Biểu Mẫu

Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý Tiểu học Nội dung 1

Chỉ dẫn tiến hành chương trình giáo dục phổ biến 2018 là nội dung 1 trong chương trình  đào tạo bồi dưỡng cán bộ điều hành Tiểu học. Sau đây là Tài liệu bồi dưỡng cán bộ điều hành Tiểu học Nội dung 1 để các thầy cô tiện tham khảo.

Tài liệu bồi dưỡng cán bộ điều hành Tiểu học Nội dung 1: Chỉ dẫn tiến hành chương trình GDPT 2018

NỘI DUNG 1

HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018

1.1. Khái quát về chương trình giáo dục phổ biến 2018

1.1.1. Bối cảnh, ý kiến xây dựng chương trình

1.1.2. Những điểm chính của chương trình giáo dục phổ biến 2018

1.1.3. Điều kiện khai triển tiến hành chương trình

1.2. Những điểm cần để ý trong khai triển tiến hành chương trình giáo dục tiểu học

1.2.1. Chỉ tiêu của chương trình giáo dục tiểu học

Thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo hướng tăng trưởng phẩm giá, năng lực học trò

1.2.2. Nội dung chương trình và kế hoạch giáo dục cấp tiểu học

1.2.3. Xây dựng và tiến hành nội dung giáo dục của địa phương/nhà trường

1.2.4. Tổ chức tiến hành hoạt động trải nghiệm

1.2.5. Thực hiện giáo dục theo định hướng STEM

1.2.6. Kiểm tra, bình chọn kết quả giáo dục của học trò cấp tiểu học

KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ

GV Giáo viên

CBQL Cán bộ điều hành

BD Bồi dưỡng

HS Học trò

CTGD Chương trình giáo dục

CTGDPT Chương trình giáo dục phổ biến

TH Tiểu học

THCS Trung học cơ sở

THPT Trung học phổ biến

ĐHSP Đại học sư phạm

ĐHGD Đại học Giáo dục

HVQLGD Học viện Quản lý giáo dục

GDPT Giáo dục phổ biến

GDĐT Giáo dục và Tập huấn

HĐGD Hoạt động giáo dục

HĐTN Hoạt động trải nghiệm

PPDH Phương pháp dạy học

KTĐG Kiểm tra bình chọn

NCBH Nghiên cứu bài học

CSVC Hạ tầng

TBDH Thiết bị dạy học

CHÚ GIẢI THUẬT NGỮ

Chương trình giáo dục phổ biến: Chương trình giáo dục phổ biến là văn bản trình bày tiêu chí giáo dục phổ biến, quy định các đề nghị cần đạt về phẩm giá và năng lực của học trò, nội dung giáo dục, cách thức giáo dục và cách thức bình chọn kết quả giáo dục, làm căn cứ quản lí chất lượng giáo dục phổ biến; cùng lúc là cam kết của Nhà nước nhằm đảm bảo chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục phổ biến.

Phẩm chất: Phẩm chất là những tính tốt trình bày ở thái độ, hành vi xử sự của con người; cộng với năng lực hình thành tư cách con người;

Phẩm chất được bình chọn phê duyệt hành vi.

Năng lực: Năng lực là tính chất tư nhân được tạo nên, tăng trưởng nhờ tố chất sẵn có và công đoạn học tập, đoàn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các tri thức, kỹ năng và các tính chất tư nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… tiến hành thành công 1 loại hoạt động nhất mực, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện chi tiết.

Năng lực được bình chọn bằng hiệu quả hoạt động.

Môn học: Môn học là lĩnh vực nội dung dạy học được tiến hành trong nhà trường có cấu trúc và lôgíc thích hợp với các cấp khoa học và thực tế tương ứng, thích hợp với những quy luật tâm – sinh lí của dạy học.

Hoạt động giáo dục: Trong Chương trình giáo dục phổ biến 2018, hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) bao gồm hoạt động dạy học và hoạt động trải nghiệm.

Trcửa ải nghiệm: Trcửa ải nghiệm là công đoạn hoạt động để thu nạp những kinh nghiệm, từ đấy áp dụng 1 cách hiệu quả vào thực tế cuộc sống.

Hướng nghiệp: Hướng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các giải pháp thực hiện trong và ngoài cơ sở giáo dục để giúp học trò có tri thức về nghề nghiệp, bản lĩnh chọn lọc nghề nghiệp trên cơ sở liên kết ước muốn, sở trường của tư nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội.

Giáo dục STEM: STEM là thuật ngữ viết tắt của các từ Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kĩ thuật) và Mathematics (Toán học). Giáo dục STEM là 1 cách tiếp cận liên môn trong học tập, ở đấy những định nghĩa học thuật xác thực được liên kết với bài học thực tế lúc học trò áp dụng khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học trong 1 bối cảnh chi tiết, hình thành sự kết nối giữa nhà trường, tập thể, việc làm và hoạt động kinh doanh thế giới cho phép sự tăng trưởng những hiểu biết tối thiểu về STEM và cộng với nó là bản lĩnh cạnh tranh trong nền kinh tế mới” (nguồn:Tsupros, N., R. Kohler, & Hallinen, J. (2009). STEM Education).

Bình chọn tổng kết: Bình chọn tổng kết (còn gọi là bình chọn kết quả) là bình chọn có tính tổng hợp, bao quát nhằm hỗ trợ thông tin về sự thông thạo/thành thục của học trò ở các mặt nội dung tri thức, kỹ năng và thái độ sau lúc xong xuôi 1 khóa/lớp học hoặc 1 môn học/học phần/chương trình học.

Bình chọn công đoạn: Bình chọn công đoạn là hoạt động bình chọn diễn ra trong tiến trình tiến hành hoạt động giảng dạy môn học/khóa học, hỗ trợ thông tin phản hồi cho người học biết được chừng độ đạt được của bản thân so với tiêu chí giáo dục, qua đấy điều chỉnh cách học, cách dạy giúp người học tân tiến. Bình chọn công đoạn còn được biết tới như bình chọn vì sự tân tiến của người học.

Tích hợp: Tích hợp là sự thống nhất/ nhất thể hóa các bộ phận không giống nhau để đưa đến 1 nhân vật mới như là 1 thể hợp nhất dựa trên những nét thực chất của các thành phần nhân vật chứ chẳng hề là phép cộng dễ dãi những tính chất của nhân vật đó.

Dạy học tích hợp: Dạy học tích hợp là định hướng dạy học trong đấy thầy cô giáo tổ chức, chỉ dẫn để học trò biết huy động tổng hợp tri thức, kỹ năng … thuộc nhiều lĩnh vực (môn học/hoạt động giáo dục) không giống nhau nhằm khắc phục các nhiệm vụ học tập; phê duyệt đấy tạo nên những tri thức, kĩ năng mới; tăng trưởng được những năng lực cấp thiết, nhất là năng lực khắc phục vấn đề trong học tập và thực tế cuộc sống.

Phân hóa: Phân hóa là chia 1 khối/ 1 nhóm thành nhiều phần/ nhiều nhân vật có các thuộc tính dị biệt nhau để tiến hành những ảnh hưởng cho thích hợp.

Dạy học phân hóa: Dạy học phân hóa là dạy theo từng loại nhân vật, thích hợp với tâm sinh lý, bản lĩnh, nhu cầu và hứng thú của người học nhằm tăng trưởng tối đa tiềm năng riêng vốn có của mỗi người học.

Nội dung giáo dục địa phương: Nội dung giáo dục của địa phương là những vấn đề căn bản hoặc thời sự về văn hóa, lịch sử, địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp,… của địa phương bổ sung cho nội dung giáo dục buộc phải chung hợp nhất trong cả nước, nhằm trang bị cho học trò những hiểu biết về nơi sinh sống, bồi dưỡng cho học trò tình yêu quê hương, tinh thần mày mò và áp dụng những điều đã học để góp phần khắc phục những vấn đề của quê hương.

Kế hoạch giáo dục của nhà trường: Kế hoạch giáo dục của nhà trường là loại hình văn bản chuyên môn nghiệp vụ để khai triển vận dụng chương trình giáo dục phổ biến tổ quốc trong bối cảnh chi tiết của địa phương và các điều kiện thực tiễn của nhà trường; Kế hoạch giáo dục nhà trường là văn bản chi tiết hóa tiến trình tiến hành chương trình giáo dục phổ biến (bao gồm nội dung giáo dục địa phương) thích hợp với điều kiện chi tiết về thời kì, đặc điểm của người học, nhân công, vật lực… để đạt được các tiêu chí giáo dục đã đề ra trên cơ sở phân tách bối cảnh của nhà trường. Kế hoạch giáo dục của nhà trường được xây dựng hằng 5 dựa trên kế hoạch giáo dục chung và các chỉ dẫn trong chương trình giáo dục phổ biến tổ quốc.

Kế hoạch dạy học, giáo dục: Kế hoạch dạy học, giáo dục nói đến trong tài liệu này được hiểu là văn bản chi tiết hoá việc hỗ trợ nội dung và tiến độ tiến hành chương trình dạy học các môn học và hoạt động giáo dục theo chương trình giáo dục phổ biến tổ quốc tới tầng lớp của nhà trường trong điều kiện xác định.

Kế hoạch dạy học: Kế hoạch dạy học nói đến trong tài liệu này được phê duyệt ở các đơn vị quản lý độ: kế hoạch dạy học của trường; kế hoạch dạy học môn học và kế hoạch dạy học bài học (hay còn gọi là giáo án), trong đấy:

– Kế hoạch dạy học của nhà trường là văn bản thể bây giờ gian, thời khắc, vị trí, thầy cô giáo được cắt cử để khai triển nội dung chương trình giáo dục nhà trường cho các lớp học chi tiết trong 1 tuần, 1 tháng, hay 1 học kỳ theo biên chế 5 học. Là cơ sở để khai triển tiến hành CTGD nhà trường tới thầy cô giáo, học trò và các đối tác liên can;

– Kế hoạch dạy học môn học được hiểu là 1 văn bản trình bày tiến trình tiến hành các nội dung môn học trong 1 học kì hay 5 học ở 1 số lớp chi tiết; kế hoạch dạy học tạo thế chủ động cho thầy cô giáo lúc tiến hành chương trình dạy học, thấy rõ nhiệm vụ chi tiết cho đến từng kì và từng tuần;

– Kế hoạch dạy học bài học là văn bản chi tiết hóa các đề nghị của chương trình giáo dục môn học vào điều kiện chi tiết. Kế hoạch dạy học được xây dựng thích hợp với nhân vật học trò; Nội dung kế hoạch dạy học chi tiết hóa các chừng độ đề nghị về tri thức, kỹ năng đối với nội dung dạy học và đề nghị tăng trưởng phẩm giá, năng lực cho học trò (tiêu chí bài học), có 1 số cụ thể về thiết bị dạy học, cách thức và vẻ ngoài tổ chức tiến hành dạy học, có thời kì, thời khắc thực thi các nội dung, vạch rõ, bố trí tiến trình tiến hành chương trình dạy học nội dung môn học cho thích hợp với nhân vật học trò chi tiết, trong cảnh ngộ chi tiết về hạ tầng, thiết bị dạy học và thời kì khai triển nhằm đạt được tiêu chí dạy học đã xác định.

Quản trị nhà trường: Quản trị nhà trường là công đoạn xây dựng các định hướng, quy định, kế hoạch hoạt động trong nhà trường; tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục học trò phê duyệt huy động, sử dụng các nguồn lực, giám sát, bình chọn trên cơ sở tự chủ, có bổn phận giải trình để tăng trưởng nhà trường theo sứ mệnh, tầm nhìn và tiêu chí giáo dục của nhà trường (Theo Thông tư 14/2018/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Tập huấn ngày 20 tháng 7 5 2018 ban hành quy định Chuẩn Hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ biến).

Nội dung 1
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018

Tóm lược Nội dung 1:

Khái quát những điểm mấu chốt về bối cảnh, ý kiến xây dựng CTGDPT 2018; Tóm lược tiêu chí, nội dung, cách thức dạy học, giáo dục học trò, rà soát bình chọn kết quả học tập, đoàn luyện của học trò theo đề nghị tăng trưởng phẩm giá và năng lực của CTGDPT 2018; Xác định những điểm mới của CTGD tiểu học và những điểm cần xem xét lúc tổ chức tiến hành hoạt động dạy học, giáo dục theo CTGD tiểu học.

Đề xuất cần đạt:

Sau lúc kết thúc nội dung 1, học viên có thể:

– Trình bày tóm lược được những điểm chính về tiêu chí, nội dung, cách thức dạy học, giáo dục, rà soát bình chọn kết quả học tập, giáo dục học trò theo đề nghị tăng trưởng phẩm giá và năng lực của CTGDPT 2018.

– Xác định được những điểm mới của CTGD tiểu học 2018 so với CTGD tiểu học hiện hành (sau đây gọi là CTGDTH 2006).

– Phân tích được những điểm mấu chốt cần xem xét trong tổ chức tiến hành hoạt động dạy học, giáo dục theo CTGD tiểu học 2018.

1.1. Khái quát về chương trình giáo dục phổ biến 2018

1.1.1. Bối cảnh, ý kiến xây dựng chương trình

1.1.1.1. Bối cảnh xây dựng chương trình

Sau hơn 30 5 đổi mới, non sông ta đã vượt qua nhiều gieo neo, thử thách, đạt được những thành tích mập béo, có ý nghĩa lịch sử. Cũng trong vòng thời kì trước và sau lúc nước ta thực hiện đổi mới, toàn cầu chứng kiến những chuyển đổi thâm thúy về mọi mặt. Các cuộc cách mệnh công nghiệp lần thứ 3 và lần thứ tư nối liền nhau có mặt trên thị trường, kinh tế kiến thức tăng trưởng mạnh mang lại thời cơ tăng trưởng vượt trội, cùng lúc cũng đặt ra những thử thách ko bé đối với mỗi tổ quốc, nhất là tất cả quốc gia đang tăng trưởng và chậm tăng trưởng. Mặt khác, những chuyển đổi về khí hậu, hiện trạng hết sạch khoáng sản, ô nhiễm môi trường, mất thăng bằng sinh thái và những bất định về chính trị, xã hội cũng đặt ra những thử thách có tính thế giới. Để đảm bảo tăng trưởng vững bền, nhiều tổ quốc đã ko dừng đổi mới giáo dục để tăng lên chất lượng nguồn nhân công, trang bị cho các lứa tuổi ngày mai nền móng văn hoá cứng cáp và năng lực thích nghi cao trước mọi bất định của tự nhiên và xã hội. Đổi mới giáo dục đã biến thành nhu cầu cần thiết và xu hướng mang tính thế giới. Xu thế tăng trưởng chương trình giáo dục và SGK của toàn cầu chỉnh sửa rất nhanh; có nhiều thành tích mới của khoa học giáo dục cần được bổ sung kịp thời vào chương trình giáo dục. Đầu thế kỉ XXI nhiều nước có nền giáo dục tăng trưởng đã chuyển hướng từ chương trình giáo dục coi trọng nội dung giáo dục sang chương trình giáo dục coi trọng tăng trưởng năng lực người học. Theo đấy, chương trình giáo dục Việt Nam cần đổi mới để phục vụ đề nghị hội nhập quốc tế.

Trong bối cảnh đấy, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá XI) đã phê duyệt Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4 tháng 11 5 2013 về đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và huấn luyện phục vụ đề nghị công nghiệp hoá, tiên tiến hoá trong điều kiện kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 5 2014 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ biến, góp phần đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và huấn luyện. Ngày 27 tháng 3 5 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg phê chuẩn Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ biến. Chỉ tiêu đổi mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ biến nhằm tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ biến; liên kết dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ tri thức sang nền giáo dục tăng trưởng toàn diện cả về phẩm giá và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học trò.”

Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, chương trình giáo dục phổthông mới được xây dựng theo định hướng tăng trưởng phẩm giá và năng lực của học trò; tạo môi trường học tập và đoàn luyện giúp học trò tăng trưởng hài hoà về thể chất và ý thức, biến thành người học hăng hái, tự tin, biết áp dụng các cách thức học tập hăng hái để hoàn chỉnh các kiến thức và kỹ năng nền móng, có tinh thần chọn lọc nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm giá tốt đẹp và năng lực cấp thiết để biến thành người công dân có bổn phận, công nhân có văn hoá, chăm chỉ, thông minh, phục vụ nhu cầu tăng trưởng của tư nhân và đề nghị của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ non sông trong thời đại thế giới hoávà cách mệnh công nghiệp mới.

Chương trình giáo dục phổ biến bao gồm chương trình toàn cục, chương trình các môn học và hoạt động giáo dục.

1.1.1.2. Quan điểm xây dựng chương trình

(i) Chương trình giáo dục phổ biến là văn bản trình bày tiêu chí giáo dục phổ biến, quy định các đề nghị cần đạt về phẩm giá và năng lực của học trò, nội dung giáo dục, cách thức giáo dục và cách thức bình chọn kết quả giáo dục, làm căn cứ điều hành chất lượng giáo dục phổ biến; cùng lúc là cam kết của Nhà nước nhằm đảm bảo chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục phổ biến.

(ii) Chương trình giáo dục phổ biến được xây dựng trên cơ hữu quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và huấn luyện; kế thừa và tăng trưởng những điểm cộng của các chương trình giáo dục phổ biến đã có của Việt Nam, cùng lúc tiếp nhận thành tích nghiên cứu về khoa học giáo dục và kinh nghiệm xây dựng chương trình theo mẫu hình tăng trưởng năng lực của những nền giáo dục hiện đại trên toàn cầu; gắn với nhu cầu tăng trưởng của non sông, những tân tiến của thời đại về khoa học – công nghệ và xã hội; thích hợp với đặc điểm con người, văn hoá Việt Nam, các trị giá truyền thống của dân tộc và những trị giá chung của loài người cũng như các sáng kiến và định hướng tăng trưởng chung của UNESCO về giáo dục; tạo thời cơ đồng đẳng về quyền được bảo vệ, , học tập và tăng trưởng, quyền được lắng tai, tôn trọng và được tham dự của học trò; đặt nền móng cho 1 xã hội nhân bản, tăng trưởng vững bền và phồn vinh.

(iii) Chương trình giáo dục phổ biến đảm bảo tăng trưởng phẩm giá và năng lực người học phê duyệt nội dung giáo dục với những tri thức, kỹ năng căn bản, thiết thực, tiên tiến; hài hoà đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, áp dụng tri thức, kỹ năng đã học để khắc phục vấn đề trong học tập và đời sống; tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hoá dần ở các lớp học trên; phê duyệt các cách thức, vẻ ngoài tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học trò, các cách thức bình chọn thích hợp với tiêu chí giáo dục và cách thức giáo dục để đạt được tiêu chí đấy.

(iv) Chương trình giáo dục phổ biến đảm bảo kết nối chặt chẽ giữa các lớp học, cấp học với nhau và liên thông với chương trình giáo dục măng non, chương trình giáo dục nghề nghiệp và chương trình giáo dục đại học.

(v) Chương trình giáo dục phổ biến được xây dựng theo hướng mở, chi tiết là:

– Chương trình đảm bảo định hướng hợp nhất và những nội dung giáo dục mấu chốt, buộc phải đối với học trò toàn quốc, cùng lúc trao quyền chủ động và bổn phận cho địa phương, nhà trường trong việc chọn lọc, bổ sung 1 số nội dung giáo dục và khai triển kế hoạch giáo dục thích hợp với nhân vật giáo dục và điều kiện của địa phương, của nhà trường, góp phần đảm bảo kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội.

– Chương trình chỉ quy định những nguyên lý, định hướng chung về đề nghị cần đạt về phẩm giá và năng lực của học trò, nội dung giáo dục, cách thức giáo dục và việc bình chọn kết quả giáo dục, ko quy định quá cụ thể, để giúp cho tác giả sách giáo khoa và thầy cô giáo phát huy tính chủ động, thông minh trong tiến hành chương trình.

– Chương trình đảm bảo tính bất biến và bản lĩnh tăng trưởng trong công đoạn tiến hành cho thích hợp với tân tiến khoa học – công nghệ và đề nghị của thực tiễn.

1.1.2. Những điểm chính của chương trình giáo dục phổ biến 2018

1.1.2.1. Về tiêu chí

Chương trình giáo dục phổ biến chi tiết hoá tiêu chí giáo dục phổ biến, giúp học trò làm chủ tri thức phổ biến, biết áp dụng hiệu quả tri thức, kỹ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng chọn lọc nghề nghiệp thích hợp, biết xây dựng và tăng trưởng hài hoà các mối quan hệ xã hội, có phong cách, tư cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đấy có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp hăng hái vào sự tăng trưởng của non sông và loài người.

Chương trình giáo dục tiểu học giúp học trò tạo nên và tăng trưởng những nhân tố cơ bản đặt nền tảng cho sự tăng trưởng hài hoà về thể chất và ý thức, phẩm giá và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về trị giá bản thân, gia đình, tập thể và những lề thói, nề nếp cấp thiết trong học tập và sinh hoạt.

Chương trình giáo dục trung học cơ sở giúp học trò tăng trưởng các phẩm giá, năng lực đã được tạo nên và tăng trưởng ở cấp tiểu học, tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực chung của xã hội, biết áp dụng các cách thức học tập hăng hái để hoàn chỉnh kiến thức và kỹ năng nền móng, có những hiểu biết lúc đầu về các cấp nghề và có tinh thần hướng nghiệp để tiếp diễn học lên trung học phổ biến, học nghề hoặc tham dự vào cuộc sống lao động.

Chương trình giáo dục trung học phổ biến giúp học trò tiếp diễn tăng trưởng những phẩm giá, năng lực cấp thiết đối với công nhân, tinh thần và tư cách công dân, bản lĩnh tự học và tinh thần học tập suốt đời, bản lĩnh chọn lọc nghề nghiệp thích hợp với năng lực và thị hiếu, điều kiện và cảnh ngộ của bản thân để tiếp diễn học lên, học nghề hoặc tham dự vào cuộc sống lao động, bản lĩnh thích nghi với những thay đổi trong bối cảnh thế giới hoá và cách mệnh công nghiệp mới.

1.1.2.2. Về nội dung giáo dục

Chương trình giáo dục phổ biến tiến hành tiêu chí giáo dục tạo nên, tăng trưởng phẩm giá và năng lực cho học trò phê duyệt các nội dung giáo dục tiếng nói và văn chương, giáo dục toán học, giáo dục khoa học xã hội, giáo dục khoa học thiên nhiên, giáo dục công nghệ, giáo dục tin học, giáo dục công dân, giáo dục quốc phòng và an ninh, giáo dục nghệ thuật, giáo dục thể chất, giáo dục hướng nghiệp. Mỗi nội dung giáo dục đều được tiến hành ở tất cả các môn học và hoạt động giáo dục, trong đấy có 1 số môn học và hoạt động giáo dục đảm nhận vai trò mấu chốt.

Căn cứ tiêu chí giáo dục và đề nghị cần đạt về phẩm giá, năng lực ở từng quá trình giáo dục và từng cấp học, chương trình mỗi môn học và hoạt động giáo dục xác định tiêu chí, đề nghị cần đạt về phẩm giá, năng lực và nội dung giáo dục của môn học, hoạt động giáo dục đấy.

Giai đoạn giáo dục căn bản tiến hành phương châm giáo dục toàn diện và tích hợp, đảm bảo trang bị cho học trò kiến thức phổ biến nền móng, phục vụ đề nghị phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; quá trình giáo dục định hướng nghề nghiệp tiến hành phương châm giáo dục phân hoá, đảm bảo học trò được tiếp cận nghề nghiệp, sẵn sàng cho quá trình học sau phổ biến có chất lượng.

Cả 2 quá trình giáo dục căn bản và giáo dục định hướng nghề nghiệp đều có các môn học tự chọn; quá trình giáo dục định hướng nghề nghiệp có thêm các môn học và chuyên đề học tập chọn lọc, nhằm phục vụ ước muốn, tăng trưởng tiềm năng, sở trường của mỗi học trò.

1.1.2.3. Về cách thức giáo dục

Các môn học và hoạt động giáo dục trong nhà trường vận dụng các cách thức hăng hái hoá hoạt động của học trò, trong đấy thầy cô giáo nhập vai trò tổ chức, chỉ dẫn hoạt động cho học trò, tạo môi trường học tập gần gũi và những cảnh huống có vấn đề để khuyến khích học trò hăng hái tham dự vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, ước muốn của bản thân, đoàn luyện lề thói và bản lĩnh tự học, phát huy tiềm năng và những tri thức, kỹ năng đã tích luỹ được để tăng trưởng.

Các hoạt động học tập của học trò bao gồm hoạt động khám phá vấn đề, hoạt động luyện tập và hoạt động thực hành (phần mềm những điều đã học để phát hiện và khắc phục những vấn đề có thực trong đời sống), được tiến hành với sự cung cấp của thiết bị dạy học, đặc trưng là phương tiện tin học và các máy móc tự động hoá của kĩ thuật số.

Tuỳ theo tiêu chí, thuộc tính của hoạt động, học trò được diễn ra làm việc độc lập, làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp nhưng mà phải đảm bảo mỗi học trò được tạo điều kiện để tự mình tiến hành nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tiễn.

1.1.2.4. Về bình chọn kết quả giáo dục

Chỉ tiêu bình chọn kết quả giáo dục là hỗ trợ thông tin xác thực, kịp thời, có trị giá về chừng độ phục vụ đề nghị cần đạt của chương trình và sự tân tiến của học trò để chỉ dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học, điều hành và tăng trưởng chương trình, đảm bảo sự tân tiến của từng học trò và tăng lên chất lượng giáo dục.

Căn cứ bình chọn là các đề nghị cần đạt về phẩm giá và năng lực được quy định trong chương trình toàn cục và các chương trình môn học, hoạt động giáo dục. Phạm vi bình chọn bao gồm các môn học và hoạt động giáo dục buộc phải, môn học và chuyên đề học tập chọn lọc và môn học tự chọn. Nhân vật bình chọn là thành phầm và công đoạn học tập, đoàn luyện của học trò.

Kết quả giáo dục được bình chọn bằng các vẻ ngoài định tính và định lượng phê duyệt bình chọn thường xuyên, định kì ở cơ sở giáo dục, các kì bình chọn trên diện rộng ở cấp tổ quốc, cấp địa phương và các kì bình chọn quốc tế. Cộng với kết quả các môn học và hoạt động giáo dục buộc phải, các môn học và chuyên đề học tập chọn lọc, kết quả các môn học tự chọn được sử dụng cho bình chọn kết quả học tập chung của học trò trong từng 5 học và trong cả công đoạn học tập.

Việc bình chọn thường xuyên do thầy cô giáo đảm trách môn học tổ chức, liên kết bình chọn của thầy cô giáo, của bác mẹ học trò, của bản thân học trò được bình chọn và của các học trò khác.

Việc bình chọn định kì do cơ sở giáo dục tổ chức để chuyên dụng cho công việc điều hành các hoạt động dạy học, đảm bảo chất lượng ở cơ sở giáo dục và chuyên dụng cho tăng trưởng chương trình.

Việc bình chọn trên diện rộng ở cấp tổ quốc, cấp địa phương do tổ chức khảo thí cấp tổ quốc hoặc cấp tỉnh, thị thành trực thuộc trung ương tổ chức để chuyên dụng cho công việc điều hành các hoạt động dạy học, giáo dục, đảm bảo chất lượng bình chọn kết quả giáo dục ở cơ sở giáo dục, chuyên dụng cho tăng trưởng chương trình và tăng lên chất lượng giáo dục.

Phương thức bình chọn đảm bảo độ tin tưởng, khách quan, thích hợp với từng thế hệ, từng cấp học, ko gây sức ép lên học trò, giảm thiểu tốn kém cho ngân sách nhà nước, gia đình học trò và xã hội.

Nghiên cứu từng bước vận dụng các thành tích của khoa học đo lường, bình chọn trong giáo dục và kinh nghiệm quốc tế vào việc tăng lên chất lượng bình chọn kết quả giáo dục, xếp loại học trò ở cơ sở giáo dục và sử dụng kết quả bình chọn trên diện rộng làm phương tiện kiểm soát chất lượng bình chọn ở cơ sở giáo dục.

1.1.3. Điều kiện khai triển tiến hành chương trình

Điều kiện khai triển tiến hành chương trình được căn cứ vào:

– Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐTngày 26 tháng 12 5 2018 của Bộ Giáo dục và Tập huấn về việc ban hành Chương trình giáo dục phổ biến (PhầnVII Điều kiện tiến hành Chương trình giáo dục phổ biến).

– Công văn 344-BGD&ĐT, ngày 24 tháng 01 5 2019 của Bộ Giáo và Tập huấn về việc chỉ dẫn khai triển chương trình Chương trình giáo dục phổ biến 2018.

Từ những căn cứ pháp lý trên, các điều kiện để tiến hành chương trình giáo dục phổ biến 2018 đối với các cơ sở giáo dục phổ biến bao gồm:

(1) Hàng ngũ thầy cô giáo, cán bộ điều hành:

– Phcửa ải có đủ số lượng và cơ cấu hàng ngũ thầy cô giáo và cán bộ điều hành theo qui định đối với từng cấp học

– Giáo viên và cán bộ điều hành phải có năng lực tiến hành phục vụ đề nghị và có động lực tiến hành sự chỉnh sửa

Giáo viên và cán bộ điều hành giáo dục là những người trực tiếp tiến hành công cuộc đổi mới GDPT. Chương trình GDPT 2018 chỉ thành công lúc hàng ngũ này có năng lực và có động lực đổi mới.

Do đấy cần sẵn sàng hàng ngũ thầy cô giáo để tiến hành chương trình giáo dục phổ biến 2018; phối hợp tiến hành tốt công việc bồi dưỡng thầy cô giáo tiến hành chương trình và sách giáo khoa mới. Với việc chỉnh sửa tư duy của người thầy từ truyền thụ tri thức sang giáo dục tăng trưởng phẩm giá, năng lực của người học thì cần phải bồi dưỡng, đào tạo toàn quân nhân ngũ thầy cô giáo và cán bộ điều hành các cơ sở giáo dục 1 cách toàn diện về tiêu chí, nội dung và cách thức giảng dạy, giáo dục nhằm tăng trưởng phẩm giá và năng lực người học. Qua đấy, giúp mỗi người trong cuộc đổi mới giáo dục phổ biến ko chỉ cách điệu mình trong tư duy giáo dục nhưng còn trong cả hành vi giáo dục, ko chỉ cách điệu mình trong cách thức giáo dục nhưng còn trong cả phương pháp chọn lọc cách thức giáo dục.

Để có đủ hàng ngũ thầy cô giáo tiến hành chương trình giáo dục phổ biến mới, phải thực hiện song song việc bồi dưỡng với huấn luyện thầy cô giáo.

Để đáp ứng động lực cho hàng ngũ khi mà Nhà nước chưa có đủ điều kiện để chỉnh sửa chế độ đãi ngộ, tăng lên thu nhập cho thầy cô giáo và cán bộ điều hành, đầu tiên, cần trao quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục, quyền quyết định về nội dung, cách thức giáo dục cho thầy cô giáo và đảm bảo điều kiện làm việc cho cơ sở giáo dục, thầy cô giáo.

Cơ sở giáo dục cần sớm được trao quyền tự chủ về chuyên môn, nhân sự, tổ chức bộ máy và nguồn vốn như quy định của Luật Giáo dục

Giáo viên cần được chủ động, thông minh trong dạy học, giáo dục chẳng hề bám theo từng ý, từng chữ trong sách giáo khoa như cách chỉ huy tầm thường ngày nay. Sĩ số các lớp học chí ít phải đảm bảo quy định của Bộ Giáo dục và Tập huấn: tối đa 35 học trò/lớp ở cấp tiểu học và 45 học trò /lớp ở các đơn vị quản lý THCS, THPT.

Trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp, cần giảm đầu cơ từ ngân sách, huy động sự đóng góp của người học, giải quyết hiện trạng duy trì mức học phí vẻ ngoài ở các đơn vị quản lý học, trình độ huấn luyện ko buộc phải để tập hợp đầu cơ cho các đơn vị quản lý học phổ cập. Nhà nước cũng cần bổ sung các chế độ khuyến khích tăng trưởng giáo dục ngoài công lập để vừa san sớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước và các trường công lập, vừa tạo điều kiện tăng lên chất lượng giáo dục.

(2) Hạ tầng, thiết bị dạy học:

  • Phcửa ải có đủ phòng học để đảm bảo sĩ số lớp học theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đàotạo.
  • Các trường tiểu học cần tiến hành dạy học 2 buổi/ngày, cần bảo đảm tỷ lệ 1 phòng học/lớp, có đủ phòng công dụng, thư viện, sân chơi, bãi tập, công trình vệ sinh sạch bóng; có đủ thiết bị dạy học tối thiểu; Những nơi chưa có đủ điều kiện thì tối thiểu cũng phải tổ chức dạy được 6buổi/tuần.

– Lớp học nên được sắp đặt thích hợp với đề nghị làm việc nhóm thường xuyên.

– Các cơ sở giáo dục cũng cần được trang bị máy tính, lắp đặt Internet để thầy cô giáo đổi mới cách thức dạy học, học trò kiếm tìm tư liệu và tiến hành 1 số thí nghiệm ảo thay cho thí nghiệm với các dụng cụ đắt tiền hoặc ko đảm bảo an toàn.

(3) Sự đồng thuận từ xã hội:

Dân ta đã có câu “Dễ trăm lần ko dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Để tiến hành đổi mới thành công, ngành Giáo dục cần làm tốt công việc thông tin và truyền thông. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giảng giải để người dân thông suốt tại sao phải đổi mới, đổi mới như thế nào và bổn phận của mỗi tổ chức, tư nhân đóng góp vào sự nghiệp đổi mới giáo dục, cũng là đóng góp vào sự bất biến xã hội và tăng trưởng của non sông. Cộng với sự chủ động của ngành Giáo dục, rất cần có sự cung cấp của các tổ chức, tư nhân và sự ủng hộ phổ thông, hiệu quả của các cơ quan truyền thông đại chúng.

Quán triệt ý kiến tăng trưởng giáo dục là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương có bổn phận chỉ đạo, chỉ huy tiến hành thành công chương trình giáo dục phổ biến; đảm bảo điều kiện tiến hành chương trình; tiến hành nghiêm chỉnh các chế độ của Đảng, Nhà nước đối với thầy cô giáo và cán bộ điều hành giáo dục cơ sở giáo dục phổ biến. Nhà trường chủ động tư vấn với cấp uỷ Đảng, chính quyền và phối hợp với các tư nhân, tổ chức ở địa phương để huy động nhiều chủng loại các nguồn lực tham dự các hoạt động giáo dục và cung cấp kinh phí, hạ tầng nhà trường, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn.

Phối hợp tốt giáo dục gia đình và giáo dục nhà trường. Gia đình, bác mẹ học trò được chỉ dẫn phối hợp và tham dự giáo dục con em theo đề nghị của lớp học, cấp học; Ban đại diện bác mẹ học trò có cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền, bổn phận và hoạt động theo Điều lệ Ban đại diện bác mẹ học trò; nhà trường tạo điều kiện thuận tiện để Ban đại diện bác mẹ học trò hoạt động.

Phối hợp tốt giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội. Nhà trường chủ động tổ chức, chỉ dẫn học trò tham dự các hoạt động Đoàn, Đội, Hội, hoạt động xã hội, hăng hái góp phần tiến hành các nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế – xã hội của địa phương, qua đấy tiến hành giáo dục học trò trong thực tế đời sống.

1.2. Những điểm cần để ý trong khai triển tiến hành chương trình giáo dục tiểu học

1.2.1. Chỉ tiêu của chương trình giáo dục tiểu học

Giáo dục tiểu học nhằm giúp học trò tạo nên những cơ sở lúc đầu cho sự tăng trưởng đúng mực và dài lâu về đạo đức, trí óc, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng căn bản để học trò tiếp diễn học lên THCS.

Trong Chương trình GDPT 2018, tiêu chí giáo dục tiểu học ko chỉ để ý “sẵn sàng cho học trò những cơ sở lúc đầu của việc tạo nên và tăng trưởng hài hoà về thể chất và ý thức, có được những tri thức và kĩ năng căn bản nhất để tiếp diễn học THCS”, nhưng còn để ý đề nghị tăng trưởng phẩm giá, năng lực và nhấn mạnh “định hướng chính vào trị giá gia đình, dòng họ, quê hương, những lề thói cấp thiết trong học tập và sinh hoạt”.

Thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo hướng tăng trưởng phẩm giá, năng lực học trò:

Trong Chương trình GDPT 2018, phẩm giá và năng lực của người học được tạo nên và tăng trưởng bằng 2 trục đường:

– Thông qua nội dung của 1 số môn học. Thí dụ, ý thức yêu nước có thể được nung đúc phê duyệt nội dung của các môn Thiên nhiên và Xã hội Lịch sử và Địa lý, Đạo đức, Hoạt động trải nghiệm và 1 số nội dung của các môn Tiếng Việt , Ngoại ngữ 1,… Phần béo các môn học này cũng bồi dưỡng cho học trò lòng bác ái, độ lượng, tinh thần tôn trọng các nền văn hoá không giống nhau, tôn trọng sự dị biệt giữa mọi người.

– Thông qua cách thức giáo dục. Thí dụ, tính chịu khó, thái độ thật thà và ý thức bổn phận từng bước được tạo nên và tăng trưởng phê duyệt lao động học tập hằng ngày dưới sự chỉ dẫn, đoàn luyện của thầy cô. Tinh thần yêu nước và lòng bác ái cũng chỉ có thể tạo nên và tăng trưởng vững bền phê duyệt các hoạt động thực tiễn.

Để tăng trưởng năng lực của người học, tiến hành nội dung và cách thức giáo dục theo hướng sau đây:

– Dạy học phân hoá:

Dạy học phân hoá là định hướng thiết kế nội dung và cách thức giáo dục thích hợp với đặc dằn bụng – sinh lí, bản lĩnh, nhu cầu, hứng thú và định hướng nghề nghiệp của các nhân vật học trò không giống nhau, nhằm tăng trưởng tối đa tiềm năng vốn có của mỗi học trò. Dạy học phân hoá ở tiểu học cần chú trọng cả phân hoá trong (phân hoá vi mô) và phân hoá ngoài (phân hoá vĩ mô).

Phân hoá trong trình bày cốt yếu qua định hướng về cách thức giáo dục, nhấn mạnh tính hăng hái hoá hoạt động của người học, khuyến khích học trò hăng hái tham dự vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, ước muốn của bản thân, và qua định hướng về bình chọn kết quả giáo dục, nhấn mạnh đảm bảo sự tân tiến của từng học trò.

Phân hoá ngoài trình bày ở việc học trò được tự chọn các môn học, các chủ đề, chuyên đề học tập chọn lọc theo ước muốn. Ở cấp tiểu học, kế bên nhiệm vụ trọng điểm là tiến hành giáo dục toàn diện và tích hợp, CT GDPT 2018 thiết kế 1 số môn học và hoạt động giáo dục theo các chủ đề, giúp cho học trò chọn lọc những môn học hoặc chủ đề thích hợp với thị hiếu và năng lực của bản thân.

– Dạy học tích hợp:

Dạy học tích hợp là định hướng thiết kế nội dung giáo dục giúp học trò tăng trưởng bản lĩnh huy động tổng hợp tri thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực không giống nhau để khắc phục có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong đời sống, qua đấy tăng trưởng được năng lực cấp thiết, nhất là năng lực khắc phục vấn đề. Tính tích hợp trình bày qua sự huy động, liên kết, liên hệ các nhân tố có liên can với nhau của nhiều lĩnh vực, nhiều môn học để khắc phục có hiệu quả 1 vấn đề và thường đạt được nhiều tiêu chí không giống nhau.

Dạy học tích hợp trong CT GDPT 2018 có 1 số điểm khác như: đẩy mạnh tích hợp nhiều tiết mục trong cùng 1 môn học; xây dựng 1 số môn học tích hợp mới ở các đơn vị quản lý học, ý thức chung là tích hợp cao ở các lớp học, cấp học dưới và phân hoá dần ở các lớp học, cấp học trên; tiến hành dạy học tích hợp cả trong tiêu chí, nội dung, cách thức giáo dục và bình chọn kết quả giáo dục.

Ở cấp tiểu học, CT GDPT 2018 tiếp diễn xây dựng 1 số môn học có tính tích hợp trên cơ sở tăng trưởng các môn học tích hợp đã có như: Thiên nhiên và xã hội, Lịch sử và Địa lí, Khoa học.

Ở cấp tiểu học còn có 1 hoạt động giáo dục tích hợp là Hoạt động trải nghiệm.

– Dạy học phê duyệt hoạt động hăng hái của người học:

Đặc điểm chung của các cách thức giáo dục được vận dụng trong CT GDPT 2018 là hăng hái hoá hoạt động của người học, trong đấy thầy cô giáo nhập vai trò tổ chức, chỉ dẫn hoạt động cho học trò, tạo môi trường học tập gần gũi và những cảnh huống có vấn đề để khuyến khích học trò hăng hái tham dự vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, ước muốn của bản thân, đoàn luyện lề thói và bản lĩnh tự học, phát huy tiềm năng và những tri thức, kỹ năng đã thu thập được để tăng trưởng.

Các hoạt động học tập của học trò bao gồm hoạt động khám phá vấn đề, hoạt động luyện tập và hoạt động thực hành (phần mềm những điều đã học để phát hiện và khắc phục những vấn đề có thực trong đời sống) được diễn ra trong và ngoài khuôn viên nhà trường phê duyệt 1 số vẻ ngoài cốt yếu như học lí thuyết; tiến hành bài tập, thí nghiệm, trò chơi, nhập vai, dự án nghiên cứu; tham dự seminar, thăm quan, cắm trại, đọc sách; sinh hoạt cộng đồng, hoạt động chuyên dụng cho tập thể. Tùy theo tiêu chí chi tiết và thuộc tính của hoạt động, học trò được diễn ra làm việc độc lập, làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp. Dù làm việc độc lập, theo nhóm hay theo đơn vị lớp, mỗi học trò đều được tạo điều kiện để tự mình tiến hành nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tiễn.

Sử dụng các cách thức, vẻ ngoài tổ chức dạy học, giáo dục phát huy tính hăng hái, chủ động của học trò, tạo môi trường để học trò được trải nghiệm như: cách thức dạy học mỹ thuật tiếp cận năng lực học trò, cách thức dạy học “bàn tay nặn bột”…

1.2.2. Nội dung chương trình và kế hoạch giáo dục cấp tiểu học

Chương trình GDPT 2018 bao gồm quy định chương trình toàn cục, quy định chương trình môn học và hoạt động giáo dục. Trong đấy, đối với cấp Tiểu học có 1 số nội dung mấu chốt sau:

a) Môn học và hoạt động giáo dục buộc phải trong chương trình mới

– Gồm: 1) Tiếng Việt; 2) Toán; 3) Đạo đức; 4) Ngoại ngữ 1 (Lớp 3,4,5); 5) Thiên nhiên và xã hội (Lớp 1,2,3); 6) Lịch sử và Địa lí (Lớp 4, 5); 7) Khoa học (Lớp 4, 5); 8) Tin học và Công nghệ (Lớp 3, 4, 5); 9) Giáo dục thể chất; 10) Nghệ thuật (Âm nhạc và Mĩ Thuật) và Hoạt động trải nghiệm (trong đấy có tích hợp nội dung giáo dục của địa phương).

– Nội dung môn học Giáo dục thể chất được thiết kế thành các học phần (mô-đun); nội dung Hoạt động trải nghiệm được thiết kế thành các chủ đề; học trò được chọn lọc học phần, chủ đề thích hợp với ước muốn của bản thân và bản lĩnh tổ chức của nhà trường.

b) Các môn học tự chọn(dạy ở những nơi có đủ điều kiện dạy học và phụ huynh học trò có ước muốn)Tiếng dân tộc thiểu số (dạy từ lớp 1 tới lớp 5); Ngoại ngữ 1 (dạy ở lớp 1, 2).

Bảng 1: So sánh kế hoạch giáo dục ở lớp 1 theo Chương trình giáo dục PT 2006

và Chương trình giáo dục phổ biến 2018

Kế hoạch giáo dục tiểu học theo

Chương trình giáo dục phổ biến 2018

Kế hoạch giáo dục tiểu học hiện hành theo QĐ Số 16/2006

Nội dung giáo dục

Số tiết trong 1 5

Nội dung giáo dục

Số tiết trong 1 5

Lớp 1

Lớp 1

I. Môn học buộc phải

I. Môn học buộc phải

1. Tiếng Việt

420

1.Tiếng Việt

350

2. Toán

105

2. Toán

140

3. Đạo đức

35

3. Đạo đức

35

4. Thiên nhiên-Xã hội

70

4. TN-XH

35

5. Nghệ thuật

(Âm nhạc, Mỹ thuật)

70

5. Âm nhạc

35

6. Mĩ thuật

35

7. Thủ công

35

6. Giáo dục thể chất

70

8. Thể dục

35

II. Hoạt động giáo dục buộc phải

II. Hoạt động giáo dục buộc phải

1. Hoạt động trải nghiệm

(Tích hợp thêm giáo dục địa phương)

105

1. Giáo dục cộng đồng (sinh hoạt lớp và chào cờ đầu tuần)

70

2. Giáo dục ngoài giờ lên lớp (4 tiết/tháng)

35

III. Môn học tự chọn

III. Môn học tự chọn

1. Tiếng dân tộc thiểu số

70

1. Tin học

2. Ngoại ngữ 1

70

2. Tiếng Anh

3. Tiếng dân tộc

Tổng số tiết trong 1 5 (không kể tự chọn)

875

Tổng số tiết trong 1 5

805

Số tiết trung bình trên tuần (không kể tự chọn)

25

Số tiết trung bình trên tuần

23

Bảng 2: So sánh kế hoạch giáo dục tiểu học theo Chương trình 2006 và Chương trình 2018

Kế hoạch giáo dục tiểu học theo Chương trình 2018

Kế hoạch giáo dục tiểu học hiện hành

theo QĐ Số 16/2006

Nội dung giáo dục

Số tiết trong 1 5

Nội dung giáo dục

Số tiết trong 1 5

Lớp 1

Lớp 2

Lớp 3

Lớp 4

Lớp 5

Lớp 1

Lớp 2

Lớp 3

Lớp 4

Lớp 5

I. Môn học buộc phải

I. Môn học buộc phải

1. Tiếng Việt

420

350

245

245

245

1.Tiếng Việt

350

315

280

280

280

2. Toán

105

175

175

175

175

2. Toán

140

175

175

175

175

3. Đạo đức

35

35

35

35

35

3. Đạo đức

35

35

35

35

35

4. Thiên nhiên và xã hội

70

70

70

4. Thiên nhiên xã hội

35

35

70

5. Khoa học

70

70

5. Khoa học

70

70

6. Lịch sử và Địa lý

70

70

6. Lịch sử và Địa lí

70

70

7. Nghệ thuật

70

70

70

70

70

7. Âm nhạc

35

35

35

35

35

8. Mĩ thuật

35

35

35

35

35

9. Thủ công

35

35

35

8. Tin học và Công nghệ

70

70

70

10. Kĩ thuật

35

35

9. Giáo dục thể chất

70

70

70

70

70

11. Thể dục

35

70

70

70

70

10. Ngoại ngữ 1

140

140

140

II. Hoạt động giáo dục buộc phải

II. Hoạt động giáo dục buộc phải

1. Hoạt động trải nghiệm

(Tích hợp thêm giáo dục địa phương)

105

105

105

105

105

1. Giáo dục cộng đồng (sinh hoạt lớp và chào cờ đầu tuần)

70

70

70

70

70

2. Giáo dục ngoài giờ lên lớp (4 tiết/tháng)

35

35

35

35

35

III. Môn học tự chọn

III. Môn học tự chọn

1. Tiếng dân tộc thiểu số

70

70

70

70

70

1. Tin học

Đây là những môn học được bổ sung sau và được diễn ra tiến hành ko đồng đều và chất lượng thấp

2. Ngoại ngữ 1

70

70

2. Tiếng Anh

3. Tiếng dân tộc

Tổng số tiết trong 1 5

(không kể tự chọn)

875

875

980

1050

1050

Tổng số tiết trong 1 5

805

840

840

910

910

Số tiết trung bình trên tuần

(không kể tự chọn)

25

25

28

30

30

Số tiết trung bình trên tuần

23

24

24

26

26

– So với Chương trình hiện hành, Chương trình 2018 có ít môn học hơn do tiến hành chủ trương tích hợp cao ở các lớp dưới. Tuy nhiên, trong Chương trình 2018 có thêm 2 môn học mới là Ngoại ngữ 1; Tin học và Công nghệ. Chương trình 2018 là chương trình học 2 buổi/ngày, do đấy số tiết học trong 1 5 học đều nâng cao, chi tiết:

+) Lớp 1, 2 có: 06 môn học và 01 hoạt động buộc phải, số tiết bình quân trên tuần là 25 (chưa tính môn tự chọn). (Chương trình hiện hành có 10 môn và 23 tiết trên tuần).

+) Lớp 3 có: 08 môn học và 01 hoạt động buộc phải, số tiết bình quân trên tuần là 28 tiết (Chương trình hiện hành có 10 môn và 24 tiết trên tuần)

+) Lớp 4, 5 có: 09 môn học và 01 hoạt động buộc phải, số tiết bình quân trên tuần là 30 tiết. (Chương trình hiện hành có 11 môn, và 26 tiết trên tuần)

BIỂU ĐỒ SO SÁNH MÔN HỌC VÀ THỜI LƯỢNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH MỚI VÀ CHƯƠNG TRÌNH HIỆN HÀNH CẤP TIỂU HỌC

So với chương trình giáo dục phổ biến hiện hành, ở chương trình giáo dục phổ biến 2018, ở cấp tiểu học môn “Tin học” thêm nội dung “Công nghệ” và là môn học buộc phải với tên gọi mới là “Tin học và Công nghệ”; môn “Thể dục” có tên gọi mới là môn “Giáo dục thể chất”; Ngoại ngữ 1 là môn buộc phải (từ lớp 3); làm quen tiếng Anh lớp 1, lớp 2 đang thực hiện nay các trường tiểu học ngày nay là môn học tự chọn.

Việc đổi tên môn “Kĩ thuật” ở cấp tiểu học thành “Tin học và Công nghệ” là do chương trình mới bổ sung phần “Tin học” và tổ chức lại nội dung phần “Kĩ thuật”. Tuy nhiên, trong chương trình hiện hành, môn “Tin học” đã được dạy từ lớp 3 như 1 môn học tự chọn. “Ngoại ngữ” tuy là môn học mới ở cấp tiểu học nhưng mà là 1 môn học từ lâu đã được dạy ở các đơn vị quản lý học khác; thậm chí đã được nhiều học trò làm quen từ cấp học măng non.

Môn Tiếng Việt vẫn được dành đầu tiên đặc trưng

Trong Chương trình GDPT 2018, ở cấp tiểu học, thời lượng dành cho môn “Tiếng Việt” là 1.505 tiết chiếm 31% tổng thời lượng chương trình dành cho các môn học buộc phải; bằng thời lượng học trong chương trình hiện hành. Chương trình GDPT dành thời lượng thích đáng cho việc học tiếng Việt ở cấp tiểu học, đặc trưng ở lớp 1, lớp 2. Điều này được giảng giải là để đảm bảo học trò đọc thông viết thạo, tạo tiền đề học các môn học khác. Đối với học trò người dân tộc thiểu số thì việc có đủ thời kì học tiếng Việt càng quan trọng.

Giáo dục thể chất

Giáo dục thể chất góp phần tạo nên các phẩm giá cốt yếu và năng lực chung cho học trò; cùng lúc, phê duyệt việc trang bị tri thức về sức khoẻ, điều hành sức khỏe và đoàn luyện, giáo dục thể chất giúp học trò tạo nên và tăng trưởng năng lực thể chất và văn hoá thể chất, tinh thần bổn phận đối với sức khỏe của bản thân, gia đình và tập thể; biết chọn lọc môn thể thao thích hợp với năng lực đi lại của bản thân để luyện tập; biết thích nghi với các điều kiện sống, sáng sủa và san sẻ với mọi người; có cuộc sống khoẻ mạnh về thể lực và ý thức.

Nội dung cốt yếu của môn Giáo dục thể chất là đoàn luyện kỹ năng đi lại và tăng trưởng tố chất thể lực cho học trò bằng những bài cộng đồng chất nhiều chủng loại như rèn kỹ năng đi lại căn bản, đội hình hàng ngũ, các bài cộng đồng dục, các trò chơi đi lại, các môn thể thao và cách thức phòng tránh chấn thương trong hoạt động.

Hoạt động trải nghiệm

Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục buộc phải; do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và chỉ dẫn tiến hành, tạo thời cơ cho học trò tiếp cận thực tiễn, thể nghiệm các xúc cảm hăng hái, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp tri thức, kỹ năng của các môn học không giống nhau để tiến hành nhiệm vụ được giao hoặc khắc phục những vấn đề của thực tế đời sống nhà trường, gia đình, xã hội thích hợp với thế hệ; phê duyệt đấy, chuyển hóa những kinh nghiệm đã trải qua thành kiến thức mới, kỹ năng mới góp phần phát huy tiềm năng thông minh và bản lĩnh thích nghi với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp ngày mai.

Hoạt động trải nghiệm ở tiểu học tăng trưởng các phẩm giá cốt yếu, năng lực mấu chốt của học trò trong các mối quan hệ với bản thân, xã hội, môi trường thiên nhiên và nghề nghiệp được khai triển qua 4 mạch nội dung hoạt động chính:

  • Hoạt động hướng vào bản thân,
  • Hoạt động hướng tới xã hội,
  • Hoạt động hướng tới thiên nhiên, và
  • Hoạt động hướng nghiệp.

c) Tổ chức tiến hành dạy học 02 buổi/ngày

Chương trình GDPT 2018 quy định: Cấp tiểu học “tiến hành dạy học 2 buổi/ngày, mỗi ngày sắp đặt ko quá 07 tiết học. Cơ sở giáo dục tiểu học chưa đủ điều kiện tổ chức dạy học 02 buổi/ngày tiến hành kế hoạch giáo dục theo chỉ dẫn của Bộ Giáo dục và Tập huấn.”.

Ở cấp tiểu học, theo chương trình giáo dục phổ biến 2018, học trò học 2.838 giờ. Theo chương trình hiện hành, học trò học 2.353 giờ. Như vậy thời lượng học tập tăng khoảng 485 giờ. Tuy nhiên, chương trình 2018 là chương trình học 2 buổi/ngày (09 buổi/tuần). Tính trung bình học trò học 1,8 giờ/lớp/buổi học; so với chương trình hiện hành là chương trình học 1 buổi/ngày (05 buổi/tuần), tính trung bình học trò học 2,7 giờ/lớp/buổi học.). Việc thiết kế chương trình mới tương tự tạo điều kiện cho trường tiểu học có điều kiện tổ chức các hoạt động học, hoặc chỉ dẫn học trò tự học tại lớp, hoạt động trải nghiệm, sinh hoạt cộng đồng, vui chơi tiêu khiển nhiều hơn. Lý do là cùng khối lượng nội dung chương trình nhưng mà thời kì được giãn ra. Việc thiết kế học 02 buổi/ngày cũng là 1 giải pháp giải tải, cùng lúc sẽ giúp giảm hiện trạng dạy thêm, học thêm.

Chỉ tiêu của hoạt động dạy học 02 buổi/ngày là đẩy mạnh giáo dục toàn diện, đặc trưng là đẩy mạnh các hoạt động thực hành, đoàn luyện cơ thể, sinh hoạt văn hoá – nghệ thuật, giáo dục kỹ năng sống cho học trò; giảm thiểu hiện trạng dạy thêm, học thêm; phục vụ đề nghị điều hành và giáo dục học trò của gia đình và xã hội; góp phần tăng lên chất lượng giáo dục.

– Các trường cần tư vấn với địa phương hợp lý quỹ đất, kinh phí để mỗi 5 tiến hành dứt điểm việc dạy học 02 buổi/ngày ở 1 lớp học theo lịch trình đổi mới chương trình, SGK phổ biến như quy định tại Nghị quyết 51 của Quốc hội: 5 học 2020 – 2021 ở lớp 1; 5 học 2020 – 2021 ở lớp 2; 5 học 2020 – 2021 ở lớp 3; 5 học 2020 – 2021 ở lớp 4; 5 học 2020 – 2021 ở lớp 5.

– Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 02 buổi/ngày cần sắp đặt thêm buổi học thứ 6 trong tuần để đảm bảo kết thúc chương trình các môn học và HĐGD buộc phải; ko dạy các môn học tự chọn (Tiếng dân tộc thiểu số; Ngoại ngữ 1 ở lớp 1, lớp 2).

Các trường đủ điều kiện dạy học 02 buổi/ngày cần có kế hoạch sử dụng thời kì ngoài thời kì dành cho chương trình các môn học, hoạt động giáo dục buộc phải 1 cách có lí để dạy các môn học tự chọn cho học trò có ước muốn học; bồi dưỡng học trò năng khiếu, chỉ dẫn những học trò chưa phục vụ các đề nghị cần đạt; đẩy mạnh các hoạt động thực hành, đoàn luyện cơ thể, sinh hoạt văn hoá – nghệ thuật, giáo dục kỹ năng sống cho học trò.

1.2.3. Xây dựng và tiến hành nội dung giáo dục của địa phương/nhà trường

Căn cứ quy định của Nghị quyết số 88, Chương trình GDPT 2018 quy định: “Nội dung giáo dục của địa phương là những vấn đề căn bản hoặc thời sự về văn hóa, lịch sử, địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp,… của địa phương bổ sung cho nội dung giáo dục buộc phải chung hợp nhất trong cả nước, nhằm trang bị cho học trò những hiểu biết về nơi sinh sống, bồi dưỡng cho học trò tình yêu quê hương, tinh thần mày mò và áp dụng những điều đã học để góp phần khắc phục những vấn đề của quê hương. Căn cứ chương trình giáo dục phổ biến, Ủy ban quần chúng tỉnh, thị thành trực thuộc trung ương quy định tiêu chuẩn, thứ tự biên soạn, nhận định, biên tập tài liệu về nội dung giáo dục của địa phương; chỉ huy việc tổ chức biên soạn, nhận định tài liệu về nội dung giáo dục của địa phương theo chỉ dẫn của Bộ Giáo dục và Tập huấn và báo cáo để Bộ Giáo dục và Tập huấn phê chuẩn”.

Ở cấp tiểu học, nội dung giáo dục của địa phương được tích hợp với Hoạt động trải nghiệm. Căn cứ nhu cầu thực tiễn, mỗi tỉnh, thị thành trực thuộc trung ương chọn lọc nội dung giáo dục thích hợp, nội dung tích hợp giáo dục địa phương cho tầng lớp trong cấp học. Thí dụ, Hà Nội có thể xây dựng các bài học về văn hóa người Tràng An, văn hóa và luật pháp về giao thông, thứ tự vệ sinh đô thị,… Thành phố Hồ Chí Minh có thể xây dựng các bài học về thị thành sáng dạ, văn hóa của công dân thị thành sáng dạ,… Các tỉnh Tây Nguyên có thể xây dựng các bài học về văn hóa các dân tộc thiểu số, kinh tế cây công nghiệp,… Các tỉnh miền núi phía Bắc có thể xây dựng các bài học về văn hóa các dân tộc thiểu số…

1.2.4. Tổ chức tiến hành hoạt động trải nghiệm

Ở cấp tiểu học, nội dung “Hoạt động trải nghiệm tập hợp vào các hoạt động khám phá bản thân, hoạt động đoàn luyện, hoạt động tăng trưởng quan hệ với bạn hữu, thầy cô và người nhà trong gia đình”. Các hoạt động xã hội và mày mò 1 số nghề gần gụi với học trò cũng được diễn ra tiến hành với nội dung và vẻ ngoài thích hợp với thế hệ.

Hoạt động trải nghiệm cũng là 1 nội dung thân thuộc vì được xây dựng trên cơ sở các hoạt động giáo dục cộng đồng như sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp, sinh hoạt Sao Nhi đồng, Đội TNTP Hồ Chí Minh và các hoạt động thăm quan, lao động, thiện nguyện, chuyên dụng cho tập thể,… trong chương trình hiện hành.

“Hoạt động trải nghiệm của mỗi lớp cốt yếu do thầy cô giáo chủ nhiệm đảm trách”, tiến hành theo kế hoạch của nhà trường. Tùy từng hoạt động chi tiết, thầy cô giáo chủ nhiệm phối hợp với thầy cô giáo môn học, cán bộ đảm trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, bác mẹ học trò để tổ chức các hoạt động này. Giáo viên và nhà trường cũng cần báo cáo chính quyền địa phương, phối hợp với các tổ chức, tư nhân trong xã hội để chỉ dẫn học trò tham dự các hoạt động lao động công ích, thiện nguyện

1.2.5. Thực hiện giáo dục theo định hướng STEM

STEM là viết tắt của các từ: Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kỹ thuật) và Math (Toán học). Giáo dục theo định hướng STEM về thực chất được hiểu là trang bị cho người học những tri thức và kĩ năng cấp thiết liên can tới các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học. Những tri thức và kĩ năng nay được tích hợp và lồng ghép, bổ trợ lẫn nhau để giúp học trò vừa hiểu được nguyên tắc, vừa có thể vận dụng để thực hành và tạo ra được những thành phầm trong cuộc sống thường nhật.

Giáo dục theo định hướng STEM tạo ra những con người có thể giải quyết được nhu cầu công tác của thế kỷ 21, phục vụ sự tăng trưởng kinh tế, xã hội của tổ quốc và có thể ảnh hưởng hăng hái tới sự chỉnh sửa của nền kinh tế kiến thức trong bối cảnh thế giới hóa.

Giáo dục theo định hướng STEM tạo nên và tăng trưởng năng lực khắc phục vấn đề cho người học. Trong mỗi bài học theo chủ đề STEM, học trò được đặt trước 1 cảnh huống có vấn đề thực tế. Theo đấy, học trò sẽ phải tìm tòi, nghiên cứu những tri thức thuộc các môn học có liên can tới vấn đề và sử dụng chúng để khắc phục vấn đề đặt ra. Kế bên đấy, giáo dục theo định hướng STEM khuyến khích cá tính học tập thông minh. Người học ko chỉ tiếp nhận các tri thức nền móng, nguyên tắc nhưng sẽ tích hợp chúng vào trong thực tiễn.

Để tiến hành giáo dục theo định hướng STEM, cần xác định rõ giáo dục theo định hướng STEM là cách thức tiếp cận liên môn trong giáo dục. Thực hiện giáo dục theo định hướng STEM phê duyệt các trải nghiệm thực tế sẽ giúp các em có được những kĩ năng như cân nhắc xui xẻo, khắc phục vấn đề, hiệp tác và làm việc thông minh.

1.2.6. Kiểm tra, bình chọn kết quả giáo dục của học trò cấp tiểu học

Chương trình GDPT 2018 xác định tiêu chí bình chọn kết quả giáo dục là hỗ trợ thông tin xác thực, kịp thời, có trị giá về chừng độ phục vụ đề nghị cần đạt của chương trình và sự tân tiến của học trò để chỉ dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học, điều hành và tăng trưởng chương trình, đảm bảo sự tân tiến của từng học trò và tăng lên chất lượng giáo dục.

Căn cứ bình chọn là các đề nghị cần đạt về phẩm giá và năng lực được quy định trong chương trình toàn cục và chương trình môn học, hoạt động giáo dục. Tinh thần chung là bình chọn học trò theo công đoạn học tập, ghi nhận, cổ vũ sự tân tiến của học trò. Điều này đúng với tiêu chí dạy học tăng trưởng năng lực phẩm giá học trò của chương trình giáo dục phổ biến 2018.

Để việc bình chọn kết quả giáo dục học trò theo chương trình GDTH 2018, Bộ GD &ĐT hiện đang có những điều chỉnh về kỹ thuật các thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT và thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT để thích hợp với chương trình GDPT 2018. Chi tiết, ngày nay Dự thảo Thông tư về Ban hành Quy định bình chọn và xếp loại học trò tiểu học.

Ngày 9/4, Bộ Giáo dục và Tập huấn đã đăng mạng lấy quan điểm góp ý cho Dự thảo Thông tư quy định Bình chọn và xếp loại học trò tiểu học. Dự thảo này được xây dựng trong bối cảnh từ 5 học 2020-2021Việt Nam sẽ khai triển Chương trình giáo dục phổ biến mới (chương trình 2018), tính từ lúc lớp 1 cấp tiểu học.

Chương trình 2018 với sự chỉnh sửa về tiêu chí giáo dục (chuyển từ nền giáo dục chú trọng truyền thụ tri thức sang nền giáo dục định hướng tăng trưởng phẩm giá và năng lực cho học trò), có thêm 1 số môn học/hoạt động giáo dục mới, nên ảnh hưởng trực tiếp tới nội dung, vẻ ngoài tổ chức-phương pháp dạy học và rà soát bình chọn người học. Do đấy, cấp thiết ban hành Thông tư quy định bình chọn và xếp loại học trò tiểu học phục vụ Chương trình GDPT mới, trên cơ sở kế thừa những ưu việt của Thông tư hiện hành.

Những điểm kế thừa từ Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT

Dự thảo Thông tư quy định Bình chọn và xếp loại học trò tiểu học vận dụng cho chương trình GDPT mới kế thừa ý kiến “bình chọn vì sự tân tiến của học trò” của Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT. Theo đấy, công việc bình chọn cần coi trọng việc cổ vũ, khuyến khích sự quyết tâm trong học tập, đoàn luyện của học trò; giúp học trò phát huy nhiều nhất bản lĩnh, năng lực; bảo đảm kịp thời, công bình, khách quan. “Không so sánh học trò này với học trò khác, ko tạo sức ép cho học trò, thầy cô giáo và bác mẹ học trò”, dự thảo Thông tư quy định.

Việc bình chọn học trò ở dự thảo Thông tư mới, tiếp diễn được tiến hành theo công đoạn, liên kết giữa bình chọn thường xuyên, bình chọn định kỳ và tổng hợp bình chọn. Trong đấy, bình chọn thường xuyên được trình bày bằng lời hoặc viết nhận xét; bình chọn định kì trình bày bằng điểm số liên kết với nhận xét. Cộng với thầy cô giáo, các học trò và phụ huynh đều được tham dự vào bình chọn học trò tiểu học.

Những điểm mới cơ bản so với Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT

Dự thảo Thông tư quy định Bình chọn và xếp loại học trò tiểu học cập nhật hệ thống văn bản làm căn cứ pháp lý, gồm: Luật Giáo dục 2019; Nghị quyết số 88/2014/QH13; Nghị quyết số 51/2017/NQ14; Nghị định số 69/2017/NĐ-CP.

Để hợp nhất với quy định trong Chương trình giáo dục phổ biến toàn cục 2018, dự thảo điều chỉnh hệ thống tên các môn học/hoạt động giáo dục và nội dung từng phẩm giá cốt yếu, năng lực mấu chốt.

Dự thảo bổ sung nội dung quy định về “ Nội dung và Phương pháp bình chọn”, bảo đảm đúng thành phần theo lý thuyết khoa học về bình chọn, gồm: khuôn khổ, nhân vật, nội dung, vẻ ngoài tổ chức, cách thức, kỹ thuật công đoạn bình chọn. Ngoài ra, quy định này giúp định hướng cho thầy cô giáo các cách thức, phương pháp thực hiện trong công đoạn bình chọn học trò, thích hợp với thế hệ tiểu học và chi tiết hoá Chương trình giáo dục phổ biến 2018.

Quy định về “tổng hợp bình chọn và xếp loại chất lượng giáo dục”, quy định về “giấy tờ bình chọn”, cũng những điểm mới của Dự thảo Thông tư. Điều này nhằm tường minh hoá công đoạn bình chọn, cùng lúc bảo đảm kết cấu chặt chẽ, hợp logic về mặt vẻ ngoài, tạo thành thứ tự hoàn chỉnh trong bình chọn gồm đủ các vẻ ngoài: bình chọn thường xuyên; bình chọn định kỳ; tổng hợp bình chọn; xếp loại chất lượng giáo dục; sử dụng kết quả bình chọn. Trong đấy, lưu tâm tới quy định học bạ điện tử được sử dụng tại mỗi cơ sở giáo dục phổ biến.

Thay vì trình bày bằng 4 chừng độ đối với các câu hỏi/bài tập trong bài rà soát định kì, dự thảo Thông tư mới chỉ sử dụng 03 chừng độ là “Hoàn thành tốt”, “Hoàn thành” và “Chưa kết thúc”. Điều này nhằm bảo đảm hợp nhất với cấp học trên, thích hợp với cách tiếp cận của các nước hiện đại trên toàn cầu, cùng lúc tạo thuận tiện cho thầy cô giáo trong công đoạn biên soạn các câu hỏi/bài tập để xây dựng đề rà soát định kì.

Trong quy định về khen thưởng học trò, Dự thảo có nói đến tới vẻ ngoài “thư khen” chi tiết “Cán bộ điều hành và thầy cô giáo có thể gửi thư khen cho những học trò có thành quả, quyết tâm trong công đoạn học tập, đoàn luyện phẩm giá, năng lực hoặc có những việc làm tốt” nhằm cổ vũ kịp thời những học trò có thành quả, quyết tâm trong công đoạn học tập, đoàn luyện phẩm giá, năng lực hoặc có những việc làm tốt. Điều này giúp các em có thêm động lực cùng nhau đoàn luyện tu dưỡng đạo đức, trau dồi tri thức để ko dừng tân tiến. Các quy định trong Dự thảo ko làm tăng khối lượng công tác của thầy cô giáo và học trò. Cùng lúc với các nội dung quy định tường minh về cách thức, kỹ thuật, thứ tự bình chọn, sẽ giúp thầy cô giáo tiếp cận, khai triển hệ thống, bài bản, khoa học và giảm được thời lượng dành cho việc bình chọn, để tập hợp vào công đoạn giảng dạy.

Mời các bạn tham khảo các bài khác trong mục Biểu mẫu.

  • Tài liệu bồi dưỡng cán bộ điều hành Tiểu học Mô Đun 1
  • Mẫu hỗ trợ chương trình Tiếng Việt lớp 1 bộ sách Cánh Diều

Xem thêm thông tin Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý Tiểu học Nội dung 1

Tài liệu bồi dưỡng cán bộ điều hành Tiểu học Nội dung 1

Chỉ dẫn tiến hành chương trình giáo dục phổ biến 2018 là nội dung 1 trong chương trình  đào tạo bồi dưỡng cán bộ điều hành Tiểu học. Sau đây là Tài liệu bồi dưỡng cán bộ điều hành Tiểu học Nội dung 1 để các thầy cô tiện tham khảo.
Tài liệu bồi dưỡng cán bộ điều hành Tiểu học Nội dung 1: Chỉ dẫn tiến hành chương trình GDPT 2018
NỘI DUNG 1
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018
1.1. Khái quát về chương trình giáo dục phổ biến 2018
1.1.1. Bối cảnh, ý kiến xây dựng chương trình
1.1.2. Những điểm chính của chương trình giáo dục phổ biến 2018
1.1.3. Điều kiện khai triển tiến hành chương trình
1.2. Những điểm cần để ý trong khai triển tiến hành chương trình giáo dục tiểu học
1.2.1. Chỉ tiêu của chương trình giáo dục tiểu học
Thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo hướng tăng trưởng phẩm giá, năng lực học trò
1.2.2. Nội dung chương trình và kế hoạch giáo dục cấp tiểu học
1.2.3. Xây dựng và tiến hành nội dung giáo dục của địa phương/nhà trường
1.2.4. Tổ chức tiến hành hoạt động trải nghiệm
1.2.5. Thực hiện giáo dục theo định hướng STEM
1.2.6. Kiểm tra, bình chọn kết quả giáo dục của học trò cấp tiểu học
KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ
GV Giáo viên
CBQL Cán bộ điều hành
BD Bồi dưỡng
HS Học trò
CTGD Chương trình giáo dục
CTGDPT Chương trình giáo dục phổ biến
TH Tiểu học
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ biến
ĐHSP Đại học sư phạm
ĐHGD Đại học Giáo dục
HVQLGD Học viện Quản lý giáo dục
GDPT Giáo dục phổ biến
GDĐT Giáo dục và Tập huấn
HĐGD Hoạt động giáo dục
HĐTN Hoạt động trải nghiệm
PPDH Phương pháp dạy học
KTĐG Kiểm tra bình chọn
NCBH Nghiên cứu bài học
CSVC Hạ tầng
TBDH Thiết bị dạy học
CHÚ GIẢI THUẬT NGỮ
Chương trình giáo dục phổ biến: Chương trình giáo dục phổ biến là văn bản trình bày tiêu chí giáo dục phổ biến, quy định các đề nghị cần đạt về phẩm giá và năng lực của học trò, nội dung giáo dục, cách thức giáo dục và cách thức bình chọn kết quả giáo dục, làm căn cứ quản lí chất lượng giáo dục phổ biến; cùng lúc là cam kết của Nhà nước nhằm đảm bảo chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục phổ biến.
Phẩm chất: Phẩm chất là những tính tốt trình bày ở thái độ, hành vi xử sự của con người; cộng với năng lực hình thành tư cách con người;
Phẩm chất được bình chọn phê duyệt hành vi.
Năng lực: Năng lực là tính chất tư nhân được tạo nên, tăng trưởng nhờ tố chất sẵn có và công đoạn học tập, đoàn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các tri thức, kỹ năng và các tính chất tư nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… tiến hành thành công 1 loại hoạt động nhất mực, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện chi tiết.
Năng lực được bình chọn bằng hiệu quả hoạt động.
Môn học: Môn học là lĩnh vực nội dung dạy học được tiến hành trong nhà trường có cấu trúc và lôgíc thích hợp với các cấp khoa học và thực tế tương ứng, thích hợp với những quy luật tâm – sinh lí của dạy học.
Hoạt động giáo dục: Trong Chương trình giáo dục phổ biến 2018, hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) bao gồm hoạt động dạy học và hoạt động trải nghiệm.
Trcửa ải nghiệm: Trcửa ải nghiệm là công đoạn hoạt động để thu nạp những kinh nghiệm, từ đấy áp dụng 1 cách hiệu quả vào thực tế cuộc sống.
Hướng nghiệp: Hướng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các giải pháp thực hiện trong và ngoài cơ sở giáo dục để giúp học trò có tri thức về nghề nghiệp, bản lĩnh chọn lọc nghề nghiệp trên cơ sở liên kết ước muốn, sở trường của tư nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội.
Giáo dục STEM: STEM là thuật ngữ viết tắt của các từ Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kĩ thuật) và Mathematics (Toán học). Giáo dục STEM là 1 cách tiếp cận liên môn trong học tập, ở đấy những định nghĩa học thuật xác thực được liên kết với bài học thực tế lúc học trò áp dụng khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học trong 1 bối cảnh chi tiết, hình thành sự kết nối giữa nhà trường, tập thể, việc làm và hoạt động kinh doanh thế giới cho phép sự tăng trưởng những hiểu biết tối thiểu về STEM và cộng với nó là bản lĩnh cạnh tranh trong nền kinh tế mới” (nguồn:Tsupros, N., R. Kohler, & Hallinen, J. (2009). STEM Education).
Bình chọn tổng kết: Bình chọn tổng kết (còn gọi là bình chọn kết quả) là bình chọn có tính tổng hợp, bao quát nhằm hỗ trợ thông tin về sự thông thạo/thành thục của học trò ở các mặt nội dung tri thức, kỹ năng và thái độ sau lúc xong xuôi 1 khóa/lớp học hoặc 1 môn học/học phần/chương trình học.
Bình chọn công đoạn: Bình chọn công đoạn là hoạt động bình chọn diễn ra trong tiến trình tiến hành hoạt động giảng dạy môn học/khóa học, hỗ trợ thông tin phản hồi cho người học biết được chừng độ đạt được của bản thân so với tiêu chí giáo dục, qua đấy điều chỉnh cách học, cách dạy giúp người học tân tiến. Bình chọn công đoạn còn được biết tới như bình chọn vì sự tân tiến của người học.
Tích hợp: Tích hợp là sự thống nhất/ nhất thể hóa các bộ phận không giống nhau để đưa đến 1 nhân vật mới như là 1 thể hợp nhất dựa trên những nét thực chất của các thành phần nhân vật chứ chẳng hề là phép cộng dễ dãi những tính chất của nhân vật đó.
Dạy học tích hợp: Dạy học tích hợp là định hướng dạy học trong đấy thầy cô giáo tổ chức, chỉ dẫn để học trò biết huy động tổng hợp tri thức, kỹ năng … thuộc nhiều lĩnh vực (môn học/hoạt động giáo dục) không giống nhau nhằm khắc phục các nhiệm vụ học tập; phê duyệt đấy tạo nên những tri thức, kĩ năng mới; tăng trưởng được những năng lực cấp thiết, nhất là năng lực khắc phục vấn đề trong học tập và thực tế cuộc sống.
Phân hóa: Phân hóa là chia 1 khối/ 1 nhóm thành nhiều phần/ nhiều nhân vật có các thuộc tính dị biệt nhau để tiến hành những ảnh hưởng cho thích hợp.
Dạy học phân hóa: Dạy học phân hóa là dạy theo từng loại nhân vật, thích hợp với tâm sinh lý, bản lĩnh, nhu cầu và hứng thú của người học nhằm tăng trưởng tối đa tiềm năng riêng vốn có của mỗi người học.
Nội dung giáo dục địa phương: Nội dung giáo dục của địa phương là những vấn đề căn bản hoặc thời sự về văn hóa, lịch sử, địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp,… của địa phương bổ sung cho nội dung giáo dục buộc phải chung hợp nhất trong cả nước, nhằm trang bị cho học trò những hiểu biết về nơi sinh sống, bồi dưỡng cho học trò tình yêu quê hương, tinh thần mày mò và áp dụng những điều đã học để góp phần khắc phục những vấn đề của quê hương.
Kế hoạch giáo dục của nhà trường: Kế hoạch giáo dục của nhà trường là loại hình văn bản chuyên môn nghiệp vụ để khai triển vận dụng chương trình giáo dục phổ biến tổ quốc trong bối cảnh chi tiết của địa phương và các điều kiện thực tiễn của nhà trường; Kế hoạch giáo dục nhà trường là văn bản chi tiết hóa tiến trình tiến hành chương trình giáo dục phổ biến (bao gồm nội dung giáo dục địa phương) thích hợp với điều kiện chi tiết về thời kì, đặc điểm của người học, nhân công, vật lực… để đạt được các tiêu chí giáo dục đã đề ra trên cơ sở phân tách bối cảnh của nhà trường. Kế hoạch giáo dục của nhà trường được xây dựng hằng 5 dựa trên kế hoạch giáo dục chung và các chỉ dẫn trong chương trình giáo dục phổ biến tổ quốc.
Kế hoạch dạy học, giáo dục: Kế hoạch dạy học, giáo dục nói đến trong tài liệu này được hiểu là văn bản chi tiết hoá việc hỗ trợ nội dung và tiến độ tiến hành chương trình dạy học các môn học và hoạt động giáo dục theo chương trình giáo dục phổ biến tổ quốc tới tầng lớp của nhà trường trong điều kiện xác định.
Kế hoạch dạy học: Kế hoạch dạy học nói đến trong tài liệu này được phê duyệt ở các đơn vị quản lý độ: kế hoạch dạy học của trường; kế hoạch dạy học môn học và kế hoạch dạy học bài học (hay còn gọi là giáo án), trong đấy:
– Kế hoạch dạy học của nhà trường là văn bản thể bây giờ gian, thời khắc, vị trí, thầy cô giáo được cắt cử để khai triển nội dung chương trình giáo dục nhà trường cho các lớp học chi tiết trong 1 tuần, 1 tháng, hay 1 học kỳ theo biên chế 5 học. Là cơ sở để khai triển tiến hành CTGD nhà trường tới thầy cô giáo, học trò và các đối tác liên can;
– Kế hoạch dạy học môn học được hiểu là 1 văn bản trình bày tiến trình tiến hành các nội dung môn học trong 1 học kì hay 5 học ở 1 số lớp chi tiết; kế hoạch dạy học tạo thế chủ động cho thầy cô giáo lúc tiến hành chương trình dạy học, thấy rõ nhiệm vụ chi tiết cho đến từng kì và từng tuần;
– Kế hoạch dạy học bài học là văn bản chi tiết hóa các đề nghị của chương trình giáo dục môn học vào điều kiện chi tiết. Kế hoạch dạy học được xây dựng thích hợp với nhân vật học trò; Nội dung kế hoạch dạy học chi tiết hóa các chừng độ đề nghị về tri thức, kỹ năng đối với nội dung dạy học và đề nghị tăng trưởng phẩm giá, năng lực cho học trò (tiêu chí bài học), có 1 số cụ thể về thiết bị dạy học, cách thức và vẻ ngoài tổ chức tiến hành dạy học, có thời kì, thời khắc thực thi các nội dung, vạch rõ, bố trí tiến trình tiến hành chương trình dạy học nội dung môn học cho thích hợp với nhân vật học trò chi tiết, trong cảnh ngộ chi tiết về hạ tầng, thiết bị dạy học và thời kì khai triển nhằm đạt được tiêu chí dạy học đã xác định.
Quản trị nhà trường: Quản trị nhà trường là công đoạn xây dựng các định hướng, quy định, kế hoạch hoạt động trong nhà trường; tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục học trò phê duyệt huy động, sử dụng các nguồn lực, giám sát, bình chọn trên cơ sở tự chủ, có bổn phận giải trình để tăng trưởng nhà trường theo sứ mệnh, tầm nhìn và tiêu chí giáo dục của nhà trường (Theo Thông tư 14/2018/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Tập huấn ngày 20 tháng 7 5 2018 ban hành quy định Chuẩn Hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ biến).
Nội dung 1HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018
Tóm lược Nội dung 1:
Khái quát những điểm mấu chốt về bối cảnh, ý kiến xây dựng CTGDPT 2018; Tóm lược tiêu chí, nội dung, cách thức dạy học, giáo dục học trò, rà soát bình chọn kết quả học tập, đoàn luyện của học trò theo đề nghị tăng trưởng phẩm giá và năng lực của CTGDPT 2018; Xác định những điểm mới của CTGD tiểu học và những điểm cần xem xét lúc tổ chức tiến hành hoạt động dạy học, giáo dục theo CTGD tiểu học.
Đề xuất cần đạt:
Sau lúc kết thúc nội dung 1, học viên có thể:
– Trình bày tóm lược được những điểm chính về tiêu chí, nội dung, cách thức dạy học, giáo dục, rà soát bình chọn kết quả học tập, giáo dục học trò theo đề nghị tăng trưởng phẩm giá và năng lực của CTGDPT 2018.
– Xác định được những điểm mới của CTGD tiểu học 2018 so với CTGD tiểu học hiện hành (sau đây gọi là CTGDTH 2006).
– Phân tích được những điểm mấu chốt cần xem xét trong tổ chức tiến hành hoạt động dạy học, giáo dục theo CTGD tiểu học 2018.
1.1. Khái quát về chương trình giáo dục phổ biến 2018
1.1.1. Bối cảnh, ý kiến xây dựng chương trình
1.1.1.1. Bối cảnh xây dựng chương trình
Sau hơn 30 5 đổi mới, non sông ta đã vượt qua nhiều gieo neo, thử thách, đạt được những thành tích mập béo, có ý nghĩa lịch sử. Cũng trong vòng thời kì trước và sau lúc nước ta thực hiện đổi mới, toàn cầu chứng kiến những chuyển đổi thâm thúy về mọi mặt. Các cuộc cách mệnh công nghiệp lần thứ 3 và lần thứ tư nối liền nhau có mặt trên thị trường, kinh tế kiến thức tăng trưởng mạnh mang lại thời cơ tăng trưởng vượt trội, cùng lúc cũng đặt ra những thử thách ko bé đối với mỗi tổ quốc, nhất là tất cả quốc gia đang tăng trưởng và chậm tăng trưởng. Mặt khác, những chuyển đổi về khí hậu, hiện trạng hết sạch khoáng sản, ô nhiễm môi trường, mất thăng bằng sinh thái và những bất định về chính trị, xã hội cũng đặt ra những thử thách có tính thế giới. Để đảm bảo tăng trưởng vững bền, nhiều tổ quốc đã ko dừng đổi mới giáo dục để tăng lên chất lượng nguồn nhân công, trang bị cho các lứa tuổi ngày mai nền móng văn hoá cứng cáp và năng lực thích nghi cao trước mọi bất định của tự nhiên và xã hội. Đổi mới giáo dục đã biến thành nhu cầu cần thiết và xu hướng mang tính thế giới. Xu thế tăng trưởng chương trình giáo dục và SGK của toàn cầu chỉnh sửa rất nhanh; có nhiều thành tích mới của khoa học giáo dục cần được bổ sung kịp thời vào chương trình giáo dục. Đầu thế kỉ XXI nhiều nước có nền giáo dục tăng trưởng đã chuyển hướng từ chương trình giáo dục coi trọng nội dung giáo dục sang chương trình giáo dục coi trọng tăng trưởng năng lực người học. Theo đấy, chương trình giáo dục Việt Nam cần đổi mới để phục vụ đề nghị hội nhập quốc tế.
Trong bối cảnh đấy, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá XI) đã phê duyệt Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4 tháng 11 5 2013 về đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và huấn luyện phục vụ đề nghị công nghiệp hoá, tiên tiến hoá trong điều kiện kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 5 2014 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ biến, góp phần đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và huấn luyện. Ngày 27 tháng 3 5 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg phê chuẩn Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ biến. Chỉ tiêu đổi mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ biến nhằm tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ biến; liên kết dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ tri thức sang nền giáo dục tăng trưởng toàn diện cả về phẩm giá và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học trò.”
Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, chương trình giáo dục phổthông mới được xây dựng theo định hướng tăng trưởng phẩm giá và năng lực của học trò; tạo môi trường học tập và đoàn luyện giúp học trò tăng trưởng hài hoà về thể chất và ý thức, biến thành người học hăng hái, tự tin, biết áp dụng các cách thức học tập hăng hái để hoàn chỉnh các kiến thức và kỹ năng nền móng, có tinh thần chọn lọc nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm giá tốt đẹp và năng lực cấp thiết để biến thành người công dân có bổn phận, công nhân có văn hoá, chăm chỉ, thông minh, phục vụ nhu cầu tăng trưởng của tư nhân và đề nghị của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ non sông trong thời đại thế giới hoávà cách mệnh công nghiệp mới.
Chương trình giáo dục phổ biến bao gồm chương trình toàn cục, chương trình các môn học và hoạt động giáo dục.
1.1.1.2. Quan điểm xây dựng chương trình
(i) Chương trình giáo dục phổ biến là văn bản trình bày tiêu chí giáo dục phổ biến, quy định các đề nghị cần đạt về phẩm giá và năng lực của học trò, nội dung giáo dục, cách thức giáo dục và cách thức bình chọn kết quả giáo dục, làm căn cứ điều hành chất lượng giáo dục phổ biến; cùng lúc là cam kết của Nhà nước nhằm đảm bảo chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục phổ biến.
(ii) Chương trình giáo dục phổ biến được xây dựng trên cơ hữu quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và huấn luyện; kế thừa và tăng trưởng những điểm cộng của các chương trình giáo dục phổ biến đã có của Việt Nam, cùng lúc tiếp nhận thành tích nghiên cứu về khoa học giáo dục và kinh nghiệm xây dựng chương trình theo mẫu hình tăng trưởng năng lực của những nền giáo dục hiện đại trên toàn cầu; gắn với nhu cầu tăng trưởng của non sông, những tân tiến của thời đại về khoa học – công nghệ và xã hội; thích hợp với đặc điểm con người, văn hoá Việt Nam, các trị giá truyền thống của dân tộc và những trị giá chung của loài người cũng như các sáng kiến và định hướng tăng trưởng chung của UNESCO về giáo dục; tạo thời cơ đồng đẳng về quyền được bảo vệ, , học tập và tăng trưởng, quyền được lắng tai, tôn trọng và được tham dự của học trò; đặt nền móng cho 1 xã hội nhân bản, tăng trưởng vững bền và phồn vinh.
(iii) Chương trình giáo dục phổ biến đảm bảo tăng trưởng phẩm giá và năng lực người học phê duyệt nội dung giáo dục với những tri thức, kỹ năng căn bản, thiết thực, tiên tiến; hài hoà đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, áp dụng tri thức, kỹ năng đã học để khắc phục vấn đề trong học tập và đời sống; tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hoá dần ở các lớp học trên; phê duyệt các cách thức, vẻ ngoài tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học trò, các cách thức bình chọn thích hợp với tiêu chí giáo dục và cách thức giáo dục để đạt được tiêu chí đấy.
(iv) Chương trình giáo dục phổ biến đảm bảo kết nối chặt chẽ giữa các lớp học, cấp học với nhau và liên thông với chương trình giáo dục măng non, chương trình giáo dục nghề nghiệp và chương trình giáo dục đại học.
(v) Chương trình giáo dục phổ biến được xây dựng theo hướng mở, chi tiết là:
– Chương trình đảm bảo định hướng hợp nhất và những nội dung giáo dục mấu chốt, buộc phải đối với học trò toàn quốc, cùng lúc trao quyền chủ động và bổn phận cho địa phương, nhà trường trong việc chọn lọc, bổ sung 1 số nội dung giáo dục và khai triển kế hoạch giáo dục thích hợp với nhân vật giáo dục và điều kiện của địa phương, của nhà trường, góp phần đảm bảo kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội.
– Chương trình chỉ quy định những nguyên lý, định hướng chung về đề nghị cần đạt về phẩm giá và năng lực của học trò, nội dung giáo dục, cách thức giáo dục và việc bình chọn kết quả giáo dục, ko quy định quá cụ thể, để giúp cho tác giả sách giáo khoa và thầy cô giáo phát huy tính chủ động, thông minh trong tiến hành chương trình.
– Chương trình đảm bảo tính bất biến và bản lĩnh tăng trưởng trong công đoạn tiến hành cho thích hợp với tân tiến khoa học – công nghệ và đề nghị của thực tiễn.
1.1.2. Những điểm chính của chương trình giáo dục phổ biến 2018
1.1.2.1. Về tiêu chí
Chương trình giáo dục phổ biến chi tiết hoá tiêu chí giáo dục phổ biến, giúp học trò làm chủ tri thức phổ biến, biết áp dụng hiệu quả tri thức, kỹ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng chọn lọc nghề nghiệp thích hợp, biết xây dựng và tăng trưởng hài hoà các mối quan hệ xã hội, có phong cách, tư cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đấy có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp hăng hái vào sự tăng trưởng của non sông và loài người.
Chương trình giáo dục tiểu học giúp học trò tạo nên và tăng trưởng những nhân tố cơ bản đặt nền tảng cho sự tăng trưởng hài hoà về thể chất và ý thức, phẩm giá và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về trị giá bản thân, gia đình, tập thể và những lề thói, nề nếp cấp thiết trong học tập và sinh hoạt.
Chương trình giáo dục trung học cơ sở giúp học trò tăng trưởng các phẩm giá, năng lực đã được tạo nên và tăng trưởng ở cấp tiểu học, tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực chung của xã hội, biết áp dụng các cách thức học tập hăng hái để hoàn chỉnh kiến thức và kỹ năng nền móng, có những hiểu biết lúc đầu về các cấp nghề và có tinh thần hướng nghiệp để tiếp diễn học lên trung học phổ biến, học nghề hoặc tham dự vào cuộc sống lao động.
Chương trình giáo dục trung học phổ biến giúp học trò tiếp diễn tăng trưởng những phẩm giá, năng lực cấp thiết đối với công nhân, tinh thần và tư cách công dân, bản lĩnh tự học và tinh thần học tập suốt đời, bản lĩnh chọn lọc nghề nghiệp thích hợp với năng lực và thị hiếu, điều kiện và cảnh ngộ của bản thân để tiếp diễn học lên, học nghề hoặc tham dự vào cuộc sống lao động, bản lĩnh thích nghi với những thay đổi trong bối cảnh thế giới hoá và cách mệnh công nghiệp mới.
1.1.2.2. Về nội dung giáo dục
Chương trình giáo dục phổ biến tiến hành tiêu chí giáo dục tạo nên, tăng trưởng phẩm giá và năng lực cho học trò phê duyệt các nội dung giáo dục tiếng nói và văn chương, giáo dục toán học, giáo dục khoa học xã hội, giáo dục khoa học thiên nhiên, giáo dục công nghệ, giáo dục tin học, giáo dục công dân, giáo dục quốc phòng và an ninh, giáo dục nghệ thuật, giáo dục thể chất, giáo dục hướng nghiệp. Mỗi nội dung giáo dục đều được tiến hành ở tất cả các môn học và hoạt động giáo dục, trong đấy có 1 số môn học và hoạt động giáo dục đảm nhận vai trò mấu chốt.
Căn cứ tiêu chí giáo dục và đề nghị cần đạt về phẩm giá, năng lực ở từng quá trình giáo dục và từng cấp học, chương trình mỗi môn học và hoạt động giáo dục xác định tiêu chí, đề nghị cần đạt về phẩm giá, năng lực và nội dung giáo dục của môn học, hoạt động giáo dục đấy.
Giai đoạn giáo dục căn bản tiến hành phương châm giáo dục toàn diện và tích hợp, đảm bảo trang bị cho học trò kiến thức phổ biến nền móng, phục vụ đề nghị phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; quá trình giáo dục định hướng nghề nghiệp tiến hành phương châm giáo dục phân hoá, đảm bảo học trò được tiếp cận nghề nghiệp, sẵn sàng cho quá trình học sau phổ biến có chất lượng.
Cả 2 quá trình giáo dục căn bản và giáo dục định hướng nghề nghiệp đều có các môn học tự chọn; quá trình giáo dục định hướng nghề nghiệp có thêm các môn học và chuyên đề học tập chọn lọc, nhằm phục vụ ước muốn, tăng trưởng tiềm năng, sở trường của mỗi học trò.
1.1.2.3. Về cách thức giáo dục
Các môn học và hoạt động giáo dục trong nhà trường vận dụng các cách thức hăng hái hoá hoạt động của học trò, trong đấy thầy cô giáo nhập vai trò tổ chức, chỉ dẫn hoạt động cho học trò, tạo môi trường học tập gần gũi và những cảnh huống có vấn đề để khuyến khích học trò hăng hái tham dự vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, ước muốn của bản thân, đoàn luyện lề thói và bản lĩnh tự học, phát huy tiềm năng và những tri thức, kỹ năng đã tích luỹ được để tăng trưởng.
Các hoạt động học tập của học trò bao gồm hoạt động khám phá vấn đề, hoạt động luyện tập và hoạt động thực hành (phần mềm những điều đã học để phát hiện và khắc phục những vấn đề có thực trong đời sống), được tiến hành với sự cung cấp của thiết bị dạy học, đặc trưng là phương tiện tin học và các máy móc tự động hoá của kĩ thuật số.
Tuỳ theo tiêu chí, thuộc tính của hoạt động, học trò được diễn ra làm việc độc lập, làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp nhưng mà phải đảm bảo mỗi học trò được tạo điều kiện để tự mình tiến hành nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tiễn.
1.1.2.4. Về bình chọn kết quả giáo dục
Chỉ tiêu bình chọn kết quả giáo dục là hỗ trợ thông tin xác thực, kịp thời, có trị giá về chừng độ phục vụ đề nghị cần đạt của chương trình và sự tân tiến của học trò để chỉ dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học, điều hành và tăng trưởng chương trình, đảm bảo sự tân tiến của từng học trò và tăng lên chất lượng giáo dục.
Căn cứ bình chọn là các đề nghị cần đạt về phẩm giá và năng lực được quy định trong chương trình toàn cục và các chương trình môn học, hoạt động giáo dục. Phạm vi bình chọn bao gồm các môn học và hoạt động giáo dục buộc phải, môn học và chuyên đề học tập chọn lọc và môn học tự chọn. Nhân vật bình chọn là thành phầm và công đoạn học tập, đoàn luyện của học trò.
Kết quả giáo dục được bình chọn bằng các vẻ ngoài định tính và định lượng phê duyệt bình chọn thường xuyên, định kì ở cơ sở giáo dục, các kì bình chọn trên diện rộng ở cấp tổ quốc, cấp địa phương và các kì bình chọn quốc tế. Cộng với kết quả các môn học và hoạt động giáo dục buộc phải, các môn học và chuyên đề học tập chọn lọc, kết quả các môn học tự chọn được sử dụng cho bình chọn kết quả học tập chung của học trò trong từng 5 học và trong cả công đoạn học tập.
Việc bình chọn thường xuyên do thầy cô giáo đảm trách môn học tổ chức, liên kết bình chọn của thầy cô giáo, của bác mẹ học trò, của bản thân học trò được bình chọn và của các học trò khác.
Việc bình chọn định kì do cơ sở giáo dục tổ chức để chuyên dụng cho công việc điều hành các hoạt động dạy học, đảm bảo chất lượng ở cơ sở giáo dục và chuyên dụng cho tăng trưởng chương trình.
Việc bình chọn trên diện rộng ở cấp tổ quốc, cấp địa phương do tổ chức khảo thí cấp tổ quốc hoặc cấp tỉnh, thị thành trực thuộc trung ương tổ chức để chuyên dụng cho công việc điều hành các hoạt động dạy học, giáo dục, đảm bảo chất lượng bình chọn kết quả giáo dục ở cơ sở giáo dục, chuyên dụng cho tăng trưởng chương trình và tăng lên chất lượng giáo dục.
Phương thức bình chọn đảm bảo độ tin tưởng, khách quan, thích hợp với từng thế hệ, từng cấp học, ko gây sức ép lên học trò, giảm thiểu tốn kém cho ngân sách nhà nước, gia đình học trò và xã hội.
Nghiên cứu từng bước vận dụng các thành tích của khoa học đo lường, bình chọn trong giáo dục và kinh nghiệm quốc tế vào việc tăng lên chất lượng bình chọn kết quả giáo dục, xếp loại học trò ở cơ sở giáo dục và sử dụng kết quả bình chọn trên diện rộng làm phương tiện kiểm soát chất lượng bình chọn ở cơ sở giáo dục.
1.1.3. Điều kiện khai triển tiến hành chương trình
Điều kiện khai triển tiến hành chương trình được căn cứ vào:
– Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐTngày 26 tháng 12 5 2018 của Bộ Giáo dục và Tập huấn về việc ban hành Chương trình giáo dục phổ biến (PhầnVII Điều kiện tiến hành Chương trình giáo dục phổ biến).
– Công văn 344-BGD&ĐT, ngày 24 tháng 01 5 2019 của Bộ Giáo và Tập huấn về việc chỉ dẫn khai triển chương trình Chương trình giáo dục phổ biến 2018.
Từ những căn cứ pháp lý trên, các điều kiện để tiến hành chương trình giáo dục phổ biến 2018 đối với các cơ sở giáo dục phổ biến bao gồm:
(1) Hàng ngũ thầy cô giáo, cán bộ điều hành:
– Phcửa ải có đủ số lượng và cơ cấu hàng ngũ thầy cô giáo và cán bộ điều hành theo qui định đối với từng cấp học
– Giáo viên và cán bộ điều hành phải có năng lực tiến hành phục vụ đề nghị và có động lực tiến hành sự chỉnh sửa
Giáo viên và cán bộ điều hành giáo dục là những người trực tiếp tiến hành công cuộc đổi mới GDPT. Chương trình GDPT 2018 chỉ thành công lúc hàng ngũ này có năng lực và có động lực đổi mới.
Do đấy cần sẵn sàng hàng ngũ thầy cô giáo để tiến hành chương trình giáo dục phổ biến 2018; phối hợp tiến hành tốt công việc bồi dưỡng thầy cô giáo tiến hành chương trình và sách giáo khoa mới. Với việc chỉnh sửa tư duy của người thầy từ truyền thụ tri thức sang giáo dục tăng trưởng phẩm giá, năng lực của người học thì cần phải bồi dưỡng, đào tạo toàn quân nhân ngũ thầy cô giáo và cán bộ điều hành các cơ sở giáo dục 1 cách toàn diện về tiêu chí, nội dung và cách thức giảng dạy, giáo dục nhằm tăng trưởng phẩm giá và năng lực người học. Qua đấy, giúp mỗi người trong cuộc đổi mới giáo dục phổ biến ko chỉ cách điệu mình trong tư duy giáo dục nhưng còn trong cả hành vi giáo dục, ko chỉ cách điệu mình trong cách thức giáo dục nhưng còn trong cả phương pháp chọn lọc cách thức giáo dục.
Để có đủ hàng ngũ thầy cô giáo tiến hành chương trình giáo dục phổ biến mới, phải thực hiện song song việc bồi dưỡng với huấn luyện thầy cô giáo.
Để đáp ứng động lực cho hàng ngũ khi mà Nhà nước chưa có đủ điều kiện để chỉnh sửa chế độ đãi ngộ, tăng lên thu nhập cho thầy cô giáo và cán bộ điều hành, đầu tiên, cần trao quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục, quyền quyết định về nội dung, cách thức giáo dục cho thầy cô giáo và đảm bảo điều kiện làm việc cho cơ sở giáo dục, thầy cô giáo.
Cơ sở giáo dục cần sớm được trao quyền tự chủ về chuyên môn, nhân sự, tổ chức bộ máy và nguồn vốn như quy định của Luật Giáo dục
Giáo viên cần được chủ động, thông minh trong dạy học, giáo dục chẳng hề bám theo từng ý, từng chữ trong sách giáo khoa như cách chỉ huy tầm thường ngày nay. Sĩ số các lớp học chí ít phải đảm bảo quy định của Bộ Giáo dục và Tập huấn: tối đa 35 học trò/lớp ở cấp tiểu học và 45 học trò /lớp ở các đơn vị quản lý THCS, THPT.
Trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp, cần giảm đầu cơ từ ngân sách, huy động sự đóng góp của người học, giải quyết hiện trạng duy trì mức học phí vẻ ngoài ở các đơn vị quản lý học, trình độ huấn luyện ko buộc phải để tập hợp đầu cơ cho các đơn vị quản lý học phổ cập. Nhà nước cũng cần bổ sung các chế độ khuyến khích tăng trưởng giáo dục ngoài công lập để vừa san sớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước và các trường công lập, vừa tạo điều kiện tăng lên chất lượng giáo dục.
(2) Hạ tầng, thiết bị dạy học:
Phcửa ải có đủ phòng học để đảm bảo sĩ số lớp học theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đàotạo.
Các trường tiểu học cần tiến hành dạy học 2 buổi/ngày, cần bảo đảm tỷ lệ 1 phòng học/lớp, có đủ phòng công dụng, thư viện, sân chơi, bãi tập, công trình vệ sinh sạch bóng; có đủ thiết bị dạy học tối thiểu; Những nơi chưa có đủ điều kiện thì tối thiểu cũng phải tổ chức dạy được 6buổi/tuần.
– Lớp học nên được sắp đặt thích hợp với đề nghị làm việc nhóm thường xuyên.
– Các cơ sở giáo dục cũng cần được trang bị máy tính, lắp đặt Internet để thầy cô giáo đổi mới cách thức dạy học, học trò kiếm tìm tư liệu và tiến hành 1 số thí nghiệm ảo thay cho thí nghiệm với các dụng cụ đắt tiền hoặc ko đảm bảo an toàn.
(3) Sự đồng thuận từ xã hội:
Dân ta đã có câu “Dễ trăm lần ko dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Để tiến hành đổi mới thành công, ngành Giáo dục cần làm tốt công việc thông tin và truyền thông. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giảng giải để người dân thông suốt tại sao phải đổi mới, đổi mới như thế nào và bổn phận của mỗi tổ chức, tư nhân đóng góp vào sự nghiệp đổi mới giáo dục, cũng là đóng góp vào sự bất biến xã hội và tăng trưởng của non sông. Cộng với sự chủ động của ngành Giáo dục, rất cần có sự cung cấp của các tổ chức, tư nhân và sự ủng hộ phổ thông, hiệu quả của các cơ quan truyền thông đại chúng.
Quán triệt ý kiến tăng trưởng giáo dục là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương có bổn phận chỉ đạo, chỉ huy tiến hành thành công chương trình giáo dục phổ biến; đảm bảo điều kiện tiến hành chương trình; tiến hành nghiêm chỉnh các chế độ của Đảng, Nhà nước đối với thầy cô giáo và cán bộ điều hành giáo dục cơ sở giáo dục phổ biến. Nhà trường chủ động tư vấn với cấp uỷ Đảng, chính quyền và phối hợp với các tư nhân, tổ chức ở địa phương để huy động nhiều chủng loại các nguồn lực tham dự các hoạt động giáo dục và cung cấp kinh phí, hạ tầng nhà trường, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn.
Phối hợp tốt giáo dục gia đình và giáo dục nhà trường. Gia đình, bác mẹ học trò được chỉ dẫn phối hợp và tham dự giáo dục con em theo đề nghị của lớp học, cấp học; Ban đại diện bác mẹ học trò có cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền, bổn phận và hoạt động theo Điều lệ Ban đại diện bác mẹ học trò; nhà trường tạo điều kiện thuận tiện để Ban đại diện bác mẹ học trò hoạt động.
Phối hợp tốt giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội. Nhà trường chủ động tổ chức, chỉ dẫn học trò tham dự các hoạt động Đoàn, Đội, Hội, hoạt động xã hội, hăng hái góp phần tiến hành các nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế – xã hội của địa phương, qua đấy tiến hành giáo dục học trò trong thực tế đời sống.
1.2. Những điểm cần để ý trong khai triển tiến hành chương trình giáo dục tiểu học
1.2.1. Chỉ tiêu của chương trình giáo dục tiểu học
Giáo dục tiểu học nhằm giúp học trò tạo nên những cơ sở lúc đầu cho sự tăng trưởng đúng mực và dài lâu về đạo đức, trí óc, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng căn bản để học trò tiếp diễn học lên THCS.
Trong Chương trình GDPT 2018, tiêu chí giáo dục tiểu học ko chỉ để ý “sẵn sàng cho học trò những cơ sở lúc đầu của việc tạo nên và tăng trưởng hài hoà về thể chất và ý thức, có được những tri thức và kĩ năng căn bản nhất để tiếp diễn học THCS”, nhưng còn để ý đề nghị tăng trưởng phẩm giá, năng lực và nhấn mạnh “định hướng chính vào trị giá gia đình, dòng họ, quê hương, những lề thói cấp thiết trong học tập và sinh hoạt”.
Thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo hướng tăng trưởng phẩm giá, năng lực học trò:
Trong Chương trình GDPT 2018, phẩm giá và năng lực của người học được tạo nên và tăng trưởng bằng 2 trục đường:
– Thông qua nội dung của 1 số môn học. Thí dụ, ý thức yêu nước có thể được nung đúc phê duyệt nội dung của các môn Thiên nhiên và Xã hội Lịch sử và Địa lý, Đạo đức, Hoạt động trải nghiệm và 1 số nội dung của các môn Tiếng Việt , Ngoại ngữ 1,… Phần béo các môn học này cũng bồi dưỡng cho học trò lòng bác ái, độ lượng, tinh thần tôn trọng các nền văn hoá không giống nhau, tôn trọng sự dị biệt giữa mọi người.
– Thông qua cách thức giáo dục. Thí dụ, tính chịu khó, thái độ thật thà và ý thức bổn phận từng bước được tạo nên và tăng trưởng phê duyệt lao động học tập hằng ngày dưới sự chỉ dẫn, đoàn luyện của thầy cô. Tinh thần yêu nước và lòng bác ái cũng chỉ có thể tạo nên và tăng trưởng vững bền phê duyệt các hoạt động thực tiễn.
Để tăng trưởng năng lực của người học, tiến hành nội dung và cách thức giáo dục theo hướng sau đây:
– Dạy học phân hoá:
Dạy học phân hoá là định hướng thiết kế nội dung và cách thức giáo dục thích hợp với đặc dằn bụng – sinh lí, bản lĩnh, nhu cầu, hứng thú và định hướng nghề nghiệp của các nhân vật học trò không giống nhau, nhằm tăng trưởng tối đa tiềm năng vốn có của mỗi học trò. Dạy học phân hoá ở tiểu học cần chú trọng cả phân hoá trong (phân hoá vi mô) và phân hoá ngoài (phân hoá vĩ mô).
Phân hoá trong trình bày cốt yếu qua định hướng về cách thức giáo dục, nhấn mạnh tính hăng hái hoá hoạt động của người học, khuyến khích học trò hăng hái tham dự vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, ước muốn của bản thân, và qua định hướng về bình chọn kết quả giáo dục, nhấn mạnh đảm bảo sự tân tiến của từng học trò.
Phân hoá ngoài trình bày ở việc học trò được tự chọn các môn học, các chủ đề, chuyên đề học tập chọn lọc theo ước muốn. Ở cấp tiểu học, kế bên nhiệm vụ trọng điểm là tiến hành giáo dục toàn diện và tích hợp, CT GDPT 2018 thiết kế 1 số môn học và hoạt động giáo dục theo các chủ đề, giúp cho học trò chọn lọc những môn học hoặc chủ đề thích hợp với thị hiếu và năng lực của bản thân.
– Dạy học tích hợp:
Dạy học tích hợp là định hướng thiết kế nội dung giáo dục giúp học trò tăng trưởng bản lĩnh huy động tổng hợp tri thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực không giống nhau để khắc phục có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong đời sống, qua đấy tăng trưởng được năng lực cấp thiết, nhất là năng lực khắc phục vấn đề. Tính tích hợp trình bày qua sự huy động, liên kết, liên hệ các nhân tố có liên can với nhau của nhiều lĩnh vực, nhiều môn học để khắc phục có hiệu quả 1 vấn đề và thường đạt được nhiều tiêu chí không giống nhau.
Dạy học tích hợp trong CT GDPT 2018 có 1 số điểm khác như: đẩy mạnh tích hợp nhiều tiết mục trong cùng 1 môn học; xây dựng 1 số môn học tích hợp mới ở các đơn vị quản lý học, ý thức chung là tích hợp cao ở các lớp học, cấp học dưới và phân hoá dần ở các lớp học, cấp học trên; tiến hành dạy học tích hợp cả trong tiêu chí, nội dung, cách thức giáo dục và bình chọn kết quả giáo dục.
Ở cấp tiểu học, CT GDPT 2018 tiếp diễn xây dựng 1 số môn học có tính tích hợp trên cơ sở tăng trưởng các môn học tích hợp đã có như: Thiên nhiên và xã hội, Lịch sử và Địa lí, Khoa học.
Ở cấp tiểu học còn có 1 hoạt động giáo dục tích hợp là Hoạt động trải nghiệm.
– Dạy học phê duyệt hoạt động hăng hái của người học:
Đặc điểm chung của các cách thức giáo dục được vận dụng trong CT GDPT 2018 là hăng hái hoá hoạt động của người học, trong đấy thầy cô giáo nhập vai trò tổ chức, chỉ dẫn hoạt động cho học trò, tạo môi trường học tập gần gũi và những cảnh huống có vấn đề để khuyến khích học trò hăng hái tham dự vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, ước muốn của bản thân, đoàn luyện lề thói và bản lĩnh tự học, phát huy tiềm năng và những tri thức, kỹ năng đã thu thập được để tăng trưởng.
Các hoạt động học tập của học trò bao gồm hoạt động khám phá vấn đề, hoạt động luyện tập và hoạt động thực hành (phần mềm những điều đã học để phát hiện và khắc phục những vấn đề có thực trong đời sống) được diễn ra trong và ngoài khuôn viên nhà trường phê duyệt 1 số vẻ ngoài cốt yếu như học lí thuyết; tiến hành bài tập, thí nghiệm, trò chơi, nhập vai, dự án nghiên cứu; tham dự seminar, thăm quan, cắm trại, đọc sách; sinh hoạt cộng đồng, hoạt động chuyên dụng cho tập thể. Tùy theo tiêu chí chi tiết và thuộc tính của hoạt động, học trò được diễn ra làm việc độc lập, làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp. Dù làm việc độc lập, theo nhóm hay theo đơn vị lớp, mỗi học trò đều được tạo điều kiện để tự mình tiến hành nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tiễn.
Sử dụng các cách thức, vẻ ngoài tổ chức dạy học, giáo dục phát huy tính hăng hái, chủ động của học trò, tạo môi trường để học trò được trải nghiệm như: cách thức dạy học mỹ thuật tiếp cận năng lực học trò, cách thức dạy học “bàn tay nặn bột”…
1.2.2. Nội dung chương trình và kế hoạch giáo dục cấp tiểu học
Chương trình GDPT 2018 bao gồm quy định chương trình toàn cục, quy định chương trình môn học và hoạt động giáo dục. Trong đấy, đối với cấp Tiểu học có 1 số nội dung mấu chốt sau:
a) Môn học và hoạt động giáo dục buộc phải trong chương trình mới
– Gồm: 1) Tiếng Việt; 2) Toán; 3) Đạo đức; 4) Ngoại ngữ 1 (Lớp 3,4,5); 5) Thiên nhiên và xã hội (Lớp 1,2,3); 6) Lịch sử và Địa lí (Lớp 4, 5); 7) Khoa học (Lớp 4, 5); 8) Tin học và Công nghệ (Lớp 3, 4, 5); 9) Giáo dục thể chất; 10) Nghệ thuật (Âm nhạc và Mĩ Thuật) và Hoạt động trải nghiệm (trong đấy có tích hợp nội dung giáo dục của địa phương).
– Nội dung môn học Giáo dục thể chất được thiết kế thành các học phần (mô-đun); nội dung Hoạt động trải nghiệm được thiết kế thành các chủ đề; học trò được chọn lọc học phần, chủ đề thích hợp với ước muốn của bản thân và bản lĩnh tổ chức của nhà trường.
b) Các môn học tự chọn(dạy ở những nơi có đủ điều kiện dạy học và phụ huynh học trò có ước muốn)Tiếng dân tộc thiểu số (dạy từ lớp 1 tới lớp 5); Ngoại ngữ 1 (dạy ở lớp 1, 2).
Bảng 1: So sánh kế hoạch giáo dục ở lớp 1 theo Chương trình giáo dục PT 2006
và Chương trình giáo dục phổ biến 2018

Kế hoạch giáo dục tiểu học theo
Chương trình giáo dục phổ biến 2018

Kế hoạch giáo dục tiểu học hiện hành theo QĐ Số 16/2006

Nội dung giáo dục

Số tiết trong 1 5

Nội dung giáo dục

Số tiết trong 1 5

Lớp 1

Lớp 1

I. Môn học buộc phải

I. Môn học buộc phải

1. Tiếng Việt

420

1.Tiếng Việt

350

2. Toán

105

2. Toán

140

3. Đạo đức

35

3. Đạo đức

35

4. Thiên nhiên-Xã hội

70

4. TN-XH

35

5. Nghệ thuật
(Âm nhạc, Mỹ thuật)

70

5. Âm nhạc

35

6. Mĩ thuật

35

7. Thủ công

35

6. Giáo dục thể chất

70

8. Thể dục

35

II. Hoạt động giáo dục buộc phải

II. Hoạt động giáo dục buộc phải

1. Hoạt động trải nghiệm
(Tích hợp thêm giáo dục địa phương)

105

1. Giáo dục cộng đồng (sinh hoạt lớp và chào cờ đầu tuần)

70

2. Giáo dục ngoài giờ lên lớp (4 tiết/tháng)

35

III. Môn học tự chọn

III. Môn học tự chọn

1. Tiếng dân tộc thiểu số

70

1. Tin học

2. Ngoại ngữ 1

70

2. Tiếng Anh

3. Tiếng dân tộc

Tổng số tiết trong 1 5 (không kể tự chọn)

875

Tổng số tiết trong 1 5

805

Số tiết trung bình trên tuần (không kể tự chọn)

25

Số tiết trung bình trên tuần

23

Bảng 2: So sánh kế hoạch giáo dục tiểu học theo Chương trình 2006 và Chương trình 2018

Kế hoạch giáo dục tiểu học theo Chương trình 2018

Kế hoạch giáo dục tiểu học hiện hành
theo QĐ Số 16/2006

Nội dung giáo dục

Số tiết trong 1 5

Nội dung giáo dục

Số tiết trong 1 5

Lớp 1

Lớp 2

Lớp 3

Lớp 4

Lớp 5

Lớp 1

Lớp 2

Lớp 3

Lớp 4

Lớp 5

I. Môn học buộc phải

I. Môn học buộc phải

1. Tiếng Việt

420

350

245

245

245

1.Tiếng Việt

350

315

280

280

280

2. Toán

105

175

175

175

175

2. Toán

140

175

175

175

175

3. Đạo đức

35

35

35

35

35

3. Đạo đức

35

35

35

35

35

4. Thiên nhiên và xã hội

70

70

70

4. Thiên nhiên xã hội

35

35

70

5. Khoa học

70

70

5. Khoa học

70

70

6. Lịch sử và Địa lý

70

70

6. Lịch sử và Địa lí

70

70

7. Nghệ thuật

70

70

70

70

70

7. Âm nhạc

35

35

35

35

35

8. Mĩ thuật

35

35

35

35

35

9. Thủ công

35

35

35

8. Tin học và Công nghệ

70

70

70

10. Kĩ thuật

35

35

9. Giáo dục thể chất

70

70

70

70

70

11. Thể dục

35

70

70

70

70

10. Ngoại ngữ 1

140

140

140

II. Hoạt động giáo dục buộc phải

II. Hoạt động giáo dục buộc phải

1. Hoạt động trải nghiệm
(Tích hợp thêm giáo dục địa phương)

105

105

105

105

105

1. Giáo dục cộng đồng (sinh hoạt lớp và chào cờ đầu tuần)

70

70

70

70

70

2. Giáo dục ngoài giờ lên lớp (4 tiết/tháng)

35

35

35

35

35

III. Môn học tự chọn

III. Môn học tự chọn

1. Tiếng dân tộc thiểu số

70

70

70

70

70

1. Tin học

Đây là những môn học được bổ sung sau và được diễn ra tiến hành ko đồng đều và chất lượng thấp

2. Ngoại ngữ 1

70

70

2. Tiếng Anh

3. Tiếng dân tộc

Tổng số tiết trong 1 5
(không kể tự chọn)

875

875

980

1050

1050

Tổng số tiết trong 1 5

805

840

840

910

910

Số tiết trung bình trên tuần
(không kể tự chọn)

25

25

28

30

30

Số tiết trung bình trên tuần

23

24

24

26

26

– So với Chương trình hiện hành, Chương trình 2018 có ít môn học hơn do tiến hành chủ trương tích hợp cao ở các lớp dưới. Tuy nhiên, trong Chương trình 2018 có thêm 2 môn học mới là Ngoại ngữ 1; Tin học và Công nghệ. Chương trình 2018 là chương trình học 2 buổi/ngày, do đấy số tiết học trong 1 5 học đều nâng cao, chi tiết:
+) Lớp 1, 2 có: 06 môn học và 01 hoạt động buộc phải, số tiết bình quân trên tuần là 25 (chưa tính môn tự chọn). (Chương trình hiện hành có 10 môn và 23 tiết trên tuần).
+) Lớp 3 có: 08 môn học và 01 hoạt động buộc phải, số tiết bình quân trên tuần là 28 tiết (Chương trình hiện hành có 10 môn và 24 tiết trên tuần)
+) Lớp 4, 5 có: 09 môn học và 01 hoạt động buộc phải, số tiết bình quân trên tuần là 30 tiết. (Chương trình hiện hành có 11 môn, và 26 tiết trên tuần)
BIỂU ĐỒ SO SÁNH MÔN HỌC VÀ THỜI LƯỢNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH MỚI VÀ CHƯƠNG TRÌNH HIỆN HÀNH CẤP TIỂU HỌC
So với chương trình giáo dục phổ biến hiện hành, ở chương trình giáo dục phổ biến 2018, ở cấp tiểu học môn “Tin học” thêm nội dung “Công nghệ” và là môn học buộc phải với tên gọi mới là “Tin học và Công nghệ”; môn “Thể dục” có tên gọi mới là môn “Giáo dục thể chất”; Ngoại ngữ 1 là môn buộc phải (từ lớp 3); làm quen tiếng Anh lớp 1, lớp 2 đang thực hiện nay các trường tiểu học ngày nay là môn học tự chọn.
Việc đổi tên môn “Kĩ thuật” ở cấp tiểu học thành “Tin học và Công nghệ” là do chương trình mới bổ sung phần “Tin học” và tổ chức lại nội dung phần “Kĩ thuật”. Tuy nhiên, trong chương trình hiện hành, môn “Tin học” đã được dạy từ lớp 3 như 1 môn học tự chọn. “Ngoại ngữ” tuy là môn học mới ở cấp tiểu học nhưng mà là 1 môn học từ lâu đã được dạy ở các đơn vị quản lý học khác; thậm chí đã được nhiều học trò làm quen từ cấp học măng non.
Môn Tiếng Việt vẫn được dành đầu tiên đặc trưng
Trong Chương trình GDPT 2018, ở cấp tiểu học, thời lượng dành cho môn “Tiếng Việt” là 1.505 tiết chiếm 31% tổng thời lượng chương trình dành cho các môn học buộc phải; bằng thời lượng học trong chương trình hiện hành. Chương trình GDPT dành thời lượng thích đáng cho việc học tiếng Việt ở cấp tiểu học, đặc trưng ở lớp 1, lớp 2. Điều này được giảng giải là để đảm bảo học trò đọc thông viết thạo, tạo tiền đề học các môn học khác. Đối với học trò người dân tộc thiểu số thì việc có đủ thời kì học tiếng Việt càng quan trọng.
Giáo dục thể chất
Giáo dục thể chất góp phần tạo nên các phẩm giá cốt yếu và năng lực chung cho học trò; cùng lúc, phê duyệt việc trang bị tri thức về sức khoẻ, điều hành sức khỏe và đoàn luyện, giáo dục thể chất giúp học trò tạo nên và tăng trưởng năng lực thể chất và văn hoá thể chất, tinh thần bổn phận đối với sức khỏe của bản thân, gia đình và tập thể; biết chọn lọc môn thể thao thích hợp với năng lực đi lại của bản thân để luyện tập; biết thích nghi với các điều kiện sống, sáng sủa và san sẻ với mọi người; có cuộc sống khoẻ mạnh về thể lực và ý thức.
Nội dung cốt yếu của môn Giáo dục thể chất là đoàn luyện kỹ năng đi lại và tăng trưởng tố chất thể lực cho học trò bằng những bài cộng đồng chất nhiều chủng loại như rèn kỹ năng đi lại căn bản, đội hình hàng ngũ, các bài cộng đồng dục, các trò chơi đi lại, các môn thể thao và cách thức phòng tránh chấn thương trong hoạt động.
Hoạt động trải nghiệm
Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục buộc phải; do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và chỉ dẫn tiến hành, tạo thời cơ cho học trò tiếp cận thực tiễn, thể nghiệm các xúc cảm hăng hái, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp tri thức, kỹ năng của các môn học không giống nhau để tiến hành nhiệm vụ được giao hoặc khắc phục những vấn đề của thực tế đời sống nhà trường, gia đình, xã hội thích hợp với thế hệ; phê duyệt đấy, chuyển hóa những kinh nghiệm đã trải qua thành kiến thức mới, kỹ năng mới góp phần phát huy tiềm năng thông minh và bản lĩnh thích nghi với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp ngày mai.
Hoạt động trải nghiệm ở tiểu học tăng trưởng các phẩm giá cốt yếu, năng lực mấu chốt của học trò trong các mối quan hệ với bản thân, xã hội, môi trường thiên nhiên và nghề nghiệp được khai triển qua 4 mạch nội dung hoạt động chính:
Hoạt động hướng vào bản thân,
Hoạt động hướng tới xã hội,
Hoạt động hướng tới thiên nhiên, và
Hoạt động hướng nghiệp.
c) Tổ chức tiến hành dạy học 02 buổi/ngày
Chương trình GDPT 2018 quy định: Cấp tiểu học “tiến hành dạy học 2 buổi/ngày, mỗi ngày sắp đặt ko quá 07 tiết học. Cơ sở giáo dục tiểu học chưa đủ điều kiện tổ chức dạy học 02 buổi/ngày tiến hành kế hoạch giáo dục theo chỉ dẫn của Bộ Giáo dục và Tập huấn.”.
Ở cấp tiểu học, theo chương trình giáo dục phổ biến 2018, học trò học 2.838 giờ. Theo chương trình hiện hành, học trò học 2.353 giờ. Như vậy thời lượng học tập tăng khoảng 485 giờ. Tuy nhiên, chương trình 2018 là chương trình học 2 buổi/ngày (09 buổi/tuần). Tính trung bình học trò học 1,8 giờ/lớp/buổi học; so với chương trình hiện hành là chương trình học 1 buổi/ngày (05 buổi/tuần), tính trung bình học trò học 2,7 giờ/lớp/buổi học.). Việc thiết kế chương trình mới tương tự tạo điều kiện cho trường tiểu học có điều kiện tổ chức các hoạt động học, hoặc chỉ dẫn học trò tự học tại lớp, hoạt động trải nghiệm, sinh hoạt cộng đồng, vui chơi tiêu khiển nhiều hơn. Lý do là cùng khối lượng nội dung chương trình nhưng mà thời kì được giãn ra. Việc thiết kế học 02 buổi/ngày cũng là 1 giải pháp giải tải, cùng lúc sẽ giúp giảm hiện trạng dạy thêm, học thêm.
Chỉ tiêu của hoạt động dạy học 02 buổi/ngày là đẩy mạnh giáo dục toàn diện, đặc trưng là đẩy mạnh các hoạt động thực hành, đoàn luyện cơ thể, sinh hoạt văn hoá – nghệ thuật, giáo dục kỹ năng sống cho học trò; giảm thiểu hiện trạng dạy thêm, học thêm; phục vụ đề nghị điều hành và giáo dục học trò của gia đình và xã hội; góp phần tăng lên chất lượng giáo dục.
– Các trường cần tư vấn với địa phương hợp lý quỹ đất, kinh phí để mỗi 5 tiến hành dứt điểm việc dạy học 02 buổi/ngày ở 1 lớp học theo lịch trình đổi mới chương trình, SGK phổ biến như quy định tại Nghị quyết 51 của Quốc hội: 5 học 2020 – 2021 ở lớp 1; 5 học 2020 – 2021 ở lớp 2; 5 học 2020 – 2021 ở lớp 3; 5 học 2020 – 2021 ở lớp 4; 5 học 2020 – 2021 ở lớp 5.
– Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 02 buổi/ngày cần sắp đặt thêm buổi học thứ 6 trong tuần để đảm bảo kết thúc chương trình các môn học và HĐGD buộc phải; ko dạy các môn học tự chọn (Tiếng dân tộc thiểu số; Ngoại ngữ 1 ở lớp 1, lớp 2).
Các trường đủ điều kiện dạy học 02 buổi/ngày cần có kế hoạch sử dụng thời kì ngoài thời kì dành cho chương trình các môn học, hoạt động giáo dục buộc phải 1 cách có lí để dạy các môn học tự chọn cho học trò có ước muốn học; bồi dưỡng học trò năng khiếu, chỉ dẫn những học trò chưa phục vụ các đề nghị cần đạt; đẩy mạnh các hoạt động thực hành, đoàn luyện cơ thể, sinh hoạt văn hoá – nghệ thuật, giáo dục kỹ năng sống cho học trò.
1.2.3. Xây dựng và tiến hành nội dung giáo dục của địa phương/nhà trường
Căn cứ quy định của Nghị quyết số 88, Chương trình GDPT 2018 quy định: “Nội dung giáo dục của địa phương là những vấn đề căn bản hoặc thời sự về văn hóa, lịch sử, địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp,… của địa phương bổ sung cho nội dung giáo dục buộc phải chung hợp nhất trong cả nước, nhằm trang bị cho học trò những hiểu biết về nơi sinh sống, bồi dưỡng cho học trò tình yêu quê hương, tinh thần mày mò và áp dụng những điều đã học để góp phần khắc phục những vấn đề của quê hương. Căn cứ chương trình giáo dục phổ biến, Ủy ban quần chúng tỉnh, thị thành trực thuộc trung ương quy định tiêu chuẩn, thứ tự biên soạn, nhận định, biên tập tài liệu về nội dung giáo dục của địa phương; chỉ huy việc tổ chức biên soạn, nhận định tài liệu về nội dung giáo dục của địa phương theo chỉ dẫn của Bộ Giáo dục và Tập huấn và báo cáo để Bộ Giáo dục và Tập huấn phê chuẩn”.
Ở cấp tiểu học, nội dung giáo dục của địa phương được tích hợp với Hoạt động trải nghiệm. Căn cứ nhu cầu thực tiễn, mỗi tỉnh, thị thành trực thuộc trung ương chọn lọc nội dung giáo dục thích hợp, nội dung tích hợp giáo dục địa phương cho tầng lớp trong cấp học. Thí dụ, Hà Nội có thể xây dựng các bài học về văn hóa người Tràng An, văn hóa và luật pháp về giao thông, thứ tự vệ sinh đô thị,… Thành phố Hồ Chí Minh có thể xây dựng các bài học về thị thành sáng dạ, văn hóa của công dân thị thành sáng dạ,… Các tỉnh Tây Nguyên có thể xây dựng các bài học về văn hóa các dân tộc thiểu số, kinh tế cây công nghiệp,… Các tỉnh miền núi phía Bắc có thể xây dựng các bài học về văn hóa các dân tộc thiểu số…
1.2.4. Tổ chức tiến hành hoạt động trải nghiệm
Ở cấp tiểu học, nội dung “Hoạt động trải nghiệm tập hợp vào các hoạt động khám phá bản thân, hoạt động đoàn luyện, hoạt động tăng trưởng quan hệ với bạn hữu, thầy cô và người nhà trong gia đình”. Các hoạt động xã hội và mày mò 1 số nghề gần gụi với học trò cũng được diễn ra tiến hành với nội dung và vẻ ngoài thích hợp với thế hệ.
Hoạt động trải nghiệm cũng là 1 nội dung thân thuộc vì được xây dựng trên cơ sở các hoạt động giáo dục cộng đồng như sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp, sinh hoạt Sao Nhi đồng, Đội TNTP Hồ Chí Minh và các hoạt động thăm quan, lao động, thiện nguyện, chuyên dụng cho tập thể,… trong chương trình hiện hành.
“Hoạt động trải nghiệm của mỗi lớp cốt yếu do thầy cô giáo chủ nhiệm đảm trách”, tiến hành theo kế hoạch của nhà trường. Tùy từng hoạt động chi tiết, thầy cô giáo chủ nhiệm phối hợp với thầy cô giáo môn học, cán bộ đảm trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, bác mẹ học trò để tổ chức các hoạt động này. Giáo viên và nhà trường cũng cần báo cáo chính quyền địa phương, phối hợp với các tổ chức, tư nhân trong xã hội để chỉ dẫn học trò tham dự các hoạt động lao động công ích, thiện nguyện
1.2.5. Thực hiện giáo dục theo định hướng STEM
STEM là viết tắt của các từ: Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kỹ thuật) và Math (Toán học). Giáo dục theo định hướng STEM về thực chất được hiểu là trang bị cho người học những tri thức và kĩ năng cấp thiết liên can tới các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học. Những tri thức và kĩ năng nay được tích hợp và lồng ghép, bổ trợ lẫn nhau để giúp học trò vừa hiểu được nguyên tắc, vừa có thể vận dụng để thực hành và tạo ra được những thành phầm trong cuộc sống thường nhật.
Giáo dục theo định hướng STEM tạo ra những con người có thể giải quyết được nhu cầu công tác của thế kỷ 21, phục vụ sự tăng trưởng kinh tế, xã hội của tổ quốc và có thể ảnh hưởng hăng hái tới sự chỉnh sửa của nền kinh tế kiến thức trong bối cảnh thế giới hóa.
Giáo dục theo định hướng STEM tạo nên và tăng trưởng năng lực khắc phục vấn đề cho người học. Trong mỗi bài học theo chủ đề STEM, học trò được đặt trước 1 cảnh huống có vấn đề thực tế. Theo đấy, học trò sẽ phải tìm tòi, nghiên cứu những tri thức thuộc các môn học có liên can tới vấn đề và sử dụng chúng để khắc phục vấn đề đặt ra. Kế bên đấy, giáo dục theo định hướng STEM khuyến khích cá tính học tập thông minh. Người học ko chỉ tiếp nhận các tri thức nền móng, nguyên tắc nhưng sẽ tích hợp chúng vào trong thực tiễn.
Để tiến hành giáo dục theo định hướng STEM, cần xác định rõ giáo dục theo định hướng STEM là cách thức tiếp cận liên môn trong giáo dục. Thực hiện giáo dục theo định hướng STEM phê duyệt các trải nghiệm thực tế sẽ giúp các em có được những kĩ năng như cân nhắc xui xẻo, khắc phục vấn đề, hiệp tác và làm việc thông minh.
1.2.6. Kiểm tra, bình chọn kết quả giáo dục của học trò cấp tiểu học
Chương trình GDPT 2018 xác định tiêu chí bình chọn kết quả giáo dục là hỗ trợ thông tin xác thực, kịp thời, có trị giá về chừng độ phục vụ đề nghị cần đạt của chương trình và sự tân tiến của học trò để chỉ dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học, điều hành và tăng trưởng chương trình, đảm bảo sự tân tiến của từng học trò và tăng lên chất lượng giáo dục.
Căn cứ bình chọn là các đề nghị cần đạt về phẩm giá và năng lực được quy định trong chương trình toàn cục và chương trình môn học, hoạt động giáo dục. Tinh thần chung là bình chọn học trò theo công đoạn học tập, ghi nhận, cổ vũ sự tân tiến của học trò. Điều này đúng với tiêu chí dạy học tăng trưởng năng lực phẩm giá học trò của chương trình giáo dục phổ biến 2018.
Để việc bình chọn kết quả giáo dục học trò theo chương trình GDTH 2018, Bộ GD &ĐT hiện đang có những điều chỉnh về kỹ thuật các thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT và thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT để thích hợp với chương trình GDPT 2018. Chi tiết, ngày nay Dự thảo Thông tư về Ban hành Quy định bình chọn và xếp loại học trò tiểu học.
Ngày 9/4, Bộ Giáo dục và Tập huấn đã đăng mạng lấy quan điểm góp ý cho Dự thảo Thông tư quy định Bình chọn và xếp loại học trò tiểu học. Dự thảo này được xây dựng trong bối cảnh từ 5 học 2020-2021Việt Nam sẽ khai triển Chương trình giáo dục phổ biến mới (chương trình 2018), tính từ lúc lớp 1 cấp tiểu học.
Chương trình 2018 với sự chỉnh sửa về tiêu chí giáo dục (chuyển từ nền giáo dục chú trọng truyền thụ tri thức sang nền giáo dục định hướng tăng trưởng phẩm giá và năng lực cho học trò), có thêm 1 số môn học/hoạt động giáo dục mới, nên ảnh hưởng trực tiếp tới nội dung, vẻ ngoài tổ chức-phương pháp dạy học và rà soát bình chọn người học. Do đấy, cấp thiết ban hành Thông tư quy định bình chọn và xếp loại học trò tiểu học phục vụ Chương trình GDPT mới, trên cơ sở kế thừa những ưu việt của Thông tư hiện hành.
Những điểm kế thừa từ Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT
Dự thảo Thông tư quy định Bình chọn và xếp loại học trò tiểu học vận dụng cho chương trình GDPT mới kế thừa ý kiến “bình chọn vì sự tân tiến của học trò” của Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT. Theo đấy, công việc bình chọn cần coi trọng việc cổ vũ, khuyến khích sự quyết tâm trong học tập, đoàn luyện của học trò; giúp học trò phát huy nhiều nhất bản lĩnh, năng lực; bảo đảm kịp thời, công bình, khách quan. “Không so sánh học trò này với học trò khác, ko tạo sức ép cho học trò, thầy cô giáo và bác mẹ học trò”, dự thảo Thông tư quy định.
Việc bình chọn học trò ở dự thảo Thông tư mới, tiếp diễn được tiến hành theo công đoạn, liên kết giữa bình chọn thường xuyên, bình chọn định kỳ và tổng hợp bình chọn. Trong đấy, bình chọn thường xuyên được trình bày bằng lời hoặc viết nhận xét; bình chọn định kì trình bày bằng điểm số liên kết với nhận xét. Cộng với thầy cô giáo, các học trò và phụ huynh đều được tham dự vào bình chọn học trò tiểu học.
Những điểm mới cơ bản so với Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT
Dự thảo Thông tư quy định Bình chọn và xếp loại học trò tiểu học cập nhật hệ thống văn bản làm căn cứ pháp lý, gồm: Luật Giáo dục 2019; Nghị quyết số 88/2014/QH13; Nghị quyết số 51/2017/NQ14; Nghị định số 69/2017/NĐ-CP.
Để hợp nhất với quy định trong Chương trình giáo dục phổ biến toàn cục 2018, dự thảo điều chỉnh hệ thống tên các môn học/hoạt động giáo dục và nội dung từng phẩm giá cốt yếu, năng lực mấu chốt.
Dự thảo bổ sung nội dung quy định về “ Nội dung và Phương pháp bình chọn”, bảo đảm đúng thành phần theo lý thuyết khoa học về bình chọn, gồm: khuôn khổ, nhân vật, nội dung, vẻ ngoài tổ chức, cách thức, kỹ thuật công đoạn bình chọn. Ngoài ra, quy định này giúp định hướng cho thầy cô giáo các cách thức, phương pháp thực hiện trong công đoạn bình chọn học trò, thích hợp với thế hệ tiểu học và chi tiết hoá Chương trình giáo dục phổ biến 2018.
Quy định về “tổng hợp bình chọn và xếp loại chất lượng giáo dục”, quy định về “giấy tờ bình chọn”, cũng những điểm mới của Dự thảo Thông tư. Điều này nhằm tường minh hoá công đoạn bình chọn, cùng lúc bảo đảm kết cấu chặt chẽ, hợp logic về mặt vẻ ngoài, tạo thành thứ tự hoàn chỉnh trong bình chọn gồm đủ các vẻ ngoài: bình chọn thường xuyên; bình chọn định kỳ; tổng hợp bình chọn; xếp loại chất lượng giáo dục; sử dụng kết quả bình chọn. Trong đấy, lưu tâm tới quy định học bạ điện tử được sử dụng tại mỗi cơ sở giáo dục phổ biến.
Thay vì trình bày bằng 4 chừng độ đối với các câu hỏi/bài tập trong bài rà soát định kì, dự thảo Thông tư mới chỉ sử dụng 03 chừng độ là “Hoàn thành tốt”, “Hoàn thành” và “Chưa kết thúc”. Điều này nhằm bảo đảm hợp nhất với cấp học trên, thích hợp với cách tiếp cận của các nước hiện đại trên toàn cầu, cùng lúc tạo thuận tiện cho thầy cô giáo trong công đoạn biên soạn các câu hỏi/bài tập để xây dựng đề rà soát định kì.
Trong quy định về khen thưởng học trò, Dự thảo có nói đến tới vẻ ngoài “thư khen” chi tiết “Cán bộ điều hành và thầy cô giáo có thể gửi thư khen cho những học trò có thành quả, quyết tâm trong công đoạn học tập, đoàn luyện phẩm giá, năng lực hoặc có những việc làm tốt” nhằm cổ vũ kịp thời những học trò có thành quả, quyết tâm trong công đoạn học tập, đoàn luyện phẩm giá, năng lực hoặc có những việc làm tốt. Điều này giúp các em có thêm động lực cùng nhau đoàn luyện tu dưỡng đạo đức, trau dồi tri thức để ko dừng tân tiến. Các quy định trong Dự thảo ko làm tăng khối lượng công tác của thầy cô giáo và học trò. Cùng lúc với các nội dung quy định tường minh về cách thức, kỹ thuật, thứ tự bình chọn, sẽ giúp thầy cô giáo tiếp cận, khai triển hệ thống, bài bản, khoa học và giảm được thời lượng dành cho việc bình chọn, để tập hợp vào công đoạn giảng dạy.
Mời các bạn tham khảo các bài khác trong mục Biểu mẫu.
Tài liệu bồi dưỡng cán bộ điều hành Tiểu học Mô Đun 1
Mẫu hỗ trợ chương trình Tiếng Việt lớp 1 bộ sách Cánh Diều

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Tài #liệu #bồi #dưỡng #cán #bộ #quản #lý #Tiểu #học #Nội #dung

Tài liệu bồi dưỡng cán bộ điều hành Tiểu học Nội dung 1

Chỉ dẫn tiến hành chương trình giáo dục phổ biến 2018 là nội dung 1 trong chương trình  đào tạo bồi dưỡng cán bộ điều hành Tiểu học. Sau đây là Tài liệu bồi dưỡng cán bộ điều hành Tiểu học Nội dung 1 để các thầy cô tiện tham khảo.
Tài liệu bồi dưỡng cán bộ điều hành Tiểu học Nội dung 1: Chỉ dẫn tiến hành chương trình GDPT 2018
NỘI DUNG 1
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018
1.1. Khái quát về chương trình giáo dục phổ biến 2018
1.1.1. Bối cảnh, ý kiến xây dựng chương trình
1.1.2. Những điểm chính của chương trình giáo dục phổ biến 2018
1.1.3. Điều kiện khai triển tiến hành chương trình
1.2. Những điểm cần để ý trong khai triển tiến hành chương trình giáo dục tiểu học
1.2.1. Chỉ tiêu của chương trình giáo dục tiểu học
Thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo hướng tăng trưởng phẩm giá, năng lực học trò
1.2.2. Nội dung chương trình và kế hoạch giáo dục cấp tiểu học
1.2.3. Xây dựng và tiến hành nội dung giáo dục của địa phương/nhà trường
1.2.4. Tổ chức tiến hành hoạt động trải nghiệm
1.2.5. Thực hiện giáo dục theo định hướng STEM
1.2.6. Kiểm tra, bình chọn kết quả giáo dục của học trò cấp tiểu học
KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ
GV Giáo viên
CBQL Cán bộ điều hành
BD Bồi dưỡng
HS Học trò
CTGD Chương trình giáo dục
CTGDPT Chương trình giáo dục phổ biến
TH Tiểu học
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ biến
ĐHSP Đại học sư phạm
ĐHGD Đại học Giáo dục
HVQLGD Học viện Quản lý giáo dục
GDPT Giáo dục phổ biến
GDĐT Giáo dục và Tập huấn
HĐGD Hoạt động giáo dục
HĐTN Hoạt động trải nghiệm
PPDH Phương pháp dạy học
KTĐG Kiểm tra bình chọn
NCBH Nghiên cứu bài học
CSVC Hạ tầng
TBDH Thiết bị dạy học
CHÚ GIẢI THUẬT NGỮ
Chương trình giáo dục phổ biến: Chương trình giáo dục phổ biến là văn bản trình bày tiêu chí giáo dục phổ biến, quy định các đề nghị cần đạt về phẩm giá và năng lực của học trò, nội dung giáo dục, cách thức giáo dục và cách thức bình chọn kết quả giáo dục, làm căn cứ quản lí chất lượng giáo dục phổ biến; cùng lúc là cam kết của Nhà nước nhằm đảm bảo chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục phổ biến.
Phẩm chất: Phẩm chất là những tính tốt trình bày ở thái độ, hành vi xử sự của con người; cộng với năng lực hình thành tư cách con người;
Phẩm chất được bình chọn phê duyệt hành vi.
Năng lực: Năng lực là tính chất tư nhân được tạo nên, tăng trưởng nhờ tố chất sẵn có và công đoạn học tập, đoàn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các tri thức, kỹ năng và các tính chất tư nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… tiến hành thành công 1 loại hoạt động nhất mực, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện chi tiết.
Năng lực được bình chọn bằng hiệu quả hoạt động.
Môn học: Môn học là lĩnh vực nội dung dạy học được tiến hành trong nhà trường có cấu trúc và lôgíc thích hợp với các cấp khoa học và thực tế tương ứng, thích hợp với những quy luật tâm – sinh lí của dạy học.
Hoạt động giáo dục: Trong Chương trình giáo dục phổ biến 2018, hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) bao gồm hoạt động dạy học và hoạt động trải nghiệm.
Trcửa ải nghiệm: Trcửa ải nghiệm là công đoạn hoạt động để thu nạp những kinh nghiệm, từ đấy áp dụng 1 cách hiệu quả vào thực tế cuộc sống.
Hướng nghiệp: Hướng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các giải pháp thực hiện trong và ngoài cơ sở giáo dục để giúp học trò có tri thức về nghề nghiệp, bản lĩnh chọn lọc nghề nghiệp trên cơ sở liên kết ước muốn, sở trường của tư nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội.
Giáo dục STEM: STEM là thuật ngữ viết tắt của các từ Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kĩ thuật) và Mathematics (Toán học). Giáo dục STEM là 1 cách tiếp cận liên môn trong học tập, ở đấy những định nghĩa học thuật xác thực được liên kết với bài học thực tế lúc học trò áp dụng khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học trong 1 bối cảnh chi tiết, hình thành sự kết nối giữa nhà trường, tập thể, việc làm và hoạt động kinh doanh thế giới cho phép sự tăng trưởng những hiểu biết tối thiểu về STEM và cộng với nó là bản lĩnh cạnh tranh trong nền kinh tế mới” (nguồn:Tsupros, N., R. Kohler, & Hallinen, J. (2009). STEM Education).
Bình chọn tổng kết: Bình chọn tổng kết (còn gọi là bình chọn kết quả) là bình chọn có tính tổng hợp, bao quát nhằm hỗ trợ thông tin về sự thông thạo/thành thục của học trò ở các mặt nội dung tri thức, kỹ năng và thái độ sau lúc xong xuôi 1 khóa/lớp học hoặc 1 môn học/học phần/chương trình học.
Bình chọn công đoạn: Bình chọn công đoạn là hoạt động bình chọn diễn ra trong tiến trình tiến hành hoạt động giảng dạy môn học/khóa học, hỗ trợ thông tin phản hồi cho người học biết được chừng độ đạt được của bản thân so với tiêu chí giáo dục, qua đấy điều chỉnh cách học, cách dạy giúp người học tân tiến. Bình chọn công đoạn còn được biết tới như bình chọn vì sự tân tiến của người học.
Tích hợp: Tích hợp là sự thống nhất/ nhất thể hóa các bộ phận không giống nhau để đưa đến 1 nhân vật mới như là 1 thể hợp nhất dựa trên những nét thực chất của các thành phần nhân vật chứ chẳng hề là phép cộng dễ dãi những tính chất của nhân vật đó.
Dạy học tích hợp: Dạy học tích hợp là định hướng dạy học trong đấy thầy cô giáo tổ chức, chỉ dẫn để học trò biết huy động tổng hợp tri thức, kỹ năng … thuộc nhiều lĩnh vực (môn học/hoạt động giáo dục) không giống nhau nhằm khắc phục các nhiệm vụ học tập; phê duyệt đấy tạo nên những tri thức, kĩ năng mới; tăng trưởng được những năng lực cấp thiết, nhất là năng lực khắc phục vấn đề trong học tập và thực tế cuộc sống.
Phân hóa: Phân hóa là chia 1 khối/ 1 nhóm thành nhiều phần/ nhiều nhân vật có các thuộc tính dị biệt nhau để tiến hành những ảnh hưởng cho thích hợp.
Dạy học phân hóa: Dạy học phân hóa là dạy theo từng loại nhân vật, thích hợp với tâm sinh lý, bản lĩnh, nhu cầu và hứng thú của người học nhằm tăng trưởng tối đa tiềm năng riêng vốn có của mỗi người học.
Nội dung giáo dục địa phương: Nội dung giáo dục của địa phương là những vấn đề căn bản hoặc thời sự về văn hóa, lịch sử, địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp,… của địa phương bổ sung cho nội dung giáo dục buộc phải chung hợp nhất trong cả nước, nhằm trang bị cho học trò những hiểu biết về nơi sinh sống, bồi dưỡng cho học trò tình yêu quê hương, tinh thần mày mò và áp dụng những điều đã học để góp phần khắc phục những vấn đề của quê hương.
Kế hoạch giáo dục của nhà trường: Kế hoạch giáo dục của nhà trường là loại hình văn bản chuyên môn nghiệp vụ để khai triển vận dụng chương trình giáo dục phổ biến tổ quốc trong bối cảnh chi tiết của địa phương và các điều kiện thực tiễn của nhà trường; Kế hoạch giáo dục nhà trường là văn bản chi tiết hóa tiến trình tiến hành chương trình giáo dục phổ biến (bao gồm nội dung giáo dục địa phương) thích hợp với điều kiện chi tiết về thời kì, đặc điểm của người học, nhân công, vật lực… để đạt được các tiêu chí giáo dục đã đề ra trên cơ sở phân tách bối cảnh của nhà trường. Kế hoạch giáo dục của nhà trường được xây dựng hằng 5 dựa trên kế hoạch giáo dục chung và các chỉ dẫn trong chương trình giáo dục phổ biến tổ quốc.
Kế hoạch dạy học, giáo dục: Kế hoạch dạy học, giáo dục nói đến trong tài liệu này được hiểu là văn bản chi tiết hoá việc hỗ trợ nội dung và tiến độ tiến hành chương trình dạy học các môn học và hoạt động giáo dục theo chương trình giáo dục phổ biến tổ quốc tới tầng lớp của nhà trường trong điều kiện xác định.
Kế hoạch dạy học: Kế hoạch dạy học nói đến trong tài liệu này được phê duyệt ở các đơn vị quản lý độ: kế hoạch dạy học của trường; kế hoạch dạy học môn học và kế hoạch dạy học bài học (hay còn gọi là giáo án), trong đấy:
– Kế hoạch dạy học của nhà trường là văn bản thể bây giờ gian, thời khắc, vị trí, thầy cô giáo được cắt cử để khai triển nội dung chương trình giáo dục nhà trường cho các lớp học chi tiết trong 1 tuần, 1 tháng, hay 1 học kỳ theo biên chế 5 học. Là cơ sở để khai triển tiến hành CTGD nhà trường tới thầy cô giáo, học trò và các đối tác liên can;
– Kế hoạch dạy học môn học được hiểu là 1 văn bản trình bày tiến trình tiến hành các nội dung môn học trong 1 học kì hay 5 học ở 1 số lớp chi tiết; kế hoạch dạy học tạo thế chủ động cho thầy cô giáo lúc tiến hành chương trình dạy học, thấy rõ nhiệm vụ chi tiết cho đến từng kì và từng tuần;
– Kế hoạch dạy học bài học là văn bản chi tiết hóa các đề nghị của chương trình giáo dục môn học vào điều kiện chi tiết. Kế hoạch dạy học được xây dựng thích hợp với nhân vật học trò; Nội dung kế hoạch dạy học chi tiết hóa các chừng độ đề nghị về tri thức, kỹ năng đối với nội dung dạy học và đề nghị tăng trưởng phẩm giá, năng lực cho học trò (tiêu chí bài học), có 1 số cụ thể về thiết bị dạy học, cách thức và vẻ ngoài tổ chức tiến hành dạy học, có thời kì, thời khắc thực thi các nội dung, vạch rõ, bố trí tiến trình tiến hành chương trình dạy học nội dung môn học cho thích hợp với nhân vật học trò chi tiết, trong cảnh ngộ chi tiết về hạ tầng, thiết bị dạy học và thời kì khai triển nhằm đạt được tiêu chí dạy học đã xác định.
Quản trị nhà trường: Quản trị nhà trường là công đoạn xây dựng các định hướng, quy định, kế hoạch hoạt động trong nhà trường; tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục học trò phê duyệt huy động, sử dụng các nguồn lực, giám sát, bình chọn trên cơ sở tự chủ, có bổn phận giải trình để tăng trưởng nhà trường theo sứ mệnh, tầm nhìn và tiêu chí giáo dục của nhà trường (Theo Thông tư 14/2018/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Tập huấn ngày 20 tháng 7 5 2018 ban hành quy định Chuẩn Hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ biến).
Nội dung 1HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018
Tóm lược Nội dung 1:
Khái quát những điểm mấu chốt về bối cảnh, ý kiến xây dựng CTGDPT 2018; Tóm lược tiêu chí, nội dung, cách thức dạy học, giáo dục học trò, rà soát bình chọn kết quả học tập, đoàn luyện của học trò theo đề nghị tăng trưởng phẩm giá và năng lực của CTGDPT 2018; Xác định những điểm mới của CTGD tiểu học và những điểm cần xem xét lúc tổ chức tiến hành hoạt động dạy học, giáo dục theo CTGD tiểu học.
Đề xuất cần đạt:
Sau lúc kết thúc nội dung 1, học viên có thể:
– Trình bày tóm lược được những điểm chính về tiêu chí, nội dung, cách thức dạy học, giáo dục, rà soát bình chọn kết quả học tập, giáo dục học trò theo đề nghị tăng trưởng phẩm giá và năng lực của CTGDPT 2018.
– Xác định được những điểm mới của CTGD tiểu học 2018 so với CTGD tiểu học hiện hành (sau đây gọi là CTGDTH 2006).
– Phân tích được những điểm mấu chốt cần xem xét trong tổ chức tiến hành hoạt động dạy học, giáo dục theo CTGD tiểu học 2018.
1.1. Khái quát về chương trình giáo dục phổ biến 2018
1.1.1. Bối cảnh, ý kiến xây dựng chương trình
1.1.1.1. Bối cảnh xây dựng chương trình
Sau hơn 30 5 đổi mới, non sông ta đã vượt qua nhiều gieo neo, thử thách, đạt được những thành tích mập béo, có ý nghĩa lịch sử. Cũng trong vòng thời kì trước và sau lúc nước ta thực hiện đổi mới, toàn cầu chứng kiến những chuyển đổi thâm thúy về mọi mặt. Các cuộc cách mệnh công nghiệp lần thứ 3 và lần thứ tư nối liền nhau có mặt trên thị trường, kinh tế kiến thức tăng trưởng mạnh mang lại thời cơ tăng trưởng vượt trội, cùng lúc cũng đặt ra những thử thách ko bé đối với mỗi tổ quốc, nhất là tất cả quốc gia đang tăng trưởng và chậm tăng trưởng. Mặt khác, những chuyển đổi về khí hậu, hiện trạng hết sạch khoáng sản, ô nhiễm môi trường, mất thăng bằng sinh thái và những bất định về chính trị, xã hội cũng đặt ra những thử thách có tính thế giới. Để đảm bảo tăng trưởng vững bền, nhiều tổ quốc đã ko dừng đổi mới giáo dục để tăng lên chất lượng nguồn nhân công, trang bị cho các lứa tuổi ngày mai nền móng văn hoá cứng cáp và năng lực thích nghi cao trước mọi bất định của tự nhiên và xã hội. Đổi mới giáo dục đã biến thành nhu cầu cần thiết và xu hướng mang tính thế giới. Xu thế tăng trưởng chương trình giáo dục và SGK của toàn cầu chỉnh sửa rất nhanh; có nhiều thành tích mới của khoa học giáo dục cần được bổ sung kịp thời vào chương trình giáo dục. Đầu thế kỉ XXI nhiều nước có nền giáo dục tăng trưởng đã chuyển hướng từ chương trình giáo dục coi trọng nội dung giáo dục sang chương trình giáo dục coi trọng tăng trưởng năng lực người học. Theo đấy, chương trình giáo dục Việt Nam cần đổi mới để phục vụ đề nghị hội nhập quốc tế.
Trong bối cảnh đấy, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá XI) đã phê duyệt Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4 tháng 11 5 2013 về đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và huấn luyện phục vụ đề nghị công nghiệp hoá, tiên tiến hoá trong điều kiện kinh tế thị phần định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 5 2014 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ biến, góp phần đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và huấn luyện. Ngày 27 tháng 3 5 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg phê chuẩn Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ biến. Chỉ tiêu đổi mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ biến nhằm tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ biến; liên kết dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ tri thức sang nền giáo dục tăng trưởng toàn diện cả về phẩm giá và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học trò.”
Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, chương trình giáo dục phổthông mới được xây dựng theo định hướng tăng trưởng phẩm giá và năng lực của học trò; tạo môi trường học tập và đoàn luyện giúp học trò tăng trưởng hài hoà về thể chất và ý thức, biến thành người học hăng hái, tự tin, biết áp dụng các cách thức học tập hăng hái để hoàn chỉnh các kiến thức và kỹ năng nền móng, có tinh thần chọn lọc nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm giá tốt đẹp và năng lực cấp thiết để biến thành người công dân có bổn phận, công nhân có văn hoá, chăm chỉ, thông minh, phục vụ nhu cầu tăng trưởng của tư nhân và đề nghị của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ non sông trong thời đại thế giới hoávà cách mệnh công nghiệp mới.
Chương trình giáo dục phổ biến bao gồm chương trình toàn cục, chương trình các môn học và hoạt động giáo dục.
1.1.1.2. Quan điểm xây dựng chương trình
(i) Chương trình giáo dục phổ biến là văn bản trình bày tiêu chí giáo dục phổ biến, quy định các đề nghị cần đạt về phẩm giá và năng lực của học trò, nội dung giáo dục, cách thức giáo dục và cách thức bình chọn kết quả giáo dục, làm căn cứ điều hành chất lượng giáo dục phổ biến; cùng lúc là cam kết của Nhà nước nhằm đảm bảo chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục phổ biến.
(ii) Chương trình giáo dục phổ biến được xây dựng trên cơ hữu quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và huấn luyện; kế thừa và tăng trưởng những điểm cộng của các chương trình giáo dục phổ biến đã có của Việt Nam, cùng lúc tiếp nhận thành tích nghiên cứu về khoa học giáo dục và kinh nghiệm xây dựng chương trình theo mẫu hình tăng trưởng năng lực của những nền giáo dục hiện đại trên toàn cầu; gắn với nhu cầu tăng trưởng của non sông, những tân tiến của thời đại về khoa học – công nghệ và xã hội; thích hợp với đặc điểm con người, văn hoá Việt Nam, các trị giá truyền thống của dân tộc và những trị giá chung của loài người cũng như các sáng kiến và định hướng tăng trưởng chung của UNESCO về giáo dục; tạo thời cơ đồng đẳng về quyền được bảo vệ, , học tập và tăng trưởng, quyền được lắng tai, tôn trọng và được tham dự của học trò; đặt nền móng cho 1 xã hội nhân bản, tăng trưởng vững bền và phồn vinh.
(iii) Chương trình giáo dục phổ biến đảm bảo tăng trưởng phẩm giá và năng lực người học phê duyệt nội dung giáo dục với những tri thức, kỹ năng căn bản, thiết thực, tiên tiến; hài hoà đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, áp dụng tri thức, kỹ năng đã học để khắc phục vấn đề trong học tập và đời sống; tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hoá dần ở các lớp học trên; phê duyệt các cách thức, vẻ ngoài tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học trò, các cách thức bình chọn thích hợp với tiêu chí giáo dục và cách thức giáo dục để đạt được tiêu chí đấy.
(iv) Chương trình giáo dục phổ biến đảm bảo kết nối chặt chẽ giữa các lớp học, cấp học với nhau và liên thông với chương trình giáo dục măng non, chương trình giáo dục nghề nghiệp và chương trình giáo dục đại học.
(v) Chương trình giáo dục phổ biến được xây dựng theo hướng mở, chi tiết là:
– Chương trình đảm bảo định hướng hợp nhất và những nội dung giáo dục mấu chốt, buộc phải đối với học trò toàn quốc, cùng lúc trao quyền chủ động và bổn phận cho địa phương, nhà trường trong việc chọn lọc, bổ sung 1 số nội dung giáo dục và khai triển kế hoạch giáo dục thích hợp với nhân vật giáo dục và điều kiện của địa phương, của nhà trường, góp phần đảm bảo kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội.
– Chương trình chỉ quy định những nguyên lý, định hướng chung về đề nghị cần đạt về phẩm giá và năng lực của học trò, nội dung giáo dục, cách thức giáo dục và việc bình chọn kết quả giáo dục, ko quy định quá cụ thể, để giúp cho tác giả sách giáo khoa và thầy cô giáo phát huy tính chủ động, thông minh trong tiến hành chương trình.
– Chương trình đảm bảo tính bất biến và bản lĩnh tăng trưởng trong công đoạn tiến hành cho thích hợp với tân tiến khoa học – công nghệ và đề nghị của thực tiễn.
1.1.2. Những điểm chính của chương trình giáo dục phổ biến 2018
1.1.2.1. Về tiêu chí
Chương trình giáo dục phổ biến chi tiết hoá tiêu chí giáo dục phổ biến, giúp học trò làm chủ tri thức phổ biến, biết áp dụng hiệu quả tri thức, kỹ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng chọn lọc nghề nghiệp thích hợp, biết xây dựng và tăng trưởng hài hoà các mối quan hệ xã hội, có phong cách, tư cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đấy có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp hăng hái vào sự tăng trưởng của non sông và loài người.
Chương trình giáo dục tiểu học giúp học trò tạo nên và tăng trưởng những nhân tố cơ bản đặt nền tảng cho sự tăng trưởng hài hoà về thể chất và ý thức, phẩm giá và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về trị giá bản thân, gia đình, tập thể và những lề thói, nề nếp cấp thiết trong học tập và sinh hoạt.
Chương trình giáo dục trung học cơ sở giúp học trò tăng trưởng các phẩm giá, năng lực đã được tạo nên và tăng trưởng ở cấp tiểu học, tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực chung của xã hội, biết áp dụng các cách thức học tập hăng hái để hoàn chỉnh kiến thức và kỹ năng nền móng, có những hiểu biết lúc đầu về các cấp nghề và có tinh thần hướng nghiệp để tiếp diễn học lên trung học phổ biến, học nghề hoặc tham dự vào cuộc sống lao động.
Chương trình giáo dục trung học phổ biến giúp học trò tiếp diễn tăng trưởng những phẩm giá, năng lực cấp thiết đối với công nhân, tinh thần và tư cách công dân, bản lĩnh tự học và tinh thần học tập suốt đời, bản lĩnh chọn lọc nghề nghiệp thích hợp với năng lực và thị hiếu, điều kiện và cảnh ngộ của bản thân để tiếp diễn học lên, học nghề hoặc tham dự vào cuộc sống lao động, bản lĩnh thích nghi với những thay đổi trong bối cảnh thế giới hoá và cách mệnh công nghiệp mới.
1.1.2.2. Về nội dung giáo dục
Chương trình giáo dục phổ biến tiến hành tiêu chí giáo dục tạo nên, tăng trưởng phẩm giá và năng lực cho học trò phê duyệt các nội dung giáo dục tiếng nói và văn chương, giáo dục toán học, giáo dục khoa học xã hội, giáo dục khoa học thiên nhiên, giáo dục công nghệ, giáo dục tin học, giáo dục công dân, giáo dục quốc phòng và an ninh, giáo dục nghệ thuật, giáo dục thể chất, giáo dục hướng nghiệp. Mỗi nội dung giáo dục đều được tiến hành ở tất cả các môn học và hoạt động giáo dục, trong đấy có 1 số môn học và hoạt động giáo dục đảm nhận vai trò mấu chốt.
Căn cứ tiêu chí giáo dục và đề nghị cần đạt về phẩm giá, năng lực ở từng quá trình giáo dục và từng cấp học, chương trình mỗi môn học và hoạt động giáo dục xác định tiêu chí, đề nghị cần đạt về phẩm giá, năng lực và nội dung giáo dục của môn học, hoạt động giáo dục đấy.
Giai đoạn giáo dục căn bản tiến hành phương châm giáo dục toàn diện và tích hợp, đảm bảo trang bị cho học trò kiến thức phổ biến nền móng, phục vụ đề nghị phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; quá trình giáo dục định hướng nghề nghiệp tiến hành phương châm giáo dục phân hoá, đảm bảo học trò được tiếp cận nghề nghiệp, sẵn sàng cho quá trình học sau phổ biến có chất lượng.
Cả 2 quá trình giáo dục căn bản và giáo dục định hướng nghề nghiệp đều có các môn học tự chọn; quá trình giáo dục định hướng nghề nghiệp có thêm các môn học và chuyên đề học tập chọn lọc, nhằm phục vụ ước muốn, tăng trưởng tiềm năng, sở trường của mỗi học trò.
1.1.2.3. Về cách thức giáo dục
Các môn học và hoạt động giáo dục trong nhà trường vận dụng các cách thức hăng hái hoá hoạt động của học trò, trong đấy thầy cô giáo nhập vai trò tổ chức, chỉ dẫn hoạt động cho học trò, tạo môi trường học tập gần gũi và những cảnh huống có vấn đề để khuyến khích học trò hăng hái tham dự vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, ước muốn của bản thân, đoàn luyện lề thói và bản lĩnh tự học, phát huy tiềm năng và những tri thức, kỹ năng đã tích luỹ được để tăng trưởng.
Các hoạt động học tập của học trò bao gồm hoạt động khám phá vấn đề, hoạt động luyện tập và hoạt động thực hành (phần mềm những điều đã học để phát hiện và khắc phục những vấn đề có thực trong đời sống), được tiến hành với sự cung cấp của thiết bị dạy học, đặc trưng là phương tiện tin học và các máy móc tự động hoá của kĩ thuật số.
Tuỳ theo tiêu chí, thuộc tính của hoạt động, học trò được diễn ra làm việc độc lập, làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp nhưng mà phải đảm bảo mỗi học trò được tạo điều kiện để tự mình tiến hành nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tiễn.
1.1.2.4. Về bình chọn kết quả giáo dục
Chỉ tiêu bình chọn kết quả giáo dục là hỗ trợ thông tin xác thực, kịp thời, có trị giá về chừng độ phục vụ đề nghị cần đạt của chương trình và sự tân tiến của học trò để chỉ dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học, điều hành và tăng trưởng chương trình, đảm bảo sự tân tiến của từng học trò và tăng lên chất lượng giáo dục.
Căn cứ bình chọn là các đề nghị cần đạt về phẩm giá và năng lực được quy định trong chương trình toàn cục và các chương trình môn học, hoạt động giáo dục. Phạm vi bình chọn bao gồm các môn học và hoạt động giáo dục buộc phải, môn học và chuyên đề học tập chọn lọc và môn học tự chọn. Nhân vật bình chọn là thành phầm và công đoạn học tập, đoàn luyện của học trò.
Kết quả giáo dục được bình chọn bằng các vẻ ngoài định tính và định lượng phê duyệt bình chọn thường xuyên, định kì ở cơ sở giáo dục, các kì bình chọn trên diện rộng ở cấp tổ quốc, cấp địa phương và các kì bình chọn quốc tế. Cộng với kết quả các môn học và hoạt động giáo dục buộc phải, các môn học và chuyên đề học tập chọn lọc, kết quả các môn học tự chọn được sử dụng cho bình chọn kết quả học tập chung của học trò trong từng 5 học và trong cả công đoạn học tập.
Việc bình chọn thường xuyên do thầy cô giáo đảm trách môn học tổ chức, liên kết bình chọn của thầy cô giáo, của bác mẹ học trò, của bản thân học trò được bình chọn và của các học trò khác.
Việc bình chọn định kì do cơ sở giáo dục tổ chức để chuyên dụng cho công việc điều hành các hoạt động dạy học, đảm bảo chất lượng ở cơ sở giáo dục và chuyên dụng cho tăng trưởng chương trình.
Việc bình chọn trên diện rộng ở cấp tổ quốc, cấp địa phương do tổ chức khảo thí cấp tổ quốc hoặc cấp tỉnh, thị thành trực thuộc trung ương tổ chức để chuyên dụng cho công việc điều hành các hoạt động dạy học, giáo dục, đảm bảo chất lượng bình chọn kết quả giáo dục ở cơ sở giáo dục, chuyên dụng cho tăng trưởng chương trình và tăng lên chất lượng giáo dục.
Phương thức bình chọn đảm bảo độ tin tưởng, khách quan, thích hợp với từng thế hệ, từng cấp học, ko gây sức ép lên học trò, giảm thiểu tốn kém cho ngân sách nhà nước, gia đình học trò và xã hội.
Nghiên cứu từng bước vận dụng các thành tích của khoa học đo lường, bình chọn trong giáo dục và kinh nghiệm quốc tế vào việc tăng lên chất lượng bình chọn kết quả giáo dục, xếp loại học trò ở cơ sở giáo dục và sử dụng kết quả bình chọn trên diện rộng làm phương tiện kiểm soát chất lượng bình chọn ở cơ sở giáo dục.
1.1.3. Điều kiện khai triển tiến hành chương trình
Điều kiện khai triển tiến hành chương trình được căn cứ vào:
– Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐTngày 26 tháng 12 5 2018 của Bộ Giáo dục và Tập huấn về việc ban hành Chương trình giáo dục phổ biến (PhầnVII Điều kiện tiến hành Chương trình giáo dục phổ biến).
– Công văn 344-BGD&ĐT, ngày 24 tháng 01 5 2019 của Bộ Giáo và Tập huấn về việc chỉ dẫn khai triển chương trình Chương trình giáo dục phổ biến 2018.
Từ những căn cứ pháp lý trên, các điều kiện để tiến hành chương trình giáo dục phổ biến 2018 đối với các cơ sở giáo dục phổ biến bao gồm:
(1) Hàng ngũ thầy cô giáo, cán bộ điều hành:
– Phcửa ải có đủ số lượng và cơ cấu hàng ngũ thầy cô giáo và cán bộ điều hành theo qui định đối với từng cấp học
– Giáo viên và cán bộ điều hành phải có năng lực tiến hành phục vụ đề nghị và có động lực tiến hành sự chỉnh sửa
Giáo viên và cán bộ điều hành giáo dục là những người trực tiếp tiến hành công cuộc đổi mới GDPT. Chương trình GDPT 2018 chỉ thành công lúc hàng ngũ này có năng lực và có động lực đổi mới.
Do đấy cần sẵn sàng hàng ngũ thầy cô giáo để tiến hành chương trình giáo dục phổ biến 2018; phối hợp tiến hành tốt công việc bồi dưỡng thầy cô giáo tiến hành chương trình và sách giáo khoa mới. Với việc chỉnh sửa tư duy của người thầy từ truyền thụ tri thức sang giáo dục tăng trưởng phẩm giá, năng lực của người học thì cần phải bồi dưỡng, đào tạo toàn quân nhân ngũ thầy cô giáo và cán bộ điều hành các cơ sở giáo dục 1 cách toàn diện về tiêu chí, nội dung và cách thức giảng dạy, giáo dục nhằm tăng trưởng phẩm giá và năng lực người học. Qua đấy, giúp mỗi người trong cuộc đổi mới giáo dục phổ biến ko chỉ cách điệu mình trong tư duy giáo dục nhưng còn trong cả hành vi giáo dục, ko chỉ cách điệu mình trong cách thức giáo dục nhưng còn trong cả phương pháp chọn lọc cách thức giáo dục.
Để có đủ hàng ngũ thầy cô giáo tiến hành chương trình giáo dục phổ biến mới, phải thực hiện song song việc bồi dưỡng với huấn luyện thầy cô giáo.
Để đáp ứng động lực cho hàng ngũ khi mà Nhà nước chưa có đủ điều kiện để chỉnh sửa chế độ đãi ngộ, tăng lên thu nhập cho thầy cô giáo và cán bộ điều hành, đầu tiên, cần trao quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục, quyền quyết định về nội dung, cách thức giáo dục cho thầy cô giáo và đảm bảo điều kiện làm việc cho cơ sở giáo dục, thầy cô giáo.
Cơ sở giáo dục cần sớm được trao quyền tự chủ về chuyên môn, nhân sự, tổ chức bộ máy và nguồn vốn như quy định của Luật Giáo dục
Giáo viên cần được chủ động, thông minh trong dạy học, giáo dục chẳng hề bám theo từng ý, từng chữ trong sách giáo khoa như cách chỉ huy tầm thường ngày nay. Sĩ số các lớp học chí ít phải đảm bảo quy định của Bộ Giáo dục và Tập huấn: tối đa 35 học trò/lớp ở cấp tiểu học và 45 học trò /lớp ở các đơn vị quản lý THCS, THPT.
Trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp, cần giảm đầu cơ từ ngân sách, huy động sự đóng góp của người học, giải quyết hiện trạng duy trì mức học phí vẻ ngoài ở các đơn vị quản lý học, trình độ huấn luyện ko buộc phải để tập hợp đầu cơ cho các đơn vị quản lý học phổ cập. Nhà nước cũng cần bổ sung các chế độ khuyến khích tăng trưởng giáo dục ngoài công lập để vừa san sớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước và các trường công lập, vừa tạo điều kiện tăng lên chất lượng giáo dục.
(2) Hạ tầng, thiết bị dạy học:
Phcửa ải có đủ phòng học để đảm bảo sĩ số lớp học theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đàotạo.
Các trường tiểu học cần tiến hành dạy học 2 buổi/ngày, cần bảo đảm tỷ lệ 1 phòng học/lớp, có đủ phòng công dụng, thư viện, sân chơi, bãi tập, công trình vệ sinh sạch bóng; có đủ thiết bị dạy học tối thiểu; Những nơi chưa có đủ điều kiện thì tối thiểu cũng phải tổ chức dạy được 6buổi/tuần.
– Lớp học nên được sắp đặt thích hợp với đề nghị làm việc nhóm thường xuyên.
– Các cơ sở giáo dục cũng cần được trang bị máy tính, lắp đặt Internet để thầy cô giáo đổi mới cách thức dạy học, học trò kiếm tìm tư liệu và tiến hành 1 số thí nghiệm ảo thay cho thí nghiệm với các dụng cụ đắt tiền hoặc ko đảm bảo an toàn.
(3) Sự đồng thuận từ xã hội:
Dân ta đã có câu “Dễ trăm lần ko dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Để tiến hành đổi mới thành công, ngành Giáo dục cần làm tốt công việc thông tin và truyền thông. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giảng giải để người dân thông suốt tại sao phải đổi mới, đổi mới như thế nào và bổn phận của mỗi tổ chức, tư nhân đóng góp vào sự nghiệp đổi mới giáo dục, cũng là đóng góp vào sự bất biến xã hội và tăng trưởng của non sông. Cộng với sự chủ động của ngành Giáo dục, rất cần có sự cung cấp của các tổ chức, tư nhân và sự ủng hộ phổ thông, hiệu quả của các cơ quan truyền thông đại chúng.
Quán triệt ý kiến tăng trưởng giáo dục là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương có bổn phận chỉ đạo, chỉ huy tiến hành thành công chương trình giáo dục phổ biến; đảm bảo điều kiện tiến hành chương trình; tiến hành nghiêm chỉnh các chế độ của Đảng, Nhà nước đối với thầy cô giáo và cán bộ điều hành giáo dục cơ sở giáo dục phổ biến. Nhà trường chủ động tư vấn với cấp uỷ Đảng, chính quyền và phối hợp với các tư nhân, tổ chức ở địa phương để huy động nhiều chủng loại các nguồn lực tham dự các hoạt động giáo dục và cung cấp kinh phí, hạ tầng nhà trường, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn.
Phối hợp tốt giáo dục gia đình và giáo dục nhà trường. Gia đình, bác mẹ học trò được chỉ dẫn phối hợp và tham dự giáo dục con em theo đề nghị của lớp học, cấp học; Ban đại diện bác mẹ học trò có cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền, bổn phận và hoạt động theo Điều lệ Ban đại diện bác mẹ học trò; nhà trường tạo điều kiện thuận tiện để Ban đại diện bác mẹ học trò hoạt động.
Phối hợp tốt giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội. Nhà trường chủ động tổ chức, chỉ dẫn học trò tham dự các hoạt động Đoàn, Đội, Hội, hoạt động xã hội, hăng hái góp phần tiến hành các nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế – xã hội của địa phương, qua đấy tiến hành giáo dục học trò trong thực tế đời sống.
1.2. Những điểm cần để ý trong khai triển tiến hành chương trình giáo dục tiểu học
1.2.1. Chỉ tiêu của chương trình giáo dục tiểu học
Giáo dục tiểu học nhằm giúp học trò tạo nên những cơ sở lúc đầu cho sự tăng trưởng đúng mực và dài lâu về đạo đức, trí óc, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng căn bản để học trò tiếp diễn học lên THCS.
Trong Chương trình GDPT 2018, tiêu chí giáo dục tiểu học ko chỉ để ý “sẵn sàng cho học trò những cơ sở lúc đầu của việc tạo nên và tăng trưởng hài hoà về thể chất và ý thức, có được những tri thức và kĩ năng căn bản nhất để tiếp diễn học THCS”, nhưng còn để ý đề nghị tăng trưởng phẩm giá, năng lực và nhấn mạnh “định hướng chính vào trị giá gia đình, dòng họ, quê hương, những lề thói cấp thiết trong học tập và sinh hoạt”.
Thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo hướng tăng trưởng phẩm giá, năng lực học trò:
Trong Chương trình GDPT 2018, phẩm giá và năng lực của người học được tạo nên và tăng trưởng bằng 2 trục đường:
– Thông qua nội dung của 1 số môn học. Thí dụ, ý thức yêu nước có thể được nung đúc phê duyệt nội dung của các môn Thiên nhiên và Xã hội Lịch sử và Địa lý, Đạo đức, Hoạt động trải nghiệm và 1 số nội dung của các môn Tiếng Việt , Ngoại ngữ 1,… Phần béo các môn học này cũng bồi dưỡng cho học trò lòng bác ái, độ lượng, tinh thần tôn trọng các nền văn hoá không giống nhau, tôn trọng sự dị biệt giữa mọi người.
– Thông qua cách thức giáo dục. Thí dụ, tính chịu khó, thái độ thật thà và ý thức bổn phận từng bước được tạo nên và tăng trưởng phê duyệt lao động học tập hằng ngày dưới sự chỉ dẫn, đoàn luyện của thầy cô. Tinh thần yêu nước và lòng bác ái cũng chỉ có thể tạo nên và tăng trưởng vững bền phê duyệt các hoạt động thực tiễn.
Để tăng trưởng năng lực của người học, tiến hành nội dung và cách thức giáo dục theo hướng sau đây:
– Dạy học phân hoá:
Dạy học phân hoá là định hướng thiết kế nội dung và cách thức giáo dục thích hợp với đặc dằn bụng – sinh lí, bản lĩnh, nhu cầu, hứng thú và định hướng nghề nghiệp của các nhân vật học trò không giống nhau, nhằm tăng trưởng tối đa tiềm năng vốn có của mỗi học trò. Dạy học phân hoá ở tiểu học cần chú trọng cả phân hoá trong (phân hoá vi mô) và phân hoá ngoài (phân hoá vĩ mô).
Phân hoá trong trình bày cốt yếu qua định hướng về cách thức giáo dục, nhấn mạnh tính hăng hái hoá hoạt động của người học, khuyến khích học trò hăng hái tham dự vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, ước muốn của bản thân, và qua định hướng về bình chọn kết quả giáo dục, nhấn mạnh đảm bảo sự tân tiến của từng học trò.
Phân hoá ngoài trình bày ở việc học trò được tự chọn các môn học, các chủ đề, chuyên đề học tập chọn lọc theo ước muốn. Ở cấp tiểu học, kế bên nhiệm vụ trọng điểm là tiến hành giáo dục toàn diện và tích hợp, CT GDPT 2018 thiết kế 1 số môn học và hoạt động giáo dục theo các chủ đề, giúp cho học trò chọn lọc những môn học hoặc chủ đề thích hợp với thị hiếu và năng lực của bản thân.
– Dạy học tích hợp:
Dạy học tích hợp là định hướng thiết kế nội dung giáo dục giúp học trò tăng trưởng bản lĩnh huy động tổng hợp tri thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực không giống nhau để khắc phục có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong đời sống, qua đấy tăng trưởng được năng lực cấp thiết, nhất là năng lực khắc phục vấn đề. Tính tích hợp trình bày qua sự huy động, liên kết, liên hệ các nhân tố có liên can với nhau của nhiều lĩnh vực, nhiều môn học để khắc phục có hiệu quả 1 vấn đề và thường đạt được nhiều tiêu chí không giống nhau.
Dạy học tích hợp trong CT GDPT 2018 có 1 số điểm khác như: đẩy mạnh tích hợp nhiều tiết mục trong cùng 1 môn học; xây dựng 1 số môn học tích hợp mới ở các đơn vị quản lý học, ý thức chung là tích hợp cao ở các lớp học, cấp học dưới và phân hoá dần ở các lớp học, cấp học trên; tiến hành dạy học tích hợp cả trong tiêu chí, nội dung, cách thức giáo dục và bình chọn kết quả giáo dục.
Ở cấp tiểu học, CT GDPT 2018 tiếp diễn xây dựng 1 số môn học có tính tích hợp trên cơ sở tăng trưởng các môn học tích hợp đã có như: Thiên nhiên và xã hội, Lịch sử và Địa lí, Khoa học.
Ở cấp tiểu học còn có 1 hoạt động giáo dục tích hợp là Hoạt động trải nghiệm.
– Dạy học phê duyệt hoạt động hăng hái của người học:
Đặc điểm chung của các cách thức giáo dục được vận dụng trong CT GDPT 2018 là hăng hái hoá hoạt động của người học, trong đấy thầy cô giáo nhập vai trò tổ chức, chỉ dẫn hoạt động cho học trò, tạo môi trường học tập gần gũi và những cảnh huống có vấn đề để khuyến khích học trò hăng hái tham dự vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, ước muốn của bản thân, đoàn luyện lề thói và bản lĩnh tự học, phát huy tiềm năng và những tri thức, kỹ năng đã thu thập được để tăng trưởng.
Các hoạt động học tập của học trò bao gồm hoạt động khám phá vấn đề, hoạt động luyện tập và hoạt động thực hành (phần mềm những điều đã học để phát hiện và khắc phục những vấn đề có thực trong đời sống) được diễn ra trong và ngoài khuôn viên nhà trường phê duyệt 1 số vẻ ngoài cốt yếu như học lí thuyết; tiến hành bài tập, thí nghiệm, trò chơi, nhập vai, dự án nghiên cứu; tham dự seminar, thăm quan, cắm trại, đọc sách; sinh hoạt cộng đồng, hoạt động chuyên dụng cho tập thể. Tùy theo tiêu chí chi tiết và thuộc tính của hoạt động, học trò được diễn ra làm việc độc lập, làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp. Dù làm việc độc lập, theo nhóm hay theo đơn vị lớp, mỗi học trò đều được tạo điều kiện để tự mình tiến hành nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tiễn.
Sử dụng các cách thức, vẻ ngoài tổ chức dạy học, giáo dục phát huy tính hăng hái, chủ động của học trò, tạo môi trường để học trò được trải nghiệm như: cách thức dạy học mỹ thuật tiếp cận năng lực học trò, cách thức dạy học “bàn tay nặn bột”…
1.2.2. Nội dung chương trình và kế hoạch giáo dục cấp tiểu học
Chương trình GDPT 2018 bao gồm quy định chương trình toàn cục, quy định chương trình môn học và hoạt động giáo dục. Trong đấy, đối với cấp Tiểu học có 1 số nội dung mấu chốt sau:
a) Môn học và hoạt động giáo dục buộc phải trong chương trình mới
– Gồm: 1) Tiếng Việt; 2) Toán; 3) Đạo đức; 4) Ngoại ngữ 1 (Lớp 3,4,5); 5) Thiên nhiên và xã hội (Lớp 1,2,3); 6) Lịch sử và Địa lí (Lớp 4, 5); 7) Khoa học (Lớp 4, 5); 8) Tin học và Công nghệ (Lớp 3, 4, 5); 9) Giáo dục thể chất; 10) Nghệ thuật (Âm nhạc và Mĩ Thuật) và Hoạt động trải nghiệm (trong đấy có tích hợp nội dung giáo dục của địa phương).
– Nội dung môn học Giáo dục thể chất được thiết kế thành các học phần (mô-đun); nội dung Hoạt động trải nghiệm được thiết kế thành các chủ đề; học trò được chọn lọc học phần, chủ đề thích hợp với ước muốn của bản thân và bản lĩnh tổ chức của nhà trường.
b) Các môn học tự chọn(dạy ở những nơi có đủ điều kiện dạy học và phụ huynh học trò có ước muốn)Tiếng dân tộc thiểu số (dạy từ lớp 1 tới lớp 5); Ngoại ngữ 1 (dạy ở lớp 1, 2).
Bảng 1: So sánh kế hoạch giáo dục ở lớp 1 theo Chương trình giáo dục PT 2006
và Chương trình giáo dục phổ biến 2018

Kế hoạch giáo dục tiểu học theo
Chương trình giáo dục phổ biến 2018

Kế hoạch giáo dục tiểu học hiện hành theo QĐ Số 16/2006

Nội dung giáo dục

Số tiết trong 1 5

Nội dung giáo dục

Số tiết trong 1 5

Lớp 1

Lớp 1

I. Môn học buộc phải

I. Môn học buộc phải

1. Tiếng Việt

420

1.Tiếng Việt

350

2. Toán

105

2. Toán

140

3. Đạo đức

35

3. Đạo đức

35

4. Thiên nhiên-Xã hội

70

4. TN-XH

35

5. Nghệ thuật
(Âm nhạc, Mỹ thuật)

70

5. Âm nhạc

35

6. Mĩ thuật

35

7. Thủ công

35

6. Giáo dục thể chất

70

8. Thể dục

35

II. Hoạt động giáo dục buộc phải

II. Hoạt động giáo dục buộc phải

1. Hoạt động trải nghiệm
(Tích hợp thêm giáo dục địa phương)

105

1. Giáo dục cộng đồng (sinh hoạt lớp và chào cờ đầu tuần)

70

2. Giáo dục ngoài giờ lên lớp (4 tiết/tháng)

35

III. Môn học tự chọn

III. Môn học tự chọn

1. Tiếng dân tộc thiểu số

70

1. Tin học

2. Ngoại ngữ 1

70

2. Tiếng Anh

3. Tiếng dân tộc

Tổng số tiết trong 1 5 (không kể tự chọn)

875

Tổng số tiết trong 1 5

805

Số tiết trung bình trên tuần (không kể tự chọn)

25

Số tiết trung bình trên tuần

23

Bảng 2: So sánh kế hoạch giáo dục tiểu học theo Chương trình 2006 và Chương trình 2018

Kế hoạch giáo dục tiểu học theo Chương trình 2018

Kế hoạch giáo dục tiểu học hiện hành
theo QĐ Số 16/2006

Nội dung giáo dục

Số tiết trong 1 5

Nội dung giáo dục

Số tiết trong 1 5

Lớp 1

Lớp 2

Lớp 3

Lớp 4

Lớp 5

Lớp 1

Lớp 2

Lớp 3

Lớp 4

Lớp 5

I. Môn học buộc phải

I. Môn học buộc phải

1. Tiếng Việt

420

350

245

245

245

1.Tiếng Việt

350

315

280

280

280

2. Toán

105

175

175

175

175

2. Toán

140

175

175

175

175

3. Đạo đức

35

35

35

35

35

3. Đạo đức

35

35

35

35

35

4. Thiên nhiên và xã hội

70

70

70

4. Thiên nhiên xã hội

35

35

70

5. Khoa học

70

70

5. Khoa học

70

70

6. Lịch sử và Địa lý

70

70

6. Lịch sử và Địa lí

70

70

7. Nghệ thuật

70

70

70

70

70

7. Âm nhạc

35

35

35

35

35

8. Mĩ thuật

35

35

35

35

35

9. Thủ công

35

35

35

8. Tin học và Công nghệ

70

70

70

10. Kĩ thuật

35

35

9. Giáo dục thể chất

70

70

70

70

70

11. Thể dục

35

70

70

70

70

10. Ngoại ngữ 1

140

140

140

II. Hoạt động giáo dục buộc phải

II. Hoạt động giáo dục buộc phải

1. Hoạt động trải nghiệm
(Tích hợp thêm giáo dục địa phương)

105

105

105

105

105

1. Giáo dục cộng đồng (sinh hoạt lớp và chào cờ đầu tuần)

70

70

70

70

70

2. Giáo dục ngoài giờ lên lớp (4 tiết/tháng)

35

35

35

35

35

III. Môn học tự chọn

III. Môn học tự chọn

1. Tiếng dân tộc thiểu số

70

70

70

70

70

1. Tin học

Đây là những môn học được bổ sung sau và được diễn ra tiến hành ko đồng đều và chất lượng thấp

2. Ngoại ngữ 1

70

70

2. Tiếng Anh

3. Tiếng dân tộc

Tổng số tiết trong 1 5
(không kể tự chọn)

875

875

980

1050

1050

Tổng số tiết trong 1 5

805

840

840

910

910

Số tiết trung bình trên tuần
(không kể tự chọn)

25

25

28

30

30

Số tiết trung bình trên tuần

23

24

24

26

26

– So với Chương trình hiện hành, Chương trình 2018 có ít môn học hơn do tiến hành chủ trương tích hợp cao ở các lớp dưới. Tuy nhiên, trong Chương trình 2018 có thêm 2 môn học mới là Ngoại ngữ 1; Tin học và Công nghệ. Chương trình 2018 là chương trình học 2 buổi/ngày, do đấy số tiết học trong 1 5 học đều nâng cao, chi tiết:
+) Lớp 1, 2 có: 06 môn học và 01 hoạt động buộc phải, số tiết bình quân trên tuần là 25 (chưa tính môn tự chọn). (Chương trình hiện hành có 10 môn và 23 tiết trên tuần).
+) Lớp 3 có: 08 môn học và 01 hoạt động buộc phải, số tiết bình quân trên tuần là 28 tiết (Chương trình hiện hành có 10 môn và 24 tiết trên tuần)
+) Lớp 4, 5 có: 09 môn học và 01 hoạt động buộc phải, số tiết bình quân trên tuần là 30 tiết. (Chương trình hiện hành có 11 môn, và 26 tiết trên tuần)
BIỂU ĐỒ SO SÁNH MÔN HỌC VÀ THỜI LƯỢNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH MỚI VÀ CHƯƠNG TRÌNH HIỆN HÀNH CẤP TIỂU HỌC
So với chương trình giáo dục phổ biến hiện hành, ở chương trình giáo dục phổ biến 2018, ở cấp tiểu học môn “Tin học” thêm nội dung “Công nghệ” và là môn học buộc phải với tên gọi mới là “Tin học và Công nghệ”; môn “Thể dục” có tên gọi mới là môn “Giáo dục thể chất”; Ngoại ngữ 1 là môn buộc phải (từ lớp 3); làm quen tiếng Anh lớp 1, lớp 2 đang thực hiện nay các trường tiểu học ngày nay là môn học tự chọn.
Việc đổi tên môn “Kĩ thuật” ở cấp tiểu học thành “Tin học và Công nghệ” là do chương trình mới bổ sung phần “Tin học” và tổ chức lại nội dung phần “Kĩ thuật”. Tuy nhiên, trong chương trình hiện hành, môn “Tin học” đã được dạy từ lớp 3 như 1 môn học tự chọn. “Ngoại ngữ” tuy là môn học mới ở cấp tiểu học nhưng mà là 1 môn học từ lâu đã được dạy ở các đơn vị quản lý học khác; thậm chí đã được nhiều học trò làm quen từ cấp học măng non.
Môn Tiếng Việt vẫn được dành đầu tiên đặc trưng
Trong Chương trình GDPT 2018, ở cấp tiểu học, thời lượng dành cho môn “Tiếng Việt” là 1.505 tiết chiếm 31% tổng thời lượng chương trình dành cho các môn học buộc phải; bằng thời lượng học trong chương trình hiện hành. Chương trình GDPT dành thời lượng thích đáng cho việc học tiếng Việt ở cấp tiểu học, đặc trưng ở lớp 1, lớp 2. Điều này được giảng giải là để đảm bảo học trò đọc thông viết thạo, tạo tiền đề học các môn học khác. Đối với học trò người dân tộc thiểu số thì việc có đủ thời kì học tiếng Việt càng quan trọng.
Giáo dục thể chất
Giáo dục thể chất góp phần tạo nên các phẩm giá cốt yếu và năng lực chung cho học trò; cùng lúc, phê duyệt việc trang bị tri thức về sức khoẻ, điều hành sức khỏe và đoàn luyện, giáo dục thể chất giúp học trò tạo nên và tăng trưởng năng lực thể chất và văn hoá thể chất, tinh thần bổn phận đối với sức khỏe của bản thân, gia đình và tập thể; biết chọn lọc môn thể thao thích hợp với năng lực đi lại của bản thân để luyện tập; biết thích nghi với các điều kiện sống, sáng sủa và san sẻ với mọi người; có cuộc sống khoẻ mạnh về thể lực và ý thức.
Nội dung cốt yếu của môn Giáo dục thể chất là đoàn luyện kỹ năng đi lại và tăng trưởng tố chất thể lực cho học trò bằng những bài cộng đồng chất nhiều chủng loại như rèn kỹ năng đi lại căn bản, đội hình hàng ngũ, các bài cộng đồng dục, các trò chơi đi lại, các môn thể thao và cách thức phòng tránh chấn thương trong hoạt động.
Hoạt động trải nghiệm
Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục buộc phải; do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và chỉ dẫn tiến hành, tạo thời cơ cho học trò tiếp cận thực tiễn, thể nghiệm các xúc cảm hăng hái, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp tri thức, kỹ năng của các môn học không giống nhau để tiến hành nhiệm vụ được giao hoặc khắc phục những vấn đề của thực tế đời sống nhà trường, gia đình, xã hội thích hợp với thế hệ; phê duyệt đấy, chuyển hóa những kinh nghiệm đã trải qua thành kiến thức mới, kỹ năng mới góp phần phát huy tiềm năng thông minh và bản lĩnh thích nghi với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp ngày mai.
Hoạt động trải nghiệm ở tiểu học tăng trưởng các phẩm giá cốt yếu, năng lực mấu chốt của học trò trong các mối quan hệ với bản thân, xã hội, môi trường thiên nhiên và nghề nghiệp được khai triển qua 4 mạch nội dung hoạt động chính:
Hoạt động hướng vào bản thân,
Hoạt động hướng tới xã hội,
Hoạt động hướng tới thiên nhiên, và
Hoạt động hướng nghiệp.
c) Tổ chức tiến hành dạy học 02 buổi/ngày
Chương trình GDPT 2018 quy định: Cấp tiểu học “tiến hành dạy học 2 buổi/ngày, mỗi ngày sắp đặt ko quá 07 tiết học. Cơ sở giáo dục tiểu học chưa đủ điều kiện tổ chức dạy học 02 buổi/ngày tiến hành kế hoạch giáo dục theo chỉ dẫn của Bộ Giáo dục và Tập huấn.”.
Ở cấp tiểu học, theo chương trình giáo dục phổ biến 2018, học trò học 2.838 giờ. Theo chương trình hiện hành, học trò học 2.353 giờ. Như vậy thời lượng học tập tăng khoảng 485 giờ. Tuy nhiên, chương trình 2018 là chương trình học 2 buổi/ngày (09 buổi/tuần). Tính trung bình học trò học 1,8 giờ/lớp/buổi học; so với chương trình hiện hành là chương trình học 1 buổi/ngày (05 buổi/tuần), tính trung bình học trò học 2,7 giờ/lớp/buổi học.). Việc thiết kế chương trình mới tương tự tạo điều kiện cho trường tiểu học có điều kiện tổ chức các hoạt động học, hoặc chỉ dẫn học trò tự học tại lớp, hoạt động trải nghiệm, sinh hoạt cộng đồng, vui chơi tiêu khiển nhiều hơn. Lý do là cùng khối lượng nội dung chương trình nhưng mà thời kì được giãn ra. Việc thiết kế học 02 buổi/ngày cũng là 1 giải pháp giải tải, cùng lúc sẽ giúp giảm hiện trạng dạy thêm, học thêm.
Chỉ tiêu của hoạt động dạy học 02 buổi/ngày là đẩy mạnh giáo dục toàn diện, đặc trưng là đẩy mạnh các hoạt động thực hành, đoàn luyện cơ thể, sinh hoạt văn hoá – nghệ thuật, giáo dục kỹ năng sống cho học trò; giảm thiểu hiện trạng dạy thêm, học thêm; phục vụ đề nghị điều hành và giáo dục học trò của gia đình và xã hội; góp phần tăng lên chất lượng giáo dục.
– Các trường cần tư vấn với địa phương hợp lý quỹ đất, kinh phí để mỗi 5 tiến hành dứt điểm việc dạy học 02 buổi/ngày ở 1 lớp học theo lịch trình đổi mới chương trình, SGK phổ biến như quy định tại Nghị quyết 51 của Quốc hội: 5 học 2020 – 2021 ở lớp 1; 5 học 2020 – 2021 ở lớp 2; 5 học 2020 – 2021 ở lớp 3; 5 học 2020 – 2021 ở lớp 4; 5 học 2020 – 2021 ở lớp 5.
– Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 02 buổi/ngày cần sắp đặt thêm buổi học thứ 6 trong tuần để đảm bảo kết thúc chương trình các môn học và HĐGD buộc phải; ko dạy các môn học tự chọn (Tiếng dân tộc thiểu số; Ngoại ngữ 1 ở lớp 1, lớp 2).
Các trường đủ điều kiện dạy học 02 buổi/ngày cần có kế hoạch sử dụng thời kì ngoài thời kì dành cho chương trình các môn học, hoạt động giáo dục buộc phải 1 cách có lí để dạy các môn học tự chọn cho học trò có ước muốn học; bồi dưỡng học trò năng khiếu, chỉ dẫn những học trò chưa phục vụ các đề nghị cần đạt; đẩy mạnh các hoạt động thực hành, đoàn luyện cơ thể, sinh hoạt văn hoá – nghệ thuật, giáo dục kỹ năng sống cho học trò.
1.2.3. Xây dựng và tiến hành nội dung giáo dục của địa phương/nhà trường
Căn cứ quy định của Nghị quyết số 88, Chương trình GDPT 2018 quy định: “Nội dung giáo dục của địa phương là những vấn đề căn bản hoặc thời sự về văn hóa, lịch sử, địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp,… của địa phương bổ sung cho nội dung giáo dục buộc phải chung hợp nhất trong cả nước, nhằm trang bị cho học trò những hiểu biết về nơi sinh sống, bồi dưỡng cho học trò tình yêu quê hương, tinh thần mày mò và áp dụng những điều đã học để góp phần khắc phục những vấn đề của quê hương. Căn cứ chương trình giáo dục phổ biến, Ủy ban quần chúng tỉnh, thị thành trực thuộc trung ương quy định tiêu chuẩn, thứ tự biên soạn, nhận định, biên tập tài liệu về nội dung giáo dục của địa phương; chỉ huy việc tổ chức biên soạn, nhận định tài liệu về nội dung giáo dục của địa phương theo chỉ dẫn của Bộ Giáo dục và Tập huấn và báo cáo để Bộ Giáo dục và Tập huấn phê chuẩn”.
Ở cấp tiểu học, nội dung giáo dục của địa phương được tích hợp với Hoạt động trải nghiệm. Căn cứ nhu cầu thực tiễn, mỗi tỉnh, thị thành trực thuộc trung ương chọn lọc nội dung giáo dục thích hợp, nội dung tích hợp giáo dục địa phương cho tầng lớp trong cấp học. Thí dụ, Hà Nội có thể xây dựng các bài học về văn hóa người Tràng An, văn hóa và luật pháp về giao thông, thứ tự vệ sinh đô thị,… Thành phố Hồ Chí Minh có thể xây dựng các bài học về thị thành sáng dạ, văn hóa của công dân thị thành sáng dạ,… Các tỉnh Tây Nguyên có thể xây dựng các bài học về văn hóa các dân tộc thiểu số, kinh tế cây công nghiệp,… Các tỉnh miền núi phía Bắc có thể xây dựng các bài học về văn hóa các dân tộc thiểu số…
1.2.4. Tổ chức tiến hành hoạt động trải nghiệm
Ở cấp tiểu học, nội dung “Hoạt động trải nghiệm tập hợp vào các hoạt động khám phá bản thân, hoạt động đoàn luyện, hoạt động tăng trưởng quan hệ với bạn hữu, thầy cô và người nhà trong gia đình”. Các hoạt động xã hội và mày mò 1 số nghề gần gụi với học trò cũng được diễn ra tiến hành với nội dung và vẻ ngoài thích hợp với thế hệ.
Hoạt động trải nghiệm cũng là 1 nội dung thân thuộc vì được xây dựng trên cơ sở các hoạt động giáo dục cộng đồng như sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp, sinh hoạt Sao Nhi đồng, Đội TNTP Hồ Chí Minh và các hoạt động thăm quan, lao động, thiện nguyện, chuyên dụng cho tập thể,… trong chương trình hiện hành.
“Hoạt động trải nghiệm của mỗi lớp cốt yếu do thầy cô giáo chủ nhiệm đảm trách”, tiến hành theo kế hoạch của nhà trường. Tùy từng hoạt động chi tiết, thầy cô giáo chủ nhiệm phối hợp với thầy cô giáo môn học, cán bộ đảm trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, bác mẹ học trò để tổ chức các hoạt động này. Giáo viên và nhà trường cũng cần báo cáo chính quyền địa phương, phối hợp với các tổ chức, tư nhân trong xã hội để chỉ dẫn học trò tham dự các hoạt động lao động công ích, thiện nguyện
1.2.5. Thực hiện giáo dục theo định hướng STEM
STEM là viết tắt của các từ: Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kỹ thuật) và Math (Toán học). Giáo dục theo định hướng STEM về thực chất được hiểu là trang bị cho người học những tri thức và kĩ năng cấp thiết liên can tới các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học. Những tri thức và kĩ năng nay được tích hợp và lồng ghép, bổ trợ lẫn nhau để giúp học trò vừa hiểu được nguyên tắc, vừa có thể vận dụng để thực hành và tạo ra được những thành phầm trong cuộc sống thường nhật.
Giáo dục theo định hướng STEM tạo ra những con người có thể giải quyết được nhu cầu công tác của thế kỷ 21, phục vụ sự tăng trưởng kinh tế, xã hội của tổ quốc và có thể ảnh hưởng hăng hái tới sự chỉnh sửa của nền kinh tế kiến thức trong bối cảnh thế giới hóa.
Giáo dục theo định hướng STEM tạo nên và tăng trưởng năng lực khắc phục vấn đề cho người học. Trong mỗi bài học theo chủ đề STEM, học trò được đặt trước 1 cảnh huống có vấn đề thực tế. Theo đấy, học trò sẽ phải tìm tòi, nghiên cứu những tri thức thuộc các môn học có liên can tới vấn đề và sử dụng chúng để khắc phục vấn đề đặt ra. Kế bên đấy, giáo dục theo định hướng STEM khuyến khích cá tính học tập thông minh. Người học ko chỉ tiếp nhận các tri thức nền móng, nguyên tắc nhưng sẽ tích hợp chúng vào trong thực tiễn.
Để tiến hành giáo dục theo định hướng STEM, cần xác định rõ giáo dục theo định hướng STEM là cách thức tiếp cận liên môn trong giáo dục. Thực hiện giáo dục theo định hướng STEM phê duyệt các trải nghiệm thực tế sẽ giúp các em có được những kĩ năng như cân nhắc xui xẻo, khắc phục vấn đề, hiệp tác và làm việc thông minh.
1.2.6. Kiểm tra, bình chọn kết quả giáo dục của học trò cấp tiểu học
Chương trình GDPT 2018 xác định tiêu chí bình chọn kết quả giáo dục là hỗ trợ thông tin xác thực, kịp thời, có trị giá về chừng độ phục vụ đề nghị cần đạt của chương trình và sự tân tiến của học trò để chỉ dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học, điều hành và tăng trưởng chương trình, đảm bảo sự tân tiến của từng học trò và tăng lên chất lượng giáo dục.
Căn cứ bình chọn là các đề nghị cần đạt về phẩm giá và năng lực được quy định trong chương trình toàn cục và chương trình môn học, hoạt động giáo dục. Tinh thần chung là bình chọn học trò theo công đoạn học tập, ghi nhận, cổ vũ sự tân tiến của học trò. Điều này đúng với tiêu chí dạy học tăng trưởng năng lực phẩm giá học trò của chương trình giáo dục phổ biến 2018.
Để việc bình chọn kết quả giáo dục học trò theo chương trình GDTH 2018, Bộ GD &ĐT hiện đang có những điều chỉnh về kỹ thuật các thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT và thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT để thích hợp với chương trình GDPT 2018. Chi tiết, ngày nay Dự thảo Thông tư về Ban hành Quy định bình chọn và xếp loại học trò tiểu học.
Ngày 9/4, Bộ Giáo dục và Tập huấn đã đăng mạng lấy quan điểm góp ý cho Dự thảo Thông tư quy định Bình chọn và xếp loại học trò tiểu học. Dự thảo này được xây dựng trong bối cảnh từ 5 học 2020-2021Việt Nam sẽ khai triển Chương trình giáo dục phổ biến mới (chương trình 2018), tính từ lúc lớp 1 cấp tiểu học.
Chương trình 2018 với sự chỉnh sửa về tiêu chí giáo dục (chuyển từ nền giáo dục chú trọng truyền thụ tri thức sang nền giáo dục định hướng tăng trưởng phẩm giá và năng lực cho học trò), có thêm 1 số môn học/hoạt động giáo dục mới, nên ảnh hưởng trực tiếp tới nội dung, vẻ ngoài tổ chức-phương pháp dạy học và rà soát bình chọn người học. Do đấy, cấp thiết ban hành Thông tư quy định bình chọn và xếp loại học trò tiểu học phục vụ Chương trình GDPT mới, trên cơ sở kế thừa những ưu việt của Thông tư hiện hành.
Những điểm kế thừa từ Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT
Dự thảo Thông tư quy định Bình chọn và xếp loại học trò tiểu học vận dụng cho chương trình GDPT mới kế thừa ý kiến “bình chọn vì sự tân tiến của học trò” của Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT. Theo đấy, công việc bình chọn cần coi trọng việc cổ vũ, khuyến khích sự quyết tâm trong học tập, đoàn luyện của học trò; giúp học trò phát huy nhiều nhất bản lĩnh, năng lực; bảo đảm kịp thời, công bình, khách quan. “Không so sánh học trò này với học trò khác, ko tạo sức ép cho học trò, thầy cô giáo và bác mẹ học trò”, dự thảo Thông tư quy định.
Việc bình chọn học trò ở dự thảo Thông tư mới, tiếp diễn được tiến hành theo công đoạn, liên kết giữa bình chọn thường xuyên, bình chọn định kỳ và tổng hợp bình chọn. Trong đấy, bình chọn thường xuyên được trình bày bằng lời hoặc viết nhận xét; bình chọn định kì trình bày bằng điểm số liên kết với nhận xét. Cộng với thầy cô giáo, các học trò và phụ huynh đều được tham dự vào bình chọn học trò tiểu học.
Những điểm mới cơ bản so với Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT
Dự thảo Thông tư quy định Bình chọn và xếp loại học trò tiểu học cập nhật hệ thống văn bản làm căn cứ pháp lý, gồm: Luật Giáo dục 2019; Nghị quyết số 88/2014/QH13; Nghị quyết số 51/2017/NQ14; Nghị định số 69/2017/NĐ-CP.
Để hợp nhất với quy định trong Chương trình giáo dục phổ biến toàn cục 2018, dự thảo điều chỉnh hệ thống tên các môn học/hoạt động giáo dục và nội dung từng phẩm giá cốt yếu, năng lực mấu chốt.
Dự thảo bổ sung nội dung quy định về “ Nội dung và Phương pháp bình chọn”, bảo đảm đúng thành phần theo lý thuyết khoa học về bình chọn, gồm: khuôn khổ, nhân vật, nội dung, vẻ ngoài tổ chức, cách thức, kỹ thuật công đoạn bình chọn. Ngoài ra, quy định này giúp định hướng cho thầy cô giáo các cách thức, phương pháp thực hiện trong công đoạn bình chọn học trò, thích hợp với thế hệ tiểu học và chi tiết hoá Chương trình giáo dục phổ biến 2018.
Quy định về “tổng hợp bình chọn và xếp loại chất lượng giáo dục”, quy định về “giấy tờ bình chọn”, cũng những điểm mới của Dự thảo Thông tư. Điều này nhằm tường minh hoá công đoạn bình chọn, cùng lúc bảo đảm kết cấu chặt chẽ, hợp logic về mặt vẻ ngoài, tạo thành thứ tự hoàn chỉnh trong bình chọn gồm đủ các vẻ ngoài: bình chọn thường xuyên; bình chọn định kỳ; tổng hợp bình chọn; xếp loại chất lượng giáo dục; sử dụng kết quả bình chọn. Trong đấy, lưu tâm tới quy định học bạ điện tử được sử dụng tại mỗi cơ sở giáo dục phổ biến.
Thay vì trình bày bằng 4 chừng độ đối với các câu hỏi/bài tập trong bài rà soát định kì, dự thảo Thông tư mới chỉ sử dụng 03 chừng độ là “Hoàn thành tốt”, “Hoàn thành” và “Chưa kết thúc”. Điều này nhằm bảo đảm hợp nhất với cấp học trên, thích hợp với cách tiếp cận của các nước hiện đại trên toàn cầu, cùng lúc tạo thuận tiện cho thầy cô giáo trong công đoạn biên soạn các câu hỏi/bài tập để xây dựng đề rà soát định kì.
Trong quy định về khen thưởng học trò, Dự thảo có nói đến tới vẻ ngoài “thư khen” chi tiết “Cán bộ điều hành và thầy cô giáo có thể gửi thư khen cho những học trò có thành quả, quyết tâm trong công đoạn học tập, đoàn luyện phẩm giá, năng lực hoặc có những việc làm tốt” nhằm cổ vũ kịp thời những học trò có thành quả, quyết tâm trong công đoạn học tập, đoàn luyện phẩm giá, năng lực hoặc có những việc làm tốt. Điều này giúp các em có thêm động lực cùng nhau đoàn luyện tu dưỡng đạo đức, trau dồi tri thức để ko dừng tân tiến. Các quy định trong Dự thảo ko làm tăng khối lượng công tác của thầy cô giáo và học trò. Cùng lúc với các nội dung quy định tường minh về cách thức, kỹ thuật, thứ tự bình chọn, sẽ giúp thầy cô giáo tiếp cận, khai triển hệ thống, bài bản, khoa học và giảm được thời lượng dành cho việc bình chọn, để tập hợp vào công đoạn giảng dạy.
Mời các bạn tham khảo các bài khác trong mục Biểu mẫu.
Tài liệu bồi dưỡng cán bộ điều hành Tiểu học Mô Đun 1
Mẫu hỗ trợ chương trình Tiếng Việt lớp 1 bộ sách Cánh Diều

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Tài #liệu #bồi #dưỡng #cán #bộ #quản #lý #Tiểu #học #Nội #dung


#Tài #liệu #bồi #dưỡng #cán #bộ #quản #lý #Tiểu #học #Nội #dung

Vik News

Vik News

Viknews Việt Nam chuyên chia sẻ những kiến thức hữu ích về hôn nhân – gia đình, làm đẹp, kinh nghiệm làm mẹ, chăm sóc dinh dưỡng khi mang thai kỳ, trước sau sinh, son môi , sữa ong chúa, nhà cửa nội thất (cửa gỗ, đèn chùm trang trí, bàn ăn, tủ bếp..)……

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button