính (COVID-19) tại thị thành Vũ Hán (tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc), sau ấy lan rộng ra toàn Trung Quốc và cho đến nay đa phần các nước trên toàn cầu. Ngày 11/3/2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã ban bố COVID-19 là 1 đại dịch thế giới. Chủng SARS-CoV-2 ngoài lây nhiễm từ động vật sang người, còn lây trực tiếp từ người sang người chính yếu qua giọt bắn đường hô hấp và qua đường xúc tiếp. Vi rút cũng có bản lĩnh lây nhiễm qua đường ko khí qua khí dung (aerosol), đặc trưng tại các cơ sở y tế và những nơi đông người và ở ko gian kín. Cho đến nay, lây nhiễm theo đường phân-miệng chưa có chứng cớ rõ ràng.
Người bệnh COVID-19 có bộc lộ lâm sàng nhiều chủng loại: từ nhiễm ko có triệu chứng, đến những bộc lộ bệnh lý nặng như viêm phổi nặng, suy hô hấp, sốc nhiễm trùng, suy tính năng đa cơ quan và tử vong, đặc trưng ở những người cao tuổi, người có bệnh mạn tính hay sút giảm miễn nhiễm với số lượng tế bào TCD4 giảm dưới 250 tế bào/mm3, người có D-Dimer tăng cao hoặc có đồng nhiễm hay bội nhiễm các căn do khác như vi khuẩn, nấm.
Hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng COVID-19 nên chính yếu là điều trị phân phối và điều trị triệu chứng. Các giải pháp phòng bệnh chính là phát hiện sớm và cách ly ca bệnh.
II. CHẨN ĐOÁN
1. Khái niệm ca bệnh
1.1. Trường hợp bệnh nghi ngại
Bao gồm các trường hợp:
A. Người bệnh có sốt và/hoặc viêm đường hô hấp cấp tính ko lý giải được bằng các nguyên cớ khác.
B. Người bệnh có bất cứ triệu chứng hô hấp nào VÀ có tiền sử tới/qua/ở/về từ vùng dịch tễ* có bệnh COVID-19 trong vòng 14 ngày trước lúc phát khởi các triệu chứng HOẶC xúc tiếp gần (**) với trường hợp bệnh nghi ngại hoặc xác định COVID-19 trong vòng 14 ngày trước lúc phát khởi các triệu chứng.
* Vùng dịch tễ: được xác định là những non sông, vùng bờ cõi có ghi nhận ca mắc COVID-19 lây nhiễm nội địa, hoặc nơi có ổ dịch đang hoạt động tại Việt Nam theo “Chỉ dẫn tạm bợ giám sát và phòng, chống COVID-19” của Bộ Y tế và được cập nhật bởi Cục Y tế ngừa.
** Tiếp xúc gần: bao gồm
– Tiếp xúc tại các cơ sở y tế, bao gồm: trực tiếp người bệnh COVID-19; làm việc cộng với viên chức y tế mắc COVID-19; đến thăm người bệnh hoặc ở cùng phòng bệnh có người bệnh mắc COVID-19.
– Tiếp xúc trực tiếp trong vòng cách ≤ 2 mét với trường hợp bệnh nghi ngại hoặc xác định mắc COVID-19 trong giai đoạn mắc bệnh.
– Sống cùng nhà với trường hợp bệnh nghi ngại hoặc xác định mắc COVID-19 trong giai đoạn mắc bệnh.
– Cùng nhóm làm việc hoặc cùng phòng làm việc với ca bệnh xác định hoặc ca bệnh nghi ngại trong giai đoạn mắc bệnh.
– Cùng nhóm: du hý, công việc, vui chơi, buổi liên hoan, cuộc họp … với ca bệnh xác định hoặc ca bệnh nghi ngại trong giai đoạn mắc bệnh.
– Di chuyển trên cùng công cụ (ngồi cùng hàng, trước hoặc sau 2 hàng ghế) với trường hợp bệnh nghi ngại hoặc xác định mắc COVID-19 trong giai đoạn mắc bệnh.
1.2. Trường hợp bệnh xác định
Là trường hợp bệnh nghi ngại hoặc bất kỳ ai có xét nghiệm dương tính với vi rút SARS-CoV-2 được tiến hành bởi các cơ sở xét nghiệm do Bộ Y tế cho phép khẳng định.
III. TRIỆU CHỨNG
1. Lâm sàng
– Thời gian ủ bệnh: từ 2-14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày.
– Khởi phát: Triệu chứng hay gặp là sốt, ho khan, mỏi mệt và đau cơ. 1 số trường hợp đau họng, nghẹt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, ho có đờm, nôn và đi tả.
– Diễn biến:
+ Đa phần người bệnh (khoảng hơn 80%) chỉ sốt nhẹ, ho, mỏi mệt, ko bị viêm phổi và thường tự bình phục sau khoảng 1 tuần. Tuy nhiên 1 số trường hợp ko có bộc lộ triệu chứng lâm sàng nào.
+ Khoảng 14% số bệnh nhân diễn biến nặng như viêm phổi, viêm phổi nặng cần nhập viện, khoảng 5% cần điều trị tại các đơn vị hồi sức hăng hái với các bộc lộ hô hấp cấp (thở nhanh, không thở được, tím tái, …), hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS), sốc nhiễm trùng, suy tính năng các cơ quan bao gồm thương tổn thận và thương tổn cơ tim, dẫn tới tử vong.
+ Thời gian trung bình bắt đầu từ có triệu chứng ban sơ đến lúc diễn biến nặng thường khoảng 7-8 ngày.
+ Tử vong xảy ra nhiều hơn ở người cao tuổi, người sút giảm miễn nhiễm và mắc các bệnh mạn tính kèm theo. Ở người béo, các nhân tố tiên đoán tăng nguy cơ tử vong là tuổi cao, điểm suy đa tạng SOFA cao lúc nhập viện và nồng độ D-dimer > 1 μg/L.
– Thời kỳ bình phục: Sau quá trình toàn phát 7-10 ngày, nếu ko có ARDS bệnh nhân sẽ hết sốt các tín hiệu lâm sàng dần quay về phổ biến và khỏi bệnh.
– Chưa có chứng cớ dị biệt về các bộc lộ lâm sàng của COVID-19 ở nữ giới mang thai.
– Ở trẻ con, đa phần trẻ mắc Covid-19 có các các bộc lộ lâm sàng nhẹ hơn người béo, hoặc ko có triệu chứng. Các tín hiệu thường gặp ở trẻ con là sốt và ho, hoặc các bộc lộ viêm phổi. Tuy nhiên 1 số trẻ mắc Covid-19 có thương tổn viêm đa cơ quan gần giống bệnh Kawasaski: sốt; ban đỏ hoặc xung huyết giác mạc, hoặc phù nề niêm mạc mồm, bàn tay, chân; suy tuần hoàn; các bộc lộ thương tổn tính năng tim và tăng men tim; rối loạn tiêu hóa; rối loạn đông máu và tăng các chỉ số viêm cấp.
2. Xét nghiệm cận lâm sàng
Các xét nghiệm huyết học, sinh hóa máu chỉnh sửa ko đặc hiệu:
– Số lượng bạch huyết cầu trong máu có thể phổ biến hoặc giảm; số lượng bạch huyết cầu lympho thường giảm, đặc trưng nhóm diễn biến nặng.
– Protein C phản ứng (CRP) phổ biến hoặc tăng, procalcitonin (PCT) thường phổ biến hoặc tăng nhẹ. 1 số trường hợp có thể tăng nhẹ ALT, AST, CK, LDH.
– Trong các trường hợp diễn biến nặng có các bộc lộ suy tính năng các cơ quan, rối loạn đông máu, tăng D-dimer, rối loạn điện giải và toan kiềm.
3. X-quang và chụp cắt lớp (CT) phổi
– Ở quá trình sớm hoặc chỉ viêm đường hô hấp trên, hình ảnh X-quang phổ biến.
– Khi có viêm phổi, thương tổn thường ở 2 bên với tín hiệu viêm phổi kẽ hoặc đám mờ (hoặc kính mờ) lan tỏa, ở ngoại vi hay thùy dưới. Thương tổn có thể tiến triển nhanh trong ARDS. Ít lúc gặp tín hiệu tạo hang hay tràn dịch, tràn khí màng phổi.
4. Xét nghiệm khẳng định căn do
– Phát hiện SARS-CoV-2 bằng kỹ thuật real-time RT-PCR hoặc giải trình tự gene từ các mẫu bệnh phẩm.
IV. PHÂN LOẠI CÁC THỂ LÂM SÀNG
Bệnh COVID-19 có các thể bệnh trên lâm sàng như sau:
1. Thể ko triệu chứng: là người nhiễm SARS-CoV-2 được khẳng định bằng xét nghiệm realtime RT-PCR dương tính, nhưng mà ko có triệu chứng lâm sàng.
2. Chừng độ nhẹ: Viêm đường hô hấp trên cấp tính
– Người bệnh nhiễm SARS-CoV-2 có các triệu chứng lâm sàng ko đặc hiệu như như sốt, ho khan, đau họng, nghẹt mũi, mỏi mệt, đau đầu, đau mỏi cơ.
– Không có các tín hiệu của viêm phổi hoặc thiếu ô xy.
3. Chừng độ vừa: Viêm phổi
– Người béo và trẻ béo: bị viêm phổi (sốt, ho, không thở được, thở nhanh) và ko có tín hiệu viêm phổi nặng, SpO2 ≥ 90% lúc thở khí trời.
– Trẻ bé: trẻ có ho hoặc không thở được và thở nhanh. Thở nhanh được xác định lúc nhịp thở ≥ 60 lần/phút ở trẻ dưới 2 tháng; ≥ 50 lần/phút ở trẻ từ 2 – 11 tháng; ≥ 40 lần/phút ở trẻ từ 1 – 5 tuổi) và ko có các tín hiệu của viêm phổi nặng.
– Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, bên cạnh đó, hình ảnh X-quang, siêu âm hoặc CT phổi thấy hình ảnh viêm phổi kẽ hoặc phát hiện các biến chứng.
4. Chừng độ nặng- Viêm phổi nặng
– Người béo và trẻ béo: sốt hoặc nghi ngại nhiễm trùng hô hấp, kèm theo bất cứ 1 tín hiệu sau: nhịp thở > 30 lần/phút, không thở được nặng, hoặc SpO2 ≤ 93% lúc thở khí phòng.
– Trẻ bé: ho hoặc không thở được và có chí ít 1 trong các tín hiệu sau đây: Tím tái hoặc SpO2 < 90%; suy hô hấp nặng (thở rên, rút lõm lồng ngực);
+ Hoặc trẻ được chẩn đoán viêm phổi và có bất cứ tín hiệu nặng sau: chẳng thể uống/bú được; rối loạn tinh thần (li bì hoặc hôn mê); co giật. Có thể có các tín hiệu khác của viêm phổi như rút lõm lồng ngực, thở nhanh (tần số thở/phút như trên).
– Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, chụp X-quang phổi để xác định các biến chứng.
5. Chừng độ nguy nan
5.1. Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS)
– Khởi phát: các triệu chứng hô hấp mới hoặc xấu đi trong khoảng 1 tuần tính từ lúc lúc có các triệu chứng lâm sàng.
– X-quang, CT scan hoặc siêu âm phổi: hình ảnh mờ 2 phế trường nhưng mà chẳng hề do tràn dịch màng phổi, xẹp thùy phổi hoặc các nốt ở phổi.
– Nguồn gốc của phù phổi chẳng hề do suy tim hoặc quá tải dịch. Cần bình chọn khách quan (siêu âm tim) để loại bỏ phù phổi do sức ép thủy tĩnh nếu ko thấy các nhân tố nguy cơ.
– Thiếu ô xy máu: ở người béo, phân loại dựa vào chỉ số PaO2/FiO2 (P/F) và SpO2/FiO2 (S/F) lúc ko có kết quả PaO2:
+ ARDS nhẹ: 200 mmHg < P/F ≤300 mmHg với PEEP hoặc CPAP ≥5 centimet H2O.
+ ARDS vừa: 100 mmHg <P/F ≤200 mmHg với PEEP ≥5 cmH2O).
+ ARDS nặng: P/F ≤100 mmHg với PEEP ≥ 5 cmH2O
+ Khi ko có PaO2: S/F ≤315 gợi ý ARDS (kể cả những người bệnh ko thở máy)
– Thiếu ô xy máu: ở trẻ con: dựa vào các chỉ số OI (chỉ số Oxygen hóa: OI = MAP* × FiO2 × 100 / PaO2) (MAP*: sức ép đường thở trung bình) hoặc OSI (chỉ số Oxygen hóa sử dụng SpO2: OSI = MAP × FiO2 × 100 / SpO2) cho người bệnh thở máy thâm nhập, và PaO2/FiO2 hay SpO2/FiO2 cho thở CPAP hay thở máy ko thâm nhập (NIV):
+ NIV BiLevel hoặc CPAP ≥5 cmH2O qua mặt nạ: PaO2/FiO2≤ 300 mmHg hoặc SpO2/FiO2 ≤ 264
+ ARDS nhẹ (thở máy thâm nhập): 4 ≤OI<8 hoặc 5≤OSI<7,5
+ ARDS vừa (thở máy thâm nhập): 8 ≤OI<16 hoặc 7,5≤OSI<12,3
+ ARDS nặng (thở máy thâm nhập): OI ≥16 hoặc OSI ≥12,3
5.2. Nhiễm trùng huyết (sepsis)
– Người béo: có tín hiệu rối loạn tính năng các cơ quan:
+ Thay đổi tinh thần: ngủ gà, tơ mơ, hôn mê
+ Khó thở hoặc thở nhanh, độ bão hòa ô xy thấp
+ Nhịp tim nhanh, mạch bắt yếu, chi lạnh, hoặc hạ huyết áp, da nổi vân tím
+ Thiểu niệu hoặc vô niệu
+ Xét nghiệm có rối loạn đông máu, giảm tiểu cầu, nhiễm toan, tăng lactate, tăng bilirubine…
– Trẻ em: lúc nghi ngại hoặc khẳng định do nhiễm trùng và có chí ít 2 tiêu chuẩn của hội chứng phục vụ viêm hệ thống (SIRS) và 1 trong số ấy phải là chỉnh sửa thân nhiệt hoặc số lượng bạch huyết cầu thất thường.
5.3. Sốc nhiễm trùng
– Người béo: hạ huyết áp kéo dài mặc dầu đã hồi sức dịch, phải sử dụng thuốc vận mạch để duy trì huyết áp động mạch trung bình (MAP) ≥65 mmHg và nồng độ lactate huyết thanh >2 mmol/L.
– Trẻ em: sốc nhiễm trùng xác định lúc có:
+ Bất cứ trạng thái hạ huyết áp nào: lúc huyết áp tâm thu < 5 bách phân vị hoặc > 2SD dưới ngưỡng phổ biến theo thế hệ, hoặc (trẻ <1 tuổi: < 70 mmHg; trẻ từ 1-10 tuổi: < 70 + 2 x tuổi; trẻ > 10 tuổi: <90 mmHg).
+ Hoặc có bất cứ 2-3 tín hiệu sau: chỉnh sửa tinh thần, nhịp tim nhanh hoặc chậm (< 90 nhịp/phút hoặc >160 nhịp/phút ở trẻ nhũ nhi, và <70 nhịp/phút hoặc >150 nhịp/phút ở trẻ bé); thời kì làm đầy mao quản kéo dài (>2 giây); hoặc giãn mạch ấm/mạch nẩy; thở nhanh; da nổi vân tím hoặc có chấm xuất huyết hoặc ban xuất huyết; tăng nồng độ lactate; thiểu niệu; tăng hoặc hạ thân nhiệt.
5.4. Các biến chứng nặng- nguy nan khác: nhồi máu phổi, đột quỵ, sảng. Cần theo dõi sát và vận dụng các giải pháp chẩn đoán xác định lúc nghi ngại và có giải pháp điều trị thích hợp.
V. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
– Cần chẩn đoán phân biệt viêm đường hô hấp cấp do SARS-CoV-2 (COVID-19) với viêm đường hô hấp cấp do các tác nhân hay gặp khác, bao gồm cả các tác nhân gây dịch bệnh nặng đã biết:
+ Vi rút cúm mùa (A/H3N2, A/H1N1, B), vi rút á cúm, vi rút hợp bào hô hấp (RSV), rhinovirus, myxovirrus, adenovirus.
+ Hội chứng cảm cúm do các chủng coronavirus thông thường.
+ Các căn do khuẩn vi khuẩn hay gặp, bao gồm các các vi khuẩn ko điển chừng như Mycoplasma pneumonia etc.
+ Các căn do khác có thể gây viêm đường hô hấp cấp tính nặng như cúm gia cầm A/H5N1, A/H7N9, A/H5N6, SARS-CoV, và MERS-CoV.
– Cần chẩn đoán phân biệt các trạng thái nặng của người bệnh (suy hô hấp, suy tính năng các cơ quan…) do các căn do khác hoặc do trạng thái nặng của các bệnh lý kinh niên kèm theo.
VI. XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN, GIÁM SÁT VÀ BÁO CÁO CA BỆNH
– Các trường hợp bệnh nghi ngại, cần làm xét nghiệm khẳng định nhiễm SARS-CoV-2.
– Lấy dịch đường hô hấp trên (dịch hầu họng & mũi họng) để xét nghiệm xác định vi rút bằng kỹ thuật realtime RT- PCR.
– Khi mẫu bệnh phẩm dịch đường hô hấp trên âm tính nhưng mà vẫn nghi ngại về lâm sàng, cần lấy dịch đường hô hấp dưới (đờm, dịch hút phế quản, dịch rửa phế nang).
– Nếu người bệnh thở máy có thể chỉ cần lấy dịch đường hô hấp dưới.
– Không khuyến cáo sử dụng các xét nghiệm phát hiện kháng thể kháng SARS-CoV-2 để chẩn đoán đang mắc COVID-19.
– Những trường hợp bệnh nghi ngại, kể cả ở những trường hợp đã xác định được tác nhân thông thường khác, cần làm xét nghiệm khẳng định để xác định SARS-CoV-2 chí ít 1 lần.
– Cấy máu nếu nghi ngại hoặc có nhiễm trùng huyết, nên cấy máu trước lúc dùng kháng sinh. Cần xét nghiệm các căn do vi khuẩn, vi rút khác nếu có các tín hiệu lâm sàng nghi ngại.
– Cần tiến hành đầy đủ các xét nghiệm cận lâm sàng và dò hỏi thường quy tùy từng trạng thái người bệnh để chẩn đoán, tiên đoán và theo dõi người bệnh.
– Trường hợp xác định mắc COVID-19, cần lấy mẫu bệnh phẩm dịch hô hấp và xét nghiệm nhắc lại với khoảng cách mỗi 2-4 ngày hoặc ngắn hơn nếu cần phải có cho đến lúc kết quả âm tính.
– Những trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 cần báo cáo Bộ Y tế hoặc CDC địa phương.
– Xác định về mặt dịch tễ học liên can tới các trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 như: nơi sinh sống, nơi làm việc, chuyển di, lập danh sách những người đã xúc tiếp trực tiếp, tuân thủ theo chỉ dẫn giám sát và phòng, chống COVID-19 của Bộ Y tế.
VII. CÁC BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM TỨC THÌ
Phòng ngừa lây truyền là 1 bước quan trọng trong chẩn đoán và điều trị người bệnh mắc COVID-19, bởi vậy cần được tiến hành ngay lúc người bệnh đến nơi đón tiếp ở các cơ sở y tế. Các giải pháp ngừa chuẩn phải được vận dụng ở tất cả các khu vực trong cơ sở y tế.
1. Tại khu vực chắt lọc & phân loại bệnh nhân.
– Cho người bệnh nghi ngại đeo khẩu trang và chỉ dẫn đến khu vực cách ly.
– Đảm bảo khoảng cách giữa các người bệnh ≥ 2 mét.
– Chỉ dẫn người bệnh che mũi mồm lúc ho, hắt xì và rửa tay ngay sau lúc xúc tiếp dịch hô hấp.
2. Vận dụng các giải pháp ngừa giọt bắn.
– Cần đeo khẩu trang y tế nếu làm việc trong vòng cách 2m với người bệnh.
– Dành đầu tiên cách ly người bệnh nghi ngại ở phòng riêng, hoặc sắp đặt nhóm người bệnh cùng căn do trong 1 phòng. Nếu ko xác định được căn do, xếp người bệnh có chung các triệu chứng lâm sàng và nhân tố dịch tễ. Phòng bệnh cần được đảm bảo thông thoáng.
– Khi gần người bệnh có triệu chứng hô hấp (ho, hắt xì) cần sử dụng phương tiện bảo vệ mắt.
– Giảm thiểu người bệnh vận động trong cơ sở y tế và người bệnh phải đeo khẩu trang lúc ra khỏi phòng.
3. Vận dụng các giải pháp ngừa xúc tiếp.
– Nhân viên y tế phải sử dụng các trang thiết bị bảo vệ tư nhân (khẩu trang y tế, kính bảo vệ mắt, bít tất tay, áo choàng) lúc vào phòng bệnh và cởi bỏ lúc ra khỏi phòng và tránh đưa tay bẩn lên mắt, mũi, mồm.
– Vệ sinh và khử trùng các phương tiện (ống nghe, nhiệt biểu) trước lúc sử dụng cho mỗi người bệnh.
– Tránh làm nhiễm bẩn các bề mặt môi trường bao quanh như cửa phòng, công tắc đèn, quạt…
– Bảo đảm phòng bệnh thoáng khí, mở các cửa sổ phòng bệnh (nếu có).
– Giảm thiểu vận động người bệnh
– Vệ sinh tay
4. Vận dụng các giải pháp ngừa lây nhiễm qua đường ko khí.
– Các viên chức y tế lúc khám, người bệnh đã xác định chẩn đoán, hoặc/và làm các thủ thuật như đặt ống nội khí quản, hút đường hô hấp, soi phế quản, cấp cứu tim phổi… phải sử dụng các thiết bị bảo vệ tư nhân bao gồm đeo bít tất tay, áo choàng, bảo vệ mắt, khẩu trang N95 hoặc tương đương.
– Nếu có thể, tiến hành thủ thuật ở phòng riêng, hoặc phòng sức ép âm.
– Giảm thiểu người không phù hợp ở trong phòng lúc làm thủ thuật
VIII. ĐIỀU TRỊ
1. Nguyên tắc điều trị chung
– Phân loại người bệnh và xác định nơi điều trị theo các chừng độ nghiêm trọng của bệnh:
+ Các trường hợp bệnh nghi ngại (có thể xem như trạng thái cấp cứu): cần được khám, theo dõi và cách ly ở khu riêng tại các cơ sở y tế, lấy bệnh phẩm đúng cách để làm xét nghiệm đặc hiệu chẩn đoán xác định.
+ Trường hợp bệnh xác định cần được theo dõi và điều trị cách ly hoàn toàn.
+ Ca bệnh nhẹ (viêm đường hô hấp trên, viêm phổi nhẹ) điều trị tại các khoa phòng thông thường.
+ Ca bệnh nặng (viêm phổi nặng, nhiễm trùng huyết) cần được điều trị tại các phòng cấp cứu của các khoa phòng hoặc hồi sức hăng hái.
+ Ca bệnh nặng-nguy kịch: (suy hô hấp nặng, ARDS, sốc nhiễm trùng, suy đa cơ quan) cần được điều trị hồi sức hăng hái.
– Do chưa có thuốc đặc hiệu, điều trị phân phối và điều trị triệu chứng là chính yếu.
– Cá thể hóa các giải pháp điều trị cho từng trường hợp, đặc trưng là các ca bệnh nặng-nguy kịch.
– Có thể vận dụng 1 số phác đồ điều trị nghiên cứu được Bộ Y tế cho phép. bệnh.
– Theo dõi, phát hiện và xử trí kịp thời các trạng thái nặng, biến chứng của bệnh.
2. Các giải pháp theo dõi và điều trị chung
– Nghỉ ngơi tại giường, phòng bệnh cần được bảo đảm thông thoáng, có thể sử dụng hệ thống lọc ko khí hoặc các giải pháp tiệt trùng phòng bệnh khác như đèn cực tím (nếu có).
– Vệ sinh mũi họng, có thể giữ ẩm mũi bằng bé dung dịch nước muối sinh lý, xúc mồm họng bằng các dung dịch vệ sinh mồm họng thông thường.
– Giữ ấm
– Uống đủ nước, bảo đảm thăng bằng dịch, điện giải.
– Thận trọng lúc truyền dịch cho người bệnh viêm phổi nhưng mà ko có tín hiệu của sốc.
– Bảo đảm dinh dưỡng và tăng lên thể trạng, bổ xung vitamin nếu cần phải có. Với các người bệnh nặng – nguy nan, vận dụng chỉ dẫn dinh dưỡng của Hội Hồi sức cấp cứu và chống độc đã ban hành.
– Hạ sốt nếu sốt cao, có thể dùng paracetamol liều 10-15 mg/kg/lần, ko quá 60 mg/kg/ngày cho trẻ con và ko quá 2 gam/ngày với người béo.
– Giảm ho bằng các thuốc giảm ho thông thường nếu cần phải có.
– Bình chọn, điều trị, tiên đoán các trạng thái bệnh lý kinh niên kèm theo (nếu có).
– Tham mưu, phân phối tâm lý, cổ vũ người bệnh.
– Theo dõi chặt chẽ các tín hiệu lâm sàng, tiến triển của thương tổn phổi trên phim X-quang và/hoặc CT phổi, đặc trưng trong vòng ngày thứ 7-10 của bệnh, phát hiện các tín hiệu tiến triển nặng của bệnh như suy hô hấp, suy tuần hoàn để có các giải pháp can thiệp kịp thời.
– Tại các cơ sở điều trị cần có các trang thiết bị, phương tiện cấp cứu tối thiểu: máy theo dõi độ bão hòa ô xy, hệ thống/bình cung ứng ô xy, thiết bị thở ô xy (gọng mũi, mask thông thường, mask có túi dự trữ), bóng, mặt nạ, và phương tiện đặt ống nội khí quản thích hợp các thế hệ.
3. Điều trị suy hô hấp
3.1. Liệu pháp ô xy và theo dõi
– Cần cho thở ô xy ngay với bệnh nhân viêm đường hô hấp cấp nặng có suy hô hấp, thiếu ô xy máu, sốc để đạt đích SpO2 > 94%.
– Ở người béo nếu có các tín hiệu cấp cứu (gắng công nặng, rút lõm lồng ngực, tím tái, giảm thông khí phổi) cần làm thông thoáng đường thở và cho thở ô xy ngay để đạt đích SpO2 ≥ 94 % trong giai đoạn hồi sức. Cho thở ô xy qua gọng mũi (1-4 lít/phút), hoặc mask thông thường, hoặc mask có túi dự trữ, với lưu lượng ban sơ là 5 lít/phút và nâng cao đến 10-15 lít/phút nếu cần. Khi bệnh nhân bất biến hơn, điều chỉnh để đạt đích SpO2 ≥ 90 % cho người béo, và SpO2 ≥ 92-95% cho nữ giới mang thai.
– Với trẻ con, nếu trẻ có các tín hiệu cấp cứu như không thở được nặng, tím tái, sốc, hôn mê, co giật…, cần cung ứng ô xy trong giai đoạn cấp cứu để đạt đích SpO2 ≥ 94%. Khi trạng thái trẻ bất biến, điều chỉnh để đạt đích SpO2 ≥ 90 %.
– Theo dõi sát trạng thái người bệnh để phát hiện các tín hiệu nặng, thất bại với liệu pháp thở ô xy để có can thiệp kịp thời.
3.2. Điều trị suy hô hấp nguy nan & ARDS
– Khi trạng thái giảm ô xy máu ko được cải thiện bằng các giải pháp thở ô xy, SpO2 ≤ 92%, hoặc/và gắng công hô hấp: có thể cân nhắc chỉ định thở thở ô xy dòng cao qua gọng mũi (High Flow Nasal Oxygen), CPAP, hoặc thở máy ko thâm nhập BiPAP.
– Không vận dụng giải pháp thở máy ko thâm nhập ở người bệnh có rối loạn huyết động, suy tính năng đa cơ quan, và rối loạn tinh thần.
– Cần theo dõi chặt chẽ người bệnh để phát hiện các tín hiệu thất bại để có can thiệp kịp thời. Nếu trạng thái thiếu ô xy ko cải thiện với các giải pháp phân phối hô hấp ko thâm nhập, cần đặt ống nội khí quản và thở máy thâm nhập.
– Cần đặt ống nội khí quản bởi người có kinh nghiệm, vận dụng các giải pháp ngừa lây truyền qua ko khí lúc đặt ống nội khí quản.
– Cung cấp hô hấp: vận dụng phác đồ phân phối hô hấp trong ARDS cho người béo và trẻ con. Chú ý các điểm sau:
+ Thở máy: vận dụng chiến lược thở máy bảo vệ phổi, với thể tích khí lưu thông thấp (4-8 ml/kg trọng lượng lý tưởng) và sức ép thì thở vào thấp (giữ sức ép cao nguyên hay Pplateau < 30 cmH2O, ở trẻ con, giữ Pplateau < 28 cmH2O). Thể tích khí lưu thông ban sơ 6 ml/kg, điều chỉnh theo sự phục vụ của người bệnh và theo tiêu chí điều trị.
+ Chấp nhận tăng CO2, giữ đích pH ≥ 7.20.
+ Trường hợp ARDS nặng ở người béo, cân nhắc vận dụng thở máy ở tư thế nằm sấp 12-16 giờ/ngày (nếu có thể).
+ Có thể vận dụng chiến lược PEEP cao cho ARDS vừa và nặng. Tùy theo độ co giãn (compliance) của phổi để setup PEEP thích hợp.
+ Tránh ngắt kết nối người bệnh khỏi máy thở dẫn đến mất PEEP và xẹp phổi. Nên sử dụng hệ thống hút nội khí quản kín.
+ Ở trẻ con và trẻ lọt lòng, có thể thở máy cao tần (HFOV-High Frequency Oscillatory Ventilation) sớm (nếu có), hoặc lúc thất bại với thở máy thông thường. Không sử dụng HFOV cho người béo.
+ Cần bảo đảm an thần, giảm đau phù hợp lúc thở máy. Trong trường hợp ARDS vừa- nặng, có thể dùng thuốc giãn cơ, nhưng mà ko nên dùng thường quy.
– Kiểm soát thăng bằng dịch chặt chẽ, tránh quá tải dịch, đặc trưng ngoài quá trình bù dịch hồi sức tuần hoàn.
– Trường hợp thiếu ô xy nặng, dằng dai, thất bại với các giải pháp điều trị thông thường, cân nhắc chỉ định và sử dụng các kỹ thuật bàn bạc ô xy qua màng ngoài thân thể (ECMO) cho từng trường hợp chi tiết và tiến hành ở những nơi có đủ điều kiện khai triển kỹ thuật này.
– Do ECMO chỉ có thể tiến hành được ở 1 số cơ sở y tế béo, nên trong trường hợp cân nhắc chỉ định ECMO, các cơ sở cần liên hệ, chuyển vận người bệnh sớm và tuân thủ thứ tự chuyển vận người bệnh do Bộ Y tế quy định.
4. Điều trị sốc nhiễm trùng
Vận dụng phác đồ điều trị sốc nhiễm trùng cho người béo và trẻ con. Chú ý 1 số điểm sau:
4.1. Hồi sức dịch
– Sử dụng dịch tinh thể đẳng trương như nước muối sinh lý hay Ringer lactat. Tránh dùng các dung dịch tinh thể nhược trương, dung dịch Haes-steril, Gelatin để hồi sức dịch.
– Liều lượng:
+ Người béo: truyền nhanh 250-500 ml, trong 15-30 phút đầu, bình chọn các tín hiệu quá tải dịch sau mỗi lần bù dịch nhanh.
+ Trẻ em: 10-20 ml/kg, truyền tĩnh mạch nhanh trong 30-60 phút đầu, nhắc lại nếu cần phải có, bình chọn các tín hiệu quá tải dịch sau mỗi lần bù dịch nhanh.
– Cần theo dõi sát các tín hiệu của quá tải dịch khi mà hồi sức dịch như suy hô hấp nặng hơn, gan mập, nhịp tim nhanh, tĩnh mạch cổ nổi, phổi có ran ẩm, phù phổi…nếu hiện ra, cần giảm hoặc ngừng truyền dịch.
– Theo dõi các tín hiệu cải thiện tưới máu: huyết áp trung bình > 65 mgHg cho người béo và theo thế hệ ở trẻ con; lượng nước giải (>0.5 ml/kg/giờ cho người béo, và >1 ml/kg/giờ cho trẻ con), cải thiện thời kì làm đầy mao quản, màu sắc da, trạng thái tinh thần, và nồng độ lactat trong máu.
4.2. Thuốc vận mạch
Nếu trạng thái huyết động, tưới máu ko cải thiện, cần cho thuốc vận mạch sớm.
– Người béo: nor-adrenaline là chọn lọc ban sơ, điều chỉnh liều để đạt đích huyết áp động mạch trung bình (MAP) ≥ 65 mmHg và cải thiện tưới máu. Nếu trạng thái huyết áp và tưới máu ko cải thiện hoặc có rối loạn tính năng tim dù đã đạt được đích MAP với dịch truyền và thuốc co mạch, có thể cho thêm dobutamine.
– Trẻ em: adrenaline là chọn lọc ban sơ, có thể cho dopamin, hoặc dobutamine. Trong trường hợp sốc giãn mạch (sức ép mạch hay chênh lệch huyết áp tối đa và tối thiểu >40 mmHg), cân nhắc cho thêm nor-adrenaline. Điều chỉnh liều thuốc vận mạch để đạt đích MAP > 50th bách phân vị theo thế hệ.
– Sử dụng đường truyền tĩnh mạch trung tâm để truyền các thuốc vận mạch. Nếu ko có đường truyền tĩnh mạch trung tâm, có thể dùng đường truyền tĩnh mạch ngoại biên hoặc truyền trong xương. Theo dõi các tín hiệu vỡ mạch và hoại tử.
– Có thể sử dụng các giải pháp dò hỏi huyết động thâm nhập hoặc ko thâm nhập tùy điều kiện tại mỗi cơ sở để bình chọn và theo dõi trạng thái huyết động để điều chỉnh dịch và các thuốc vận mạch theo trạng thái người bệnh.
4.3. Cấy máu và thuốc kháng sinh phổ rộng theo kinh nghiệm sớm trong khoảng 1 giờ xác định sốc nhiễm trùng.
4.4. Kiểm soát đường máu, (giữ nồng độ đường máu từ 8-10 mmol/L), can xi máu, albumin máu, (truyền albumin lúc nồng độ albumin < 30 g/L, giữ albumin máu ≥ 35 g/L).
4.5. Trường hợp có các nhân tố nguy cơ suy thượng thận cấp, hoặc sốc lệ thuộc catecholamine: có thể cho hydrocorticone liều thấp: Người béo hydrocortisone 50 mg tiêm tĩnh mạch mỗi 6 giờ; trẻ con 2 mg/kg/liều trước nhất, sau ấy 0,5-1,0 mg/kg mỗi 6 giờ.
4.6. Truyền khối hồng huyết cầu lúc cần, giữ nồng độ huyết sắc tố ≥ 10 g/dl.
5. Điều trị phân phối tính năng các cơ quan
Tùy từng trạng thái chi tiết của mỗi người bệnh để có các giải pháp phân phối phù hợp.
– Cung cấp tính năng thận:
+ Bảo đảm huyết động, thăng bằng nước và điện giải, thuốc lợi tiểu lúc cần phải có.
+ Nếu trạng thái suy thận nặng, suy tính năng đa cơ quan và/hoặc có quá tải dịch, chỉ định vận dụng các giải pháp thận thay thế như lọc máu liên tiếp, lọc máu gián đoạn, hoặc thẩm phân phúc mạc tùy điều kiện của cơ sở điều trị.
– Cung cấp tính năng gan: nếu có suy gan
– Điều chỉnh rối loạn đông máu: truyền tiểu cầu, plasma tươi, các nhân tố đông máu nếu cần phải có. Nếu D-dimer tăng từ 500- 1000 µg/L, sử dụng enoxaparine liều ngừa; Nếu D-dimer tăng trên 1000 µg/L, dùng enoxaparine liều điều trị.
6. Các giải pháp điều trị khác
6.1. Thuốc kháng sinh
– Không sử dụng thuốc kháng sinh thường quy cho các trường hợp viêm đường hô hấp trên thuần tuý.
– Với các trường hợp viêm phổi, cấy máu và cấy đờm tìm vi khuẩn và cân nhắc sử dụng kháng sinh phù hợp theo kinh nghiệm có tính năng với các tác nhân vi khuẩn có thể đồng nhiễm gây viêm phổi, (tùy theo thế hệ, dịch tễ, để gợi ý căn do). Điều chỉnh kháng sinh phù hợp theo kháng sinh đồ lúc có kết quả phân lập vi khuẩn.
– Nếu có trạng thái nhiễm trùng huyết, cần cho kháng sinh phổ rộng theo kinh nghiệm sớm, trong khoảng 1 giờ bắt đầu từ xác định nhiễm trùng huyết. Điều chỉnh kháng sinh phù hợp lúc có kết quả vi khuẩn và kháng sinh đồ.
– Các trường hợp nhiễm trùng thứ phát, tùy theo căn do, đặc điểm dịch tễ, kháng kháng sinh để chọn lọc kháng sinh phù hợp.
6.2. Thuốc kháng vi rút
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho SARS-CoV-2 và chứng cớ về hiệu quả, tính an toàn của các thuốc kháng vi rút ức chế sao chép ngược (Antiretroviral hay ARV) và các thuốc kháng vi rút khác (như Chloroquine/Hydroxychloroquine, Remdesivir, Ribavirin). (Bộ Y tế sẽ đưa ra khuyến cáo sau lúc phê chuẩn kết quả các thí điểm lâm sàng của toàn cầu và Việt Nam).
6.3. Corticosteroids toàn thân
– Không sử dụng các thuốc corticosteroids toàn thân thường quy cho viêm đường hô hấp trên hoặc viêm phổi do vi rút trừ lúc có những chỉ định khác.
– Các trường hợp sốc nhiễm trùng, sử dụng hydrocortisone liều thấp nếu có chỉ định (xem phần điều trị sốc nhiễm trùng).
– Tùy theo tiến triển lâm sàng và hình ảnh X-quang phổi của từng trường hợp viêm phổi nặng, có thể sử dụng Dexamethasone chỉ mất khoảng 5-10 ngày.
6.4. Lọc máu ngoài thân thể
Các trường hợp ARDS nặng và/hoặc sốc nhiễm trùng nặng ko phục vụ hoặc phục vụ kém với các giải pháp điều trị thường. Cân nhắc sử dụng các giải pháp lọc máu liên tiếp ngoài thân thể bằng các loại quả lọc có bản lĩnh hấp phụ cytokines.
6.5. Immunoglobuline truyền tĩnh mạch (IVIG)
Tùy từng trường hợp chi tiết, có thể cân nhắc sử dụng IVIG cho những trường hợp bệnh nặng, và/hoặc hội chứng viêm hệ thống ở trẻ con.
6.6. Interferon
Có thể cân nhắc sử dụng interferon cho từng trường hợp chi tiết (nếu có) hoặc các thuốc kích thích sinh Interferon nội sinh.
6.7. Phục hồi tính năng hô hấp
Cân nhắc điều trị hồi phục tính năng hô hấp sớm cho các người bệnh có suy hô hấp.
6.8. Phát hiện và xử trí các bộc lộ tâm thần và thần kinh.
– Bình chọn và điều trị mê sảng, đặc trưng những bệnh nhân nặng: vận dụng các thang điểm bình chọn sảng, xác định và xử lý nguyên cớ và có các giải pháp điều trị sảng phù hợp.
– Bình chọn các tín hiệu lo lắng và trầm cảm; vận dụng các giải pháp phân phối tâm lý xã hội và các can thiệp phù hợp.
– Phát hiện và xử trí các vấn đề về rối loạn giấc ngủ.
– Cung cấp sức khỏe thần kinh và phân phối tâm lý xã hội căn bản cho tất cả những người nghi ngại hoặc công nhận mắc COVID-19.
7. Phòng ngừa biến chứng
Với các trường hợp nặng điều trị tại các đơn vị hồi sức hăng hái, cần ngừa các biến chứng hay gặp sau:
7.1. Viêm phổi liên can đến thở máy
Vận dụng và tuân thủ gói ngừa viêm phổi liên can đến thở máy:
– Nên đặt ống NKQ đường mồm.
– Đặt người bệnh nằm tư thế đầu cao 30-45 độ.
– Vệ sinh răng mồm.
– Sử dụng hệ thống hút kín, định kỳ làm thoát nước đọng trong dây máy thở.
– Sử dụng bộ dây máy thở mới cho mỗi bệnh nhân; chỉ thay dây máy thở lúc bẩn hoặc hư hỏng khi mà người bệnh đang thở máy.
– Thay bình làm ấm/ẩm lúc bị hỏng, bẩn, hoặc sau mỗi 5-7 ngày.
7.2. Phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch
– Người béo hoặc trẻ béo nhập viện, dùng Heparine trọng lượng phân tử thấp, (liều lượng theo thế hệ và cân nặng) tiêm dưới da, 2 lần/ngày nếu ko có chống chỉ định.
– Nếu có chống chỉ định; sử dụng các giải pháp cơ học.
– Theo dõi bệnh nhân COVID-19 nếu có các tín hiệu nghi ngại tắc mạch như đột quỵ, tắc mạch sâu, nhồi máu phổi, hội chứng vành cấp. Nếu có các tín hiệu nghi ngại, cần vận dụng các giải pháp chẩn đoán và điều trị phù hợp.
7.3. Nhiễm trùng máu liên can đến đường truyền trung tâm
Sử dụng bảng kiểm để theo dõi vận dụng các gói ngừa lúc đặt đường truyền và đường truyền trung tâm. Rút đường truyền trung tâm lúc ko cần phải có.
7.4. Loét do tỳ đè
Xoay trở người bệnh thường xuyên
7.5. Viêm loét bao tử do stress và xuất huyết tiêu hóa
– Cho ăn qua đường tiêu hóa sớm (trong khoảng 24-48 giờ sau nhập viện)
– Dùng thuốc kháng H2 hoặc ức chế bơm proton cho những người bệnh có nguy cơ xuất huyết tiêu hóa như thở máy ≥ 48 giờ, rối loạn đông máu, điều trị thay thế thận, có bệnh gan, nhiều bệnh nền kèm theo, và suy tính năng đa cơ quan.
7.6. Yếu cơ liên can đến điều trị hồi sức
Khi có thể, hăng hái cho đi lại sớm trong giai đoạn điều trị.
8. 1 số quần thể đặc trưng
8.1. Phụ nữ mang thai:
Khi nghi ngại hoặc khẳng định nhiễm SARS-CoV-2 cần được điều trị theo các giải pháp như trên, bên cạnh đó cần để ý đến những chỉnh sửa sinh lý lúc mang thai.
8.2. Người cao tuổi.
Người cao tuổi với các bệnh lý nền kèm theo tăng nguy cơ mắc bệnh nặng và tử vong. Chăm sóc và điều trị cần phối hợp các chuyên khoa, cần để ý đến những chỉnh sửa sinh lý ở người cao tuổi, cũng như tương tác thuốc trong giai đoạn điều trị.
IX. TIÊU CHUẨN XUẤT VIỆN
1. Người bệnh được xuất viện lúc có đủ các tiêu chuẩn sau:
– Hết sốt chí ít 3 ngày.
– Các triệu chứng lâm sàng cải thiện, toàn trạng tốt, các tín hiệu sống sót bất biến, tính năng các cơ quan phổ biến, xét nghiệm máu trở về phổ biến, X-quang phổi cải thiện.
– Ba mẫu bệnh phẩm (các mẫu lấy cách nhau chí ít 1 ngày) xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2 bằng cách thức realtime RT-PCR.
2. Theo dõi sau xuất viện
Người bệnh cần tiếp diễn được cách ly thích hợp tại nhà dưới sự giám sát giám sát của y tế cơ sở và CDC địa phương thêm 14 ngày nữa và theo dõi thân nhiệt tại nhà 2 lần/ngày, nếu thân nhiệt cao hơn 38oC ở 2 lần đo liên tục hoặc có các tín hiệu thất thường khác, phải tới khám lại ngay tại các cơ sở y tế.

Tagscovid 19 SARS-CoV-2 Virus Corona

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Quyết #định #3351QĐBYT

Quyết định 3351/QĐ-BYT

Chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 đã được Bộ Y tế ban hành tại Quyết định 3351/QĐ-BYT vào ngày 29/07/2020. Hiệu lực của văn bản luật pháp này sẽ tính từ lúc ngày được ban hành. Sau đây sẽ là nội dung cụ thể của quyết định này, xin mời các bạn cùng tham khảo.

BỘ Y TẾ_____
Số: 3351/QĐ-BYT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc ________________________
Hà Nội, ngày 29 tháng 7 5 2020

QUYẾT ĐỊNH 3351/QĐ-BYT
Về việc ban hành Chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 do chủng vi rút Corona mới (SARS-Cov-2)
___________
BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
Căn cứ Nghị định số 75/2017/NĐ-CP ngày 20/6/2017 của Chính phủ quy định tính năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;
Theo quan điểm của Hội đồng chuyên môn cập nhật, bổ sung Chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị viêm hô hấp cấp tính do chủng vi rút Corona mới (nCoV) được thành lập tại Quyết định số 319/QĐ-BYt ngày 06/2/2020 của Bộ trưởng;
Theo đề xuất của Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh- Bộ Y tế,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này “Chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 do chủng vi rút Corona mới (SARS-CoV-2)” thay thế “Chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị viêm đường hô hấp cấp do SARS-CoV-2 (COVID-19)” ban hành kèm theo Quyết định số 1344/QĐ-BYT ngày 25/3/2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực tính từ lúc ngày ký, ban hành.
Điều 3. Các Ông/Bà: Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh; Chánh Thanh tra; Tổng Cục trưởng, Cục trưởng, Vụ trưởng các Tổng Cục, Cục, Vụ thuộc Bộ Y tế; Giám đốc các Bệnh viện, Viện có giường bệnh trực thuộc Bộ Y tế; Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thị thành trực thuộc Trung ương; Thủ trưởng y tế các cấp chịu nghĩa vụ thi hành Quyết định này.

Nơi nhận:– Như điều 3;– Phó TTgCP. Vũ Đức Đam- Trưởng BCĐQGPhòng CD COVID-19 (để báo cáo);– Quyền Bộ trưởng (để báo cáo);– Các Thứ trưởng (để phối hợp chỉ huy);– Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (để phối hợp);– Cổng TTĐT Bộ Y tế; website Cục QLKCB;– Lưu: VT; KCB.

KT.BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNGNguyễn Trường SơnTrưởng Tiểu ban điều trị- Ban chỉ huy QG PCD COVID-19

BỘ Y TẾ_____

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc ________________________

HƯỚNG DẪN
Chẩn đoán và điều trị COVID-19 do chủng vi rút Corona mới (SARS-Cov-2)
(Ban hành kèm theo Quyết định số 3351/QĐ-BYT ngày 29 tháng 7 5 2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
_________________
I. ĐẠI CƯƠNG
Vi rút Corona (CoV) là 1 họ virút lây nhiễm từ động vật sang người và gây bệnh cho người từ cảm lạnh thông thường tới các trạng thái bệnh nặng, dọa nạt tính mệnh của người bệnh như Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS-CoV) 5 2002 và Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS-CoV) 5 2012. Từ tháng 12 5 2019, 1 chủng vi rút corona mới (SARS-CoV-2) đã được xác định là căn do gây dịch nhiễm trùng hô hấp cấp tính (COVID-19) tại thị thành Vũ Hán (tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc), sau ấy lan rộng ra toàn Trung Quốc và cho đến nay đa phần các nước trên toàn cầu. Ngày 11/3/2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã ban bố COVID-19 là 1 đại dịch thế giới. Chủng SARS-CoV-2 ngoài lây nhiễm từ động vật sang người, còn lây trực tiếp từ người sang người chính yếu qua giọt bắn đường hô hấp và qua đường xúc tiếp. Vi rút cũng có bản lĩnh lây nhiễm qua đường ko khí qua khí dung (aerosol), đặc trưng tại các cơ sở y tế và những nơi đông người và ở ko gian kín. Cho đến nay, lây nhiễm theo đường phân-miệng chưa có chứng cớ rõ ràng.
Người bệnh COVID-19 có bộc lộ lâm sàng nhiều chủng loại: từ nhiễm ko có triệu chứng, đến những bộc lộ bệnh lý nặng như viêm phổi nặng, suy hô hấp, sốc nhiễm trùng, suy tính năng đa cơ quan và tử vong, đặc trưng ở những người cao tuổi, người có bệnh mạn tính hay sút giảm miễn nhiễm với số lượng tế bào TCD4 giảm dưới 250 tế bào/mm3, người có D-Dimer tăng cao hoặc có đồng nhiễm hay bội nhiễm các căn do khác như vi khuẩn, nấm.
Hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng COVID-19 nên chính yếu là điều trị phân phối và điều trị triệu chứng. Các giải pháp phòng bệnh chính là phát hiện sớm và cách ly ca bệnh.
II. CHẨN ĐOÁN
1. Khái niệm ca bệnh
1.1. Trường hợp bệnh nghi ngại
Bao gồm các trường hợp:
A. Người bệnh có sốt và/hoặc viêm đường hô hấp cấp tính ko lý giải được bằng các nguyên cớ khác.
B. Người bệnh có bất cứ triệu chứng hô hấp nào VÀ có tiền sử tới/qua/ở/về từ vùng dịch tễ* có bệnh COVID-19 trong vòng 14 ngày trước lúc phát khởi các triệu chứng HOẶC xúc tiếp gần (**) với trường hợp bệnh nghi ngại hoặc xác định COVID-19 trong vòng 14 ngày trước lúc phát khởi các triệu chứng.
* Vùng dịch tễ: được xác định là những non sông, vùng bờ cõi có ghi nhận ca mắc COVID-19 lây nhiễm nội địa, hoặc nơi có ổ dịch đang hoạt động tại Việt Nam theo “Chỉ dẫn tạm bợ giám sát và phòng, chống COVID-19” của Bộ Y tế và được cập nhật bởi Cục Y tế ngừa.
** Tiếp xúc gần: bao gồm
– Tiếp xúc tại các cơ sở y tế, bao gồm: trực tiếp người bệnh COVID-19; làm việc cộng với viên chức y tế mắc COVID-19; đến thăm người bệnh hoặc ở cùng phòng bệnh có người bệnh mắc COVID-19.
– Tiếp xúc trực tiếp trong vòng cách ≤ 2 mét với trường hợp bệnh nghi ngại hoặc xác định mắc COVID-19 trong giai đoạn mắc bệnh.
– Sống cùng nhà với trường hợp bệnh nghi ngại hoặc xác định mắc COVID-19 trong giai đoạn mắc bệnh.
– Cùng nhóm làm việc hoặc cùng phòng làm việc với ca bệnh xác định hoặc ca bệnh nghi ngại trong giai đoạn mắc bệnh.
– Cùng nhóm: du hý, công việc, vui chơi, buổi liên hoan, cuộc họp … với ca bệnh xác định hoặc ca bệnh nghi ngại trong giai đoạn mắc bệnh.
– Di chuyển trên cùng công cụ (ngồi cùng hàng, trước hoặc sau 2 hàng ghế) với trường hợp bệnh nghi ngại hoặc xác định mắc COVID-19 trong giai đoạn mắc bệnh.
1.2. Trường hợp bệnh xác định
Là trường hợp bệnh nghi ngại hoặc bất kỳ ai có xét nghiệm dương tính với vi rút SARS-CoV-2 được tiến hành bởi các cơ sở xét nghiệm do Bộ Y tế cho phép khẳng định.
III. TRIỆU CHỨNG
1. Lâm sàng
– Thời gian ủ bệnh: từ 2-14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày.
– Khởi phát: Triệu chứng hay gặp là sốt, ho khan, mỏi mệt và đau cơ. 1 số trường hợp đau họng, nghẹt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, ho có đờm, nôn và đi tả.
– Diễn biến:
+ Đa phần người bệnh (khoảng hơn 80%) chỉ sốt nhẹ, ho, mỏi mệt, ko bị viêm phổi và thường tự bình phục sau khoảng 1 tuần. Tuy nhiên 1 số trường hợp ko có bộc lộ triệu chứng lâm sàng nào.
+ Khoảng 14% số bệnh nhân diễn biến nặng như viêm phổi, viêm phổi nặng cần nhập viện, khoảng 5% cần điều trị tại các đơn vị hồi sức hăng hái với các bộc lộ hô hấp cấp (thở nhanh, không thở được, tím tái, …), hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS), sốc nhiễm trùng, suy tính năng các cơ quan bao gồm thương tổn thận và thương tổn cơ tim, dẫn tới tử vong.
+ Thời gian trung bình bắt đầu từ có triệu chứng ban sơ đến lúc diễn biến nặng thường khoảng 7-8 ngày.
+ Tử vong xảy ra nhiều hơn ở người cao tuổi, người sút giảm miễn nhiễm và mắc các bệnh mạn tính kèm theo. Ở người béo, các nhân tố tiên đoán tăng nguy cơ tử vong là tuổi cao, điểm suy đa tạng SOFA cao lúc nhập viện và nồng độ D-dimer > 1 μg/L.
– Thời kỳ bình phục: Sau quá trình toàn phát 7-10 ngày, nếu ko có ARDS bệnh nhân sẽ hết sốt các tín hiệu lâm sàng dần quay về phổ biến và khỏi bệnh.
– Chưa có chứng cớ dị biệt về các bộc lộ lâm sàng của COVID-19 ở nữ giới mang thai.
– Ở trẻ con, đa phần trẻ mắc Covid-19 có các các bộc lộ lâm sàng nhẹ hơn người béo, hoặc ko có triệu chứng. Các tín hiệu thường gặp ở trẻ con là sốt và ho, hoặc các bộc lộ viêm phổi. Tuy nhiên 1 số trẻ mắc Covid-19 có thương tổn viêm đa cơ quan gần giống bệnh Kawasaski: sốt; ban đỏ hoặc xung huyết giác mạc, hoặc phù nề niêm mạc mồm, bàn tay, chân; suy tuần hoàn; các bộc lộ thương tổn tính năng tim và tăng men tim; rối loạn tiêu hóa; rối loạn đông máu và tăng các chỉ số viêm cấp.
2. Xét nghiệm cận lâm sàng
Các xét nghiệm huyết học, sinh hóa máu chỉnh sửa ko đặc hiệu:
– Số lượng bạch huyết cầu trong máu có thể phổ biến hoặc giảm; số lượng bạch huyết cầu lympho thường giảm, đặc trưng nhóm diễn biến nặng.
– Protein C phản ứng (CRP) phổ biến hoặc tăng, procalcitonin (PCT) thường phổ biến hoặc tăng nhẹ. 1 số trường hợp có thể tăng nhẹ ALT, AST, CK, LDH.
– Trong các trường hợp diễn biến nặng có các bộc lộ suy tính năng các cơ quan, rối loạn đông máu, tăng D-dimer, rối loạn điện giải và toan kiềm.
3. X-quang và chụp cắt lớp (CT) phổi
– Ở quá trình sớm hoặc chỉ viêm đường hô hấp trên, hình ảnh X-quang phổ biến.
– Khi có viêm phổi, thương tổn thường ở 2 bên với tín hiệu viêm phổi kẽ hoặc đám mờ (hoặc kính mờ) lan tỏa, ở ngoại vi hay thùy dưới. Thương tổn có thể tiến triển nhanh trong ARDS. Ít lúc gặp tín hiệu tạo hang hay tràn dịch, tràn khí màng phổi.
4. Xét nghiệm khẳng định căn do
– Phát hiện SARS-CoV-2 bằng kỹ thuật real-time RT-PCR hoặc giải trình tự gene từ các mẫu bệnh phẩm.
IV. PHÂN LOẠI CÁC THỂ LÂM SÀNG
Bệnh COVID-19 có các thể bệnh trên lâm sàng như sau:
1. Thể ko triệu chứng: là người nhiễm SARS-CoV-2 được khẳng định bằng xét nghiệm realtime RT-PCR dương tính, nhưng mà ko có triệu chứng lâm sàng.
2. Chừng độ nhẹ: Viêm đường hô hấp trên cấp tính
– Người bệnh nhiễm SARS-CoV-2 có các triệu chứng lâm sàng ko đặc hiệu như như sốt, ho khan, đau họng, nghẹt mũi, mỏi mệt, đau đầu, đau mỏi cơ.
– Không có các tín hiệu của viêm phổi hoặc thiếu ô xy.
3. Chừng độ vừa: Viêm phổi
– Người béo và trẻ béo: bị viêm phổi (sốt, ho, không thở được, thở nhanh) và ko có tín hiệu viêm phổi nặng, SpO2 ≥ 90% lúc thở khí trời.
– Trẻ bé: trẻ có ho hoặc không thở được và thở nhanh. Thở nhanh được xác định lúc nhịp thở ≥ 60 lần/phút ở trẻ dưới 2 tháng; ≥ 50 lần/phút ở trẻ từ 2 – 11 tháng; ≥ 40 lần/phút ở trẻ từ 1 – 5 tuổi) và ko có các tín hiệu của viêm phổi nặng.
– Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, bên cạnh đó, hình ảnh X-quang, siêu âm hoặc CT phổi thấy hình ảnh viêm phổi kẽ hoặc phát hiện các biến chứng.
4. Chừng độ nặng- Viêm phổi nặng
– Người béo và trẻ béo: sốt hoặc nghi ngại nhiễm trùng hô hấp, kèm theo bất cứ 1 tín hiệu sau: nhịp thở > 30 lần/phút, không thở được nặng, hoặc SpO2 ≤ 93% lúc thở khí phòng.
– Trẻ bé: ho hoặc không thở được và có chí ít 1 trong các tín hiệu sau đây: Tím tái hoặc SpO2 < 90%; suy hô hấp nặng (thở rên, rút lõm lồng ngực);
+ Hoặc trẻ được chẩn đoán viêm phổi và có bất cứ tín hiệu nặng sau: chẳng thể uống/bú được; rối loạn tinh thần (li bì hoặc hôn mê); co giật. Có thể có các tín hiệu khác của viêm phổi như rút lõm lồng ngực, thở nhanh (tần số thở/phút như trên).
– Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, chụp X-quang phổi để xác định các biến chứng.
5. Chừng độ nguy nan
5.1. Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS)
– Khởi phát: các triệu chứng hô hấp mới hoặc xấu đi trong khoảng 1 tuần tính từ lúc lúc có các triệu chứng lâm sàng.
– X-quang, CT scan hoặc siêu âm phổi: hình ảnh mờ 2 phế trường nhưng mà chẳng hề do tràn dịch màng phổi, xẹp thùy phổi hoặc các nốt ở phổi.
– Nguồn gốc của phù phổi chẳng hề do suy tim hoặc quá tải dịch. Cần bình chọn khách quan (siêu âm tim) để loại bỏ phù phổi do sức ép thủy tĩnh nếu ko thấy các nhân tố nguy cơ.
– Thiếu ô xy máu: ở người béo, phân loại dựa vào chỉ số PaO2/FiO2 (P/F) và SpO2/FiO2 (S/F) lúc ko có kết quả PaO2:
+ ARDS nhẹ: 200 mmHg < P/F ≤300 mmHg với PEEP hoặc CPAP ≥5 centimet H2O.
+ ARDS vừa: 100 mmHg <P/F ≤200 mmHg với PEEP ≥5 cmH2O).
+ ARDS nặng: P/F ≤100 mmHg với PEEP ≥ 5 cmH2O
+ Khi ko có PaO2: S/F ≤315 gợi ý ARDS (kể cả những người bệnh ko thở máy)
– Thiếu ô xy máu: ở trẻ con: dựa vào các chỉ số OI (chỉ số Oxygen hóa: OI = MAP* × FiO2 × 100 / PaO2) (MAP*: sức ép đường thở trung bình) hoặc OSI (chỉ số Oxygen hóa sử dụng SpO2: OSI = MAP × FiO2 × 100 / SpO2) cho người bệnh thở máy thâm nhập, và PaO2/FiO2 hay SpO2/FiO2 cho thở CPAP hay thở máy ko thâm nhập (NIV):
+ NIV BiLevel hoặc CPAP ≥5 cmH2O qua mặt nạ: PaO2/FiO2≤ 300 mmHg hoặc SpO2/FiO2 ≤ 264
+ ARDS nhẹ (thở máy thâm nhập): 4 ≤OI<8 hoặc 5≤OSI<7,5
+ ARDS vừa (thở máy thâm nhập): 8 ≤OI<16 hoặc 7,5≤OSI<12,3
+ ARDS nặng (thở máy thâm nhập): OI ≥16 hoặc OSI ≥12,3
5.2. Nhiễm trùng huyết (sepsis)
– Người béo: có tín hiệu rối loạn tính năng các cơ quan:
+ Thay đổi tinh thần: ngủ gà, tơ mơ, hôn mê
+ Khó thở hoặc thở nhanh, độ bão hòa ô xy thấp
+ Nhịp tim nhanh, mạch bắt yếu, chi lạnh, hoặc hạ huyết áp, da nổi vân tím
+ Thiểu niệu hoặc vô niệu
+ Xét nghiệm có rối loạn đông máu, giảm tiểu cầu, nhiễm toan, tăng lactate, tăng bilirubine…
– Trẻ em: lúc nghi ngại hoặc khẳng định do nhiễm trùng và có chí ít 2 tiêu chuẩn của hội chứng phục vụ viêm hệ thống (SIRS) và 1 trong số ấy phải là chỉnh sửa thân nhiệt hoặc số lượng bạch huyết cầu thất thường.
5.3. Sốc nhiễm trùng
– Người béo: hạ huyết áp kéo dài mặc dầu đã hồi sức dịch, phải sử dụng thuốc vận mạch để duy trì huyết áp động mạch trung bình (MAP) ≥65 mmHg và nồng độ lactate huyết thanh >2 mmol/L.
– Trẻ em: sốc nhiễm trùng xác định lúc có:
+ Bất cứ trạng thái hạ huyết áp nào: lúc huyết áp tâm thu < 5 bách phân vị hoặc > 2SD dưới ngưỡng phổ biến theo thế hệ, hoặc (trẻ <1 tuổi: < 70 mmHg; trẻ từ 1-10 tuổi: < 70 + 2 x tuổi; trẻ > 10 tuổi: <90 mmHg).
+ Hoặc có bất cứ 2-3 tín hiệu sau: chỉnh sửa tinh thần, nhịp tim nhanh hoặc chậm (< 90 nhịp/phút hoặc >160 nhịp/phút ở trẻ nhũ nhi, và <70 nhịp/phút hoặc >150 nhịp/phút ở trẻ bé); thời kì làm đầy mao quản kéo dài (>2 giây); hoặc giãn mạch ấm/mạch nẩy; thở nhanh; da nổi vân tím hoặc có chấm xuất huyết hoặc ban xuất huyết; tăng nồng độ lactate; thiểu niệu; tăng hoặc hạ thân nhiệt.
5.4. Các biến chứng nặng- nguy nan khác: nhồi máu phổi, đột quỵ, sảng. Cần theo dõi sát và vận dụng các giải pháp chẩn đoán xác định lúc nghi ngại và có giải pháp điều trị thích hợp.
V. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
– Cần chẩn đoán phân biệt viêm đường hô hấp cấp do SARS-CoV-2 (COVID-19) với viêm đường hô hấp cấp do các tác nhân hay gặp khác, bao gồm cả các tác nhân gây dịch bệnh nặng đã biết:
+ Vi rút cúm mùa (A/H3N2, A/H1N1, B), vi rút á cúm, vi rút hợp bào hô hấp (RSV), rhinovirus, myxovirrus, adenovirus.
+ Hội chứng cảm cúm do các chủng coronavirus thông thường.
+ Các căn do khuẩn vi khuẩn hay gặp, bao gồm các các vi khuẩn ko điển chừng như Mycoplasma pneumonia etc.
+ Các căn do khác có thể gây viêm đường hô hấp cấp tính nặng như cúm gia cầm A/H5N1, A/H7N9, A/H5N6, SARS-CoV, và MERS-CoV.
– Cần chẩn đoán phân biệt các trạng thái nặng của người bệnh (suy hô hấp, suy tính năng các cơ quan…) do các căn do khác hoặc do trạng thái nặng của các bệnh lý kinh niên kèm theo.
VI. XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN, GIÁM SÁT VÀ BÁO CÁO CA BỆNH
– Các trường hợp bệnh nghi ngại, cần làm xét nghiệm khẳng định nhiễm SARS-CoV-2.
– Lấy dịch đường hô hấp trên (dịch hầu họng & mũi họng) để xét nghiệm xác định vi rút bằng kỹ thuật realtime RT- PCR.
– Khi mẫu bệnh phẩm dịch đường hô hấp trên âm tính nhưng mà vẫn nghi ngại về lâm sàng, cần lấy dịch đường hô hấp dưới (đờm, dịch hút phế quản, dịch rửa phế nang).
– Nếu người bệnh thở máy có thể chỉ cần lấy dịch đường hô hấp dưới.
– Không khuyến cáo sử dụng các xét nghiệm phát hiện kháng thể kháng SARS-CoV-2 để chẩn đoán đang mắc COVID-19.
– Những trường hợp bệnh nghi ngại, kể cả ở những trường hợp đã xác định được tác nhân thông thường khác, cần làm xét nghiệm khẳng định để xác định SARS-CoV-2 chí ít 1 lần.
– Cấy máu nếu nghi ngại hoặc có nhiễm trùng huyết, nên cấy máu trước lúc dùng kháng sinh. Cần xét nghiệm các căn do vi khuẩn, vi rút khác nếu có các tín hiệu lâm sàng nghi ngại.
– Cần tiến hành đầy đủ các xét nghiệm cận lâm sàng và dò hỏi thường quy tùy từng trạng thái người bệnh để chẩn đoán, tiên đoán và theo dõi người bệnh.
– Trường hợp xác định mắc COVID-19, cần lấy mẫu bệnh phẩm dịch hô hấp và xét nghiệm nhắc lại với khoảng cách mỗi 2-4 ngày hoặc ngắn hơn nếu cần phải có cho đến lúc kết quả âm tính.
– Những trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 cần báo cáo Bộ Y tế hoặc CDC địa phương.
– Xác định về mặt dịch tễ học liên can tới các trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 như: nơi sinh sống, nơi làm việc, chuyển di, lập danh sách những người đã xúc tiếp trực tiếp, tuân thủ theo chỉ dẫn giám sát và phòng, chống COVID-19 của Bộ Y tế.
VII. CÁC BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM TỨC THÌ
Phòng ngừa lây truyền là 1 bước quan trọng trong chẩn đoán và điều trị người bệnh mắc COVID-19, bởi vậy cần được tiến hành ngay lúc người bệnh đến nơi đón tiếp ở các cơ sở y tế. Các giải pháp ngừa chuẩn phải được vận dụng ở tất cả các khu vực trong cơ sở y tế.
1. Tại khu vực chắt lọc & phân loại bệnh nhân.
– Cho người bệnh nghi ngại đeo khẩu trang và chỉ dẫn đến khu vực cách ly.
– Đảm bảo khoảng cách giữa các người bệnh ≥ 2 mét.
– Chỉ dẫn người bệnh che mũi mồm lúc ho, hắt xì và rửa tay ngay sau lúc xúc tiếp dịch hô hấp.
2. Vận dụng các giải pháp ngừa giọt bắn.
– Cần đeo khẩu trang y tế nếu làm việc trong vòng cách 2m với người bệnh.
– Dành đầu tiên cách ly người bệnh nghi ngại ở phòng riêng, hoặc sắp đặt nhóm người bệnh cùng căn do trong 1 phòng. Nếu ko xác định được căn do, xếp người bệnh có chung các triệu chứng lâm sàng và nhân tố dịch tễ. Phòng bệnh cần được đảm bảo thông thoáng.
– Khi gần người bệnh có triệu chứng hô hấp (ho, hắt xì) cần sử dụng phương tiện bảo vệ mắt.
– Giảm thiểu người bệnh vận động trong cơ sở y tế và người bệnh phải đeo khẩu trang lúc ra khỏi phòng.
3. Vận dụng các giải pháp ngừa xúc tiếp.
– Nhân viên y tế phải sử dụng các trang thiết bị bảo vệ tư nhân (khẩu trang y tế, kính bảo vệ mắt, bít tất tay, áo choàng) lúc vào phòng bệnh và cởi bỏ lúc ra khỏi phòng và tránh đưa tay bẩn lên mắt, mũi, mồm.
– Vệ sinh và khử trùng các phương tiện (ống nghe, nhiệt biểu) trước lúc sử dụng cho mỗi người bệnh.
– Tránh làm nhiễm bẩn các bề mặt môi trường bao quanh như cửa phòng, công tắc đèn, quạt…
– Bảo đảm phòng bệnh thoáng khí, mở các cửa sổ phòng bệnh (nếu có).
– Giảm thiểu vận động người bệnh
– Vệ sinh tay
4. Vận dụng các giải pháp ngừa lây nhiễm qua đường ko khí.
– Các viên chức y tế lúc khám, người bệnh đã xác định chẩn đoán, hoặc/và làm các thủ thuật như đặt ống nội khí quản, hút đường hô hấp, soi phế quản, cấp cứu tim phổi… phải sử dụng các thiết bị bảo vệ tư nhân bao gồm đeo bít tất tay, áo choàng, bảo vệ mắt, khẩu trang N95 hoặc tương đương.
– Nếu có thể, tiến hành thủ thuật ở phòng riêng, hoặc phòng sức ép âm.
– Giảm thiểu người không phù hợp ở trong phòng lúc làm thủ thuật
VIII. ĐIỀU TRỊ
1. Nguyên tắc điều trị chung
– Phân loại người bệnh và xác định nơi điều trị theo các chừng độ nghiêm trọng của bệnh:
+ Các trường hợp bệnh nghi ngại (có thể xem như trạng thái cấp cứu): cần được khám, theo dõi và cách ly ở khu riêng tại các cơ sở y tế, lấy bệnh phẩm đúng cách để làm xét nghiệm đặc hiệu chẩn đoán xác định.
+ Trường hợp bệnh xác định cần được theo dõi và điều trị cách ly hoàn toàn.
+ Ca bệnh nhẹ (viêm đường hô hấp trên, viêm phổi nhẹ) điều trị tại các khoa phòng thông thường.
+ Ca bệnh nặng (viêm phổi nặng, nhiễm trùng huyết) cần được điều trị tại các phòng cấp cứu của các khoa phòng hoặc hồi sức hăng hái.
+ Ca bệnh nặng-nguy kịch: (suy hô hấp nặng, ARDS, sốc nhiễm trùng, suy đa cơ quan) cần được điều trị hồi sức hăng hái.
– Do chưa có thuốc đặc hiệu, điều trị phân phối và điều trị triệu chứng là chính yếu.
– Cá thể hóa các giải pháp điều trị cho từng trường hợp, đặc trưng là các ca bệnh nặng-nguy kịch.
– Có thể vận dụng 1 số phác đồ điều trị nghiên cứu được Bộ Y tế cho phép. bệnh.
– Theo dõi, phát hiện và xử trí kịp thời các trạng thái nặng, biến chứng của bệnh.
2. Các giải pháp theo dõi và điều trị chung
– Nghỉ ngơi tại giường, phòng bệnh cần được bảo đảm thông thoáng, có thể sử dụng hệ thống lọc ko khí hoặc các giải pháp tiệt trùng phòng bệnh khác như đèn cực tím (nếu có).
– Vệ sinh mũi họng, có thể giữ ẩm mũi bằng bé dung dịch nước muối sinh lý, xúc mồm họng bằng các dung dịch vệ sinh mồm họng thông thường.
– Giữ ấm
– Uống đủ nước, bảo đảm thăng bằng dịch, điện giải.
– Thận trọng lúc truyền dịch cho người bệnh viêm phổi nhưng mà ko có tín hiệu của sốc.
– Bảo đảm dinh dưỡng và tăng lên thể trạng, bổ xung vitamin nếu cần phải có. Với các người bệnh nặng – nguy nan, vận dụng chỉ dẫn dinh dưỡng của Hội Hồi sức cấp cứu và chống độc đã ban hành.
– Hạ sốt nếu sốt cao, có thể dùng paracetamol liều 10-15 mg/kg/lần, ko quá 60 mg/kg/ngày cho trẻ con và ko quá 2 gam/ngày với người béo.
– Giảm ho bằng các thuốc giảm ho thông thường nếu cần phải có.
– Bình chọn, điều trị, tiên đoán các trạng thái bệnh lý kinh niên kèm theo (nếu có).
– Tham mưu, phân phối tâm lý, cổ vũ người bệnh.
– Theo dõi chặt chẽ các tín hiệu lâm sàng, tiến triển của thương tổn phổi trên phim X-quang và/hoặc CT phổi, đặc trưng trong vòng ngày thứ 7-10 của bệnh, phát hiện các tín hiệu tiến triển nặng của bệnh như suy hô hấp, suy tuần hoàn để có các giải pháp can thiệp kịp thời.
– Tại các cơ sở điều trị cần có các trang thiết bị, phương tiện cấp cứu tối thiểu: máy theo dõi độ bão hòa ô xy, hệ thống/bình cung ứng ô xy, thiết bị thở ô xy (gọng mũi, mask thông thường, mask có túi dự trữ), bóng, mặt nạ, và phương tiện đặt ống nội khí quản thích hợp các thế hệ.
3. Điều trị suy hô hấp
3.1. Liệu pháp ô xy và theo dõi
– Cần cho thở ô xy ngay với bệnh nhân viêm đường hô hấp cấp nặng có suy hô hấp, thiếu ô xy máu, sốc để đạt đích SpO2 > 94%.
– Ở người béo nếu có các tín hiệu cấp cứu (gắng công nặng, rút lõm lồng ngực, tím tái, giảm thông khí phổi) cần làm thông thoáng đường thở và cho thở ô xy ngay để đạt đích SpO2 ≥ 94 % trong giai đoạn hồi sức. Cho thở ô xy qua gọng mũi (1-4 lít/phút), hoặc mask thông thường, hoặc mask có túi dự trữ, với lưu lượng ban sơ là 5 lít/phút và nâng cao đến 10-15 lít/phút nếu cần. Khi bệnh nhân bất biến hơn, điều chỉnh để đạt đích SpO2 ≥ 90 % cho người béo, và SpO2 ≥ 92-95% cho nữ giới mang thai.
– Với trẻ con, nếu trẻ có các tín hiệu cấp cứu như không thở được nặng, tím tái, sốc, hôn mê, co giật…, cần cung ứng ô xy trong giai đoạn cấp cứu để đạt đích SpO2 ≥ 94%. Khi trạng thái trẻ bất biến, điều chỉnh để đạt đích SpO2 ≥ 90 %.
– Theo dõi sát trạng thái người bệnh để phát hiện các tín hiệu nặng, thất bại với liệu pháp thở ô xy để có can thiệp kịp thời.
3.2. Điều trị suy hô hấp nguy nan & ARDS
– Khi trạng thái giảm ô xy máu ko được cải thiện bằng các giải pháp thở ô xy, SpO2 ≤ 92%, hoặc/và gắng công hô hấp: có thể cân nhắc chỉ định thở thở ô xy dòng cao qua gọng mũi (High Flow Nasal Oxygen), CPAP, hoặc thở máy ko thâm nhập BiPAP.
– Không vận dụng giải pháp thở máy ko thâm nhập ở người bệnh có rối loạn huyết động, suy tính năng đa cơ quan, và rối loạn tinh thần.
– Cần theo dõi chặt chẽ người bệnh để phát hiện các tín hiệu thất bại để có can thiệp kịp thời. Nếu trạng thái thiếu ô xy ko cải thiện với các giải pháp phân phối hô hấp ko thâm nhập, cần đặt ống nội khí quản và thở máy thâm nhập.
– Cần đặt ống nội khí quản bởi người có kinh nghiệm, vận dụng các giải pháp ngừa lây truyền qua ko khí lúc đặt ống nội khí quản.
– Cung cấp hô hấp: vận dụng phác đồ phân phối hô hấp trong ARDS cho người béo và trẻ con. Chú ý các điểm sau:
+ Thở máy: vận dụng chiến lược thở máy bảo vệ phổi, với thể tích khí lưu thông thấp (4-8 ml/kg trọng lượng lý tưởng) và sức ép thì thở vào thấp (giữ sức ép cao nguyên hay Pplateau < 30 cmH2O, ở trẻ con, giữ Pplateau < 28 cmH2O). Thể tích khí lưu thông ban sơ 6 ml/kg, điều chỉnh theo sự phục vụ của người bệnh và theo tiêu chí điều trị.
+ Chấp nhận tăng CO2, giữ đích pH ≥ 7.20.
+ Trường hợp ARDS nặng ở người béo, cân nhắc vận dụng thở máy ở tư thế nằm sấp 12-16 giờ/ngày (nếu có thể).
+ Có thể vận dụng chiến lược PEEP cao cho ARDS vừa và nặng. Tùy theo độ co giãn (compliance) của phổi để setup PEEP thích hợp.
+ Tránh ngắt kết nối người bệnh khỏi máy thở dẫn đến mất PEEP và xẹp phổi. Nên sử dụng hệ thống hút nội khí quản kín.
+ Ở trẻ con và trẻ lọt lòng, có thể thở máy cao tần (HFOV-High Frequency Oscillatory Ventilation) sớm (nếu có), hoặc lúc thất bại với thở máy thông thường. Không sử dụng HFOV cho người béo.
+ Cần bảo đảm an thần, giảm đau phù hợp lúc thở máy. Trong trường hợp ARDS vừa- nặng, có thể dùng thuốc giãn cơ, nhưng mà ko nên dùng thường quy.
– Kiểm soát thăng bằng dịch chặt chẽ, tránh quá tải dịch, đặc trưng ngoài quá trình bù dịch hồi sức tuần hoàn.
– Trường hợp thiếu ô xy nặng, dằng dai, thất bại với các giải pháp điều trị thông thường, cân nhắc chỉ định và sử dụng các kỹ thuật bàn bạc ô xy qua màng ngoài thân thể (ECMO) cho từng trường hợp chi tiết và tiến hành ở những nơi có đủ điều kiện khai triển kỹ thuật này.
– Do ECMO chỉ có thể tiến hành được ở 1 số cơ sở y tế béo, nên trong trường hợp cân nhắc chỉ định ECMO, các cơ sở cần liên hệ, chuyển vận người bệnh sớm và tuân thủ thứ tự chuyển vận người bệnh do Bộ Y tế quy định.
4. Điều trị sốc nhiễm trùng
Vận dụng phác đồ điều trị sốc nhiễm trùng cho người béo và trẻ con. Chú ý 1 số điểm sau:
4.1. Hồi sức dịch
– Sử dụng dịch tinh thể đẳng trương như nước muối sinh lý hay Ringer lactat. Tránh dùng các dung dịch tinh thể nhược trương, dung dịch Haes-steril, Gelatin để hồi sức dịch.
– Liều lượng:
+ Người béo: truyền nhanh 250-500 ml, trong 15-30 phút đầu, bình chọn các tín hiệu quá tải dịch sau mỗi lần bù dịch nhanh.
+ Trẻ em: 10-20 ml/kg, truyền tĩnh mạch nhanh trong 30-60 phút đầu, nhắc lại nếu cần phải có, bình chọn các tín hiệu quá tải dịch sau mỗi lần bù dịch nhanh.
– Cần theo dõi sát các tín hiệu của quá tải dịch khi mà hồi sức dịch như suy hô hấp nặng hơn, gan mập, nhịp tim nhanh, tĩnh mạch cổ nổi, phổi có ran ẩm, phù phổi…nếu hiện ra, cần giảm hoặc ngừng truyền dịch.
– Theo dõi các tín hiệu cải thiện tưới máu: huyết áp trung bình > 65 mgHg cho người béo và theo thế hệ ở trẻ con; lượng nước giải (>0.5 ml/kg/giờ cho người béo, và >1 ml/kg/giờ cho trẻ con), cải thiện thời kì làm đầy mao quản, màu sắc da, trạng thái tinh thần, và nồng độ lactat trong máu.
4.2. Thuốc vận mạch
Nếu trạng thái huyết động, tưới máu ko cải thiện, cần cho thuốc vận mạch sớm.
– Người béo: nor-adrenaline là chọn lọc ban sơ, điều chỉnh liều để đạt đích huyết áp động mạch trung bình (MAP) ≥ 65 mmHg và cải thiện tưới máu. Nếu trạng thái huyết áp và tưới máu ko cải thiện hoặc có rối loạn tính năng tim dù đã đạt được đích MAP với dịch truyền và thuốc co mạch, có thể cho thêm dobutamine.
– Trẻ em: adrenaline là chọn lọc ban sơ, có thể cho dopamin, hoặc dobutamine. Trong trường hợp sốc giãn mạch (sức ép mạch hay chênh lệch huyết áp tối đa và tối thiểu >40 mmHg), cân nhắc cho thêm nor-adrenaline. Điều chỉnh liều thuốc vận mạch để đạt đích MAP > 50th bách phân vị theo thế hệ.
– Sử dụng đường truyền tĩnh mạch trung tâm để truyền các thuốc vận mạch. Nếu ko có đường truyền tĩnh mạch trung tâm, có thể dùng đường truyền tĩnh mạch ngoại biên hoặc truyền trong xương. Theo dõi các tín hiệu vỡ mạch và hoại tử.
– Có thể sử dụng các giải pháp dò hỏi huyết động thâm nhập hoặc ko thâm nhập tùy điều kiện tại mỗi cơ sở để bình chọn và theo dõi trạng thái huyết động để điều chỉnh dịch và các thuốc vận mạch theo trạng thái người bệnh.
4.3. Cấy máu và thuốc kháng sinh phổ rộng theo kinh nghiệm sớm trong khoảng 1 giờ xác định sốc nhiễm trùng.
4.4. Kiểm soát đường máu, (giữ nồng độ đường máu từ 8-10 mmol/L), can xi máu, albumin máu, (truyền albumin lúc nồng độ albumin < 30 g/L, giữ albumin máu ≥ 35 g/L).
4.5. Trường hợp có các nhân tố nguy cơ suy thượng thận cấp, hoặc sốc lệ thuộc catecholamine: có thể cho hydrocorticone liều thấp: Người béo hydrocortisone 50 mg tiêm tĩnh mạch mỗi 6 giờ; trẻ con 2 mg/kg/liều trước nhất, sau ấy 0,5-1,0 mg/kg mỗi 6 giờ.
4.6. Truyền khối hồng huyết cầu lúc cần, giữ nồng độ huyết sắc tố ≥ 10 g/dl.
5. Điều trị phân phối tính năng các cơ quan
Tùy từng trạng thái chi tiết của mỗi người bệnh để có các giải pháp phân phối phù hợp.
– Cung cấp tính năng thận:
+ Bảo đảm huyết động, thăng bằng nước và điện giải, thuốc lợi tiểu lúc cần phải có.
+ Nếu trạng thái suy thận nặng, suy tính năng đa cơ quan và/hoặc có quá tải dịch, chỉ định vận dụng các giải pháp thận thay thế như lọc máu liên tiếp, lọc máu gián đoạn, hoặc thẩm phân phúc mạc tùy điều kiện của cơ sở điều trị.
– Cung cấp tính năng gan: nếu có suy gan
– Điều chỉnh rối loạn đông máu: truyền tiểu cầu, plasma tươi, các nhân tố đông máu nếu cần phải có. Nếu D-dimer tăng từ 500- 1000 µg/L, sử dụng enoxaparine liều ngừa; Nếu D-dimer tăng trên 1000 µg/L, dùng enoxaparine liều điều trị.
6. Các giải pháp điều trị khác
6.1. Thuốc kháng sinh
– Không sử dụng thuốc kháng sinh thường quy cho các trường hợp viêm đường hô hấp trên thuần tuý.
– Với các trường hợp viêm phổi, cấy máu và cấy đờm tìm vi khuẩn và cân nhắc sử dụng kháng sinh phù hợp theo kinh nghiệm có tính năng với các tác nhân vi khuẩn có thể đồng nhiễm gây viêm phổi, (tùy theo thế hệ, dịch tễ, để gợi ý căn do). Điều chỉnh kháng sinh phù hợp theo kháng sinh đồ lúc có kết quả phân lập vi khuẩn.
– Nếu có trạng thái nhiễm trùng huyết, cần cho kháng sinh phổ rộng theo kinh nghiệm sớm, trong khoảng 1 giờ bắt đầu từ xác định nhiễm trùng huyết. Điều chỉnh kháng sinh phù hợp lúc có kết quả vi khuẩn và kháng sinh đồ.
– Các trường hợp nhiễm trùng thứ phát, tùy theo căn do, đặc điểm dịch tễ, kháng kháng sinh để chọn lọc kháng sinh phù hợp.
6.2. Thuốc kháng vi rút
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho SARS-CoV-2 và chứng cớ về hiệu quả, tính an toàn của các thuốc kháng vi rút ức chế sao chép ngược (Antiretroviral hay ARV) và các thuốc kháng vi rút khác (như Chloroquine/Hydroxychloroquine, Remdesivir, Ribavirin). (Bộ Y tế sẽ đưa ra khuyến cáo sau lúc phê chuẩn kết quả các thí điểm lâm sàng của toàn cầu và Việt Nam).
6.3. Corticosteroids toàn thân
– Không sử dụng các thuốc corticosteroids toàn thân thường quy cho viêm đường hô hấp trên hoặc viêm phổi do vi rút trừ lúc có những chỉ định khác.
– Các trường hợp sốc nhiễm trùng, sử dụng hydrocortisone liều thấp nếu có chỉ định (xem phần điều trị sốc nhiễm trùng).
– Tùy theo tiến triển lâm sàng và hình ảnh X-quang phổi của từng trường hợp viêm phổi nặng, có thể sử dụng Dexamethasone chỉ mất khoảng 5-10 ngày.
6.4. Lọc máu ngoài thân thể
Các trường hợp ARDS nặng và/hoặc sốc nhiễm trùng nặng ko phục vụ hoặc phục vụ kém với các giải pháp điều trị thường. Cân nhắc sử dụng các giải pháp lọc máu liên tiếp ngoài thân thể bằng các loại quả lọc có bản lĩnh hấp phụ cytokines.
6.5. Immunoglobuline truyền tĩnh mạch (IVIG)
Tùy từng trường hợp chi tiết, có thể cân nhắc sử dụng IVIG cho những trường hợp bệnh nặng, và/hoặc hội chứng viêm hệ thống ở trẻ con.
6.6. Interferon
Có thể cân nhắc sử dụng interferon cho từng trường hợp chi tiết (nếu có) hoặc các thuốc kích thích sinh Interferon nội sinh.
6.7. Phục hồi tính năng hô hấp
Cân nhắc điều trị hồi phục tính năng hô hấp sớm cho các người bệnh có suy hô hấp.
6.8. Phát hiện và xử trí các bộc lộ tâm thần và thần kinh.
– Bình chọn và điều trị mê sảng, đặc trưng những bệnh nhân nặng: vận dụng các thang điểm bình chọn sảng, xác định và xử lý nguyên cớ và có các giải pháp điều trị sảng phù hợp.
– Bình chọn các tín hiệu lo lắng và trầm cảm; vận dụng các giải pháp phân phối tâm lý xã hội và các can thiệp phù hợp.
– Phát hiện và xử trí các vấn đề về rối loạn giấc ngủ.
– Cung cấp sức khỏe thần kinh và phân phối tâm lý xã hội căn bản cho tất cả những người nghi ngại hoặc công nhận mắc COVID-19.
7. Phòng ngừa biến chứng
Với các trường hợp nặng điều trị tại các đơn vị hồi sức hăng hái, cần ngừa các biến chứng hay gặp sau:
7.1. Viêm phổi liên can đến thở máy
Vận dụng và tuân thủ gói ngừa viêm phổi liên can đến thở máy:
– Nên đặt ống NKQ đường mồm.
– Đặt người bệnh nằm tư thế đầu cao 30-45 độ.
– Vệ sinh răng mồm.
– Sử dụng hệ thống hút kín, định kỳ làm thoát nước đọng trong dây máy thở.
– Sử dụng bộ dây máy thở mới cho mỗi bệnh nhân; chỉ thay dây máy thở lúc bẩn hoặc hư hỏng khi mà người bệnh đang thở máy.
– Thay bình làm ấm/ẩm lúc bị hỏng, bẩn, hoặc sau mỗi 5-7 ngày.
7.2. Phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch
– Người béo hoặc trẻ béo nhập viện, dùng Heparine trọng lượng phân tử thấp, (liều lượng theo thế hệ và cân nặng) tiêm dưới da, 2 lần/ngày nếu ko có chống chỉ định.
– Nếu có chống chỉ định; sử dụng các giải pháp cơ học.
– Theo dõi bệnh nhân COVID-19 nếu có các tín hiệu nghi ngại tắc mạch như đột quỵ, tắc mạch sâu, nhồi máu phổi, hội chứng vành cấp. Nếu có các tín hiệu nghi ngại, cần vận dụng các giải pháp chẩn đoán và điều trị phù hợp.
7.3. Nhiễm trùng máu liên can đến đường truyền trung tâm
Sử dụng bảng kiểm để theo dõi vận dụng các gói ngừa lúc đặt đường truyền và đường truyền trung tâm. Rút đường truyền trung tâm lúc ko cần phải có.
7.4. Loét do tỳ đè
Xoay trở người bệnh thường xuyên
7.5. Viêm loét bao tử do stress và xuất huyết tiêu hóa
– Cho ăn qua đường tiêu hóa sớm (trong khoảng 24-48 giờ sau nhập viện)
– Dùng thuốc kháng H2 hoặc ức chế bơm proton cho những người bệnh có nguy cơ xuất huyết tiêu hóa như thở máy ≥ 48 giờ, rối loạn đông máu, điều trị thay thế thận, có bệnh gan, nhiều bệnh nền kèm theo, và suy tính năng đa cơ quan.
7.6. Yếu cơ liên can đến điều trị hồi sức
Khi có thể, hăng hái cho đi lại sớm trong giai đoạn điều trị.
8. 1 số quần thể đặc trưng
8.1. Phụ nữ mang thai:
Khi nghi ngại hoặc khẳng định nhiễm SARS-CoV-2 cần được điều trị theo các giải pháp như trên, bên cạnh đó cần để ý đến những chỉnh sửa sinh lý lúc mang thai.
8.2. Người cao tuổi.
Người cao tuổi với các bệnh lý nền kèm theo tăng nguy cơ mắc bệnh nặng và tử vong. Chăm sóc và điều trị cần phối hợp các chuyên khoa, cần để ý đến những chỉnh sửa sinh lý ở người cao tuổi, cũng như tương tác thuốc trong giai đoạn điều trị.
IX. TIÊU CHUẨN XUẤT VIỆN
1. Người bệnh được xuất viện lúc có đủ các tiêu chuẩn sau:
– Hết sốt chí ít 3 ngày.
– Các triệu chứng lâm sàng cải thiện, toàn trạng tốt, các tín hiệu sống sót bất biến, tính năng các cơ quan phổ biến, xét nghiệm máu trở về phổ biến, X-quang phổi cải thiện.
– Ba mẫu bệnh phẩm (các mẫu lấy cách nhau chí ít 1 ngày) xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2 bằng cách thức realtime RT-PCR.
2. Theo dõi sau xuất viện
Người bệnh cần tiếp diễn được cách ly thích hợp tại nhà dưới sự giám sát giám sát của y tế cơ sở và CDC địa phương thêm 14 ngày nữa và theo dõi thân nhiệt tại nhà 2 lần/ngày, nếu thân nhiệt cao hơn 38oC ở 2 lần đo liên tục hoặc có các tín hiệu thất thường khác, phải tới khám lại ngay tại các cơ sở y tế.

Tagscovid 19 SARS-CoV-2 Virus Corona

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Quyết #định #3351QĐBYT


#Quyết #định #3351QĐBYT

Vik News

Vik News

Viknews Việt Nam chuyên chia sẻ những kiến thức hữu ích về hôn nhân – gia đình, làm đẹp, kinh nghiệm làm mẹ, chăm sóc dinh dưỡng khi mang thai kỳ, trước sau sinh, son môi , sữa ong chúa, nhà cửa nội thất (cửa gỗ, đèn chùm trang trí, bàn ăn, tủ bếp..)……

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button