Tài Liệu

Thông tư 166/2013/TT-BTC

Vào ngày 15/11/2013, Bộ Nguồn vốn đã ban hành Thông tư 166/2013/TT-BTC về quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính về thuế. Hiệu lực của văn bản luật pháp này sẽ được kể từ ngày 01/01/2014. Sau đây là nội dung cụ thể của thông tư này, xin mời các bạn cùng tham khảo.

BỘ TÀI CHÍNH
——–

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 166/2013/TT-BTC

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 5 2013

THÔNG TƯ 166/2013/TT-BTC

QUY ĐỊNH CHI TIẾT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ

Căn cứ Luật điều hành thuế ngày 29 tháng 11 5 2006;

Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Luật điều hành thuế ngày 20 tháng 11 5 2012;

Căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 5 2012;

Căn cứ Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 5 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế;

Căn cứ Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 5 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điều hành giá, phí, lệ phí, hóa đơn;

Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 5 2008 của Chính phủ quy định công dụng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nguồn vốn;

Theo yêu cầu của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế,

Bộ trưởng Bộ Nguồn vốn ban hành Thông tư quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính về thuế.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, nhân vật bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế

1. Thông tư này quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định của Luật điều hành thuế, Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 5 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế.

2. Tư nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính về thuế (sau đây gọi chung là người vi phạm), ko phân biệt cố ý hoặc vô ý đều bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định của Luật điều hành thuế, Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Luật điều hành thuế (sau đây gọi là Luật điều hành thuế), Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 5 2013 của Chính phủ nêu trên và quy định tại Thông tư này. Nhân vật bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế gồm:

a) Người nộp thuế có hành vi vi phạm hành chính về thuế.

b) Tổ chức tài chính theo quy định của Luật các tổ chức tài chính (sau đây gọi là tổ chức tài chính) có hành vi vi phạm hành chính về thuế.

c) Tổ chức, tư nhân khác có liên can.

3. Các hành vi vi phạm hành chính về thuế, bao gồm:

a) Hành vi vi phạm hành chính về thuế của người nộp thuế:

Hành vi vi phạm quy định về thủ tục thuế: hành vi chậm nộp giấy má đăng ký thuế, chậm công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế so với thời hạn quy định; hành vi khai ko đầy đủ các nội dung trong giấy má khai thuế; hành vi chậm nộp giấy má khai thuế so với thời hạn quy định; hành vi vi phạm các quy định về phân phối thông tin liên can tới xác định bổn phận thuế; hành vi vi phạm trong việc chấp hành hình định rà soát, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế.

Hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn.

Hành vi trốn thuế, ăn lận thuế.

b) Hành vi vi phạm hành chính về thuế của tổ chức tài chính và tổ chức, tư nhân khác có liên can:

Hành vi thông lưng, bao che người nộp thuế trốn thuế, ăn lận thuế;

Hành vi ko tiến hành quyết định cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế;

Hành vi ko phân phối hoặc phân phối ko chuẩn xác thông tin liên can tới xác định bổn phận thuế của người nộp thuế; acc của người nộp thuế nợ thuế tại tổ chức tài chính, ngân khố nhà nước theo quy định của Luật điều hành thuế.

Điều 2. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính về thuế

1. Mọi hành vi vi phạm hành chính về thuế được phát hiện, chặn đứng kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh. Mọi hậu quả do vi phạm hành chính về thuế gây ra phải được giải quyết theo đúng quy định của luật pháp.

2. Việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế được thực hiện mau chóng, kịp thời, công khai, sáng tỏ, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bình, đúng quy định của luật pháp.

3. Việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải căn cứ vào thuộc tính, chừng độ, hậu quả vi phạm, nhân vật vi phạm và cốt truyện giảm nhẹ, cốt truyện tăng nặng.

4. Tư nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế lúc có hành vi vi phạm hành chính về thuế do luật pháp quy định.

5. 1 hành vi vi phạm hành chính về thuế chỉ bị xử phạt 1 lần, chi tiết:

a) 1 hành vi vi phạm hành chính về thuế đã được người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt hoặc đã lập biên bản để xử phạt thì ko được ra quyết định xử phạt lần thứ 2 đối với hành vi đấy. Trường hợp, hành vi vi phạm vẫn tiếp diễn được tiến hành mặc dầu đã bị người có thẩm quyền đang thi hành công vụ buộc xong xuôi hành vi vi phạm thì vận dụng bề ngoài xử phạt với cốt truyện tăng nặng theo Khoản 1 Điều 3 Thông tư này.

Trường hợp, người nộp thuế bị ấn định thuế thì tuỳ theo thuộc tính, chừng độ vi phạm bị xử phạt theo quy định tại Thông tư này.

b) Trường hợp hành vi vi phạm hành chính về thuế có tín hiệu phạm nhân đã chuyển giấy má yêu cầu truy cứu nghĩa vụ hình sự, cơ quan thực hiện tố tụng hình sự đã có quyết định khởi tố vụ án nhưng mà trước đấy người có thẩm quyền xử phạt đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì người đã ra quyết định xử phạt phải ra quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt; nếu chưa ra quyết định xử phạt thì ko xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với hành vi đấy.

c) Nhiều người cùng tiến hành 1 hành vi vi phạm hành chính về thuế thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi đấy.

Trường hợp tư nhân, tổ chức giao cho cho tổ chức kê khai thuế, quyết toán thuế, căn cứ vào nội dung giao cho nếu hành vi vi phạm thuộc nghĩa vụ của tổ chức được giao cho thì tuỳ theo chừng độ vi phạm của tổ chức được giao cho bị xử phạt theo Thông tư này.

d) 1 người tiến hành nhiều hành vi vi phạm hành chính về thuế hoặc vi phạm hành chính về thuế nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm.

Trường hợp trong cùng 1 thời khắc người nộp thuế chậm nộp nhiều giấy má khai thuế của nhiều loại thuế không giống nhau thì người nộp thuế bị xử phạt về từng hành vi chậm nộp giấy má khai thuế đối với từng sắc thuế;

Trường hợp, cùng thời khắc người nộp thuế chậm nộp nhiều giấy má khai thuế của nhiều kỳ tính thuế nhưng mà cùng 1 sắc thuế thì: hành vi chậm nộp giấy má khai thuế thuộc trường hợp xử phạt về thủ tục thuế chỉ bị xử phạt về 1 hành vi vi phạm thủ tục thuế với cốt truyện tăng nặng vi phạm nhiều lần; trường hợp có giấy má khai thuế chậm nộp quá 90 ngày thuộc trường hợp xử phạt về hành vi trốn thuế thì bị xử phạt về hành vi trốn thuế theo quy định tại Điều 13 Thông tư này.

6. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế có nghĩa vụ chứng minh hành vi vi phạm hành chính về thuế của tư nhân, tổ chức. Tư nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc phê chuẩn người đại diện hợp lí chứng minh mình ko vi phạm hành chính về thuế.

7. Đối với cùng 1 hành vi vi phạm hành chính về thuế thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với tư nhân, trừ mức phạt tiền đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn quy định tại Điều 107 Luật điều hành thuế.

Điều 3. Cốt truyện giảm nhẹ, cốt truyện tăng nặng

Cốt truyện giảm nhẹ, cốt truyện tăng nặng tiến hành theo quy định tại Điều 9, Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Điều 4. Thời hiệu xử phạt, thời hạn truy thu thuế và thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế

1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế

a) Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế thì thời hiệu xử phạt là 02 5, từ khi ngày hành vi vi phạm được tiến hành tới ngày ra quyết định xử phạt. Ngày tiến hành hành vi vi phạm hành chính về thủ tục thuế là ngày kế tiếp ngày chấm dứt thời hạn phải tiến hành thủ tục về thuế theo quy định của Luật điều hành thuế.

Đối với trường hợp làm thủ tục thuế bằng điện tử thì ngày tiến hành hành vi vi phạm hành chính về thuế là ngày kế tiếp ngày chấm dứt thời hạn làm thủ tục thuế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

b) Đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm; hành vi trốn thuế, ăn lận thuế chưa tới mức truy cứu nghĩa vụ hình sự thì thời hiệu xử phạt là 05 5, từ khi ngày tiến hành hành vi vi phạm tới ngày ra quyết định xử phạt. Ngày tiến hành hành vi vi phạm là ngày tiếp theo ngày của thời hạn nộp giấy má khai thuế của kỳ tính thuế nhưng mà người nộp thuế tiến hành hành vi vi phạm.

Đối với các trường hợp theo quy định của luật pháp cơ thuế quan phải ra quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế thì thời khắc xác định hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm, hành vi trốn thuế là ngày tiếp theo ngày cơ quan có thẩm quyền ra quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế.

Trường hợp kỳ tính thuế có hành vi vi phạm nếu được gia hạn nộp thuế thì thời hiệu xử phạt tính từ ngày kế tiếp ngày được gia hạn nộp giấy má khai thuế tới ngày ra quyết định xử lý.

c) Đối với trường hợp giấy má do cơ quan thực hiện tố tụng hình sự chuyển cho cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế để xử lý theo quy định tại Điều 25 Thông tư này thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính vận dụng theo quy định tại Điểm a, b Khoản 1 Điều này. Thời gian cơ quan thực hiện tố tụng hình sự thụ lý, coi xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

d) Trong thời hiệu quy định tại Điểm a, b, c Khoản này nhưng mà người nộp thuế cố tình lẩn tránh, cản trở việc xử phạt thì ko vận dụng thời hiệu tại Điểm a, b, c Khoản 1 Điều này nhưng mà thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế được tính lại từ khi thời khắc tiến hành hành vi vi phạm mới hoặc thời khắc xong xuôi hành vi lẩn tránh, cản trở việc xử phạt.

Ngày xong xuôi hành vi lẩn tránh, cản trở việc xử phạt là ngày người vi phạm tự giác tới cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt trình báo và nhận tiến hành các bề ngoài xử phạt của người có thẩm quyền xử phạt. Người có thẩm quyền phải lập biên bản ghi nhận việc này và lưu 01 bản vào giấy má vi phạm, 01 bản ủy quyền người vi phạm.

2. Thời hạn truy thu thuế

Quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì người nộp thuế ko bị xử phạt nhưng mà vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế ăn lận, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước trong thời hạn 10 5 trở về trước, từ khi ngày phát hiện hành vi vi phạm.

Trường hợp, người nộp thuế ko đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế ăn lận, tiền chậm nộp tiền thuế cho toàn thể thời kì trở về trước, từ khi ngày phát hiện hành vi vi phạm. Ngày phát hiện hành vi vi phạm hành chính về thuế là ngày lập biên bản vi phạm hành chính về thuế.

3. Thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế

Tư nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, nếu trong thời hạn 06 tháng, từ khi ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 5, từ khi ngày chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính thuế theo bề ngoài phạt tiền (là ngày tiến hành xong các bổn phận, đề nghị ghi trong quyết định xử phạt hoặc từ ngày quyết định xử phạt được cưỡng chế thi hành) hoặc từ khi ngày hết thời hiệu thi hành hình định xử phạt nhưng mà ko tái phạm thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đấy.

Điều 5. Những trường hợp ko xử phạt vi phạm hành chính về thuế

1. Các trường hợp theo quy định tại Điều 11 Luật xử lý vi phạm hành chính.

2. Trường hợp khai sai, người nộp thuế đã khai bổ sung giấy má khai thuế và đã nộp đủ số tiền thuế phải nộp, trước thời khắc cơ thuế quan ban bố quyết định rà soát thuế, thanh tra thuế tại hội sở người nộp thuế hoặc trước thời khắc cơ thuế quan phát hiện ko qua thanh tra, rà soát tại hội sở người nộp thuế hoặc trước thời khắc cơ quan có thẩm quyền khác phát hiện.

Điều 6. Các bề ngoài xử phạt vi phạm hành chính về thuế

1. Phạt cảnh cáo

Phạt cảnh cáo vận dụng đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế ko nghiêm trọng, có cốt truyện giảm nhẹ và theo quy định vận dụng bề ngoài xử phạt cảnh cáo. Bề ngoài xử phạt cảnh cáo được quyết định bằng văn bản.

2. Phạt tiền

a) Đối với hành vi vi phạm về thủ tục thuế: Phạt theo số tiền tuyệt đối tối đa ko quá 200 triệu đồng đối với người nộp thuế là tổ chức có hành vi vi phạm về thủ tục thuế. Mức phạt tiền tối đa ko quá 100 triệu đồng đối với người nộp thuế là tư nhân có hành vi vi phạm về thủ tục thuế theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Mức phạt tiền quy định tại các Điều 7, 8, 9, 10 và Điều 11 Thông tư này là mức phạt tiền vận dụng đối với tổ chức. Mức phạt tiền đối với tư nhân bằng ½ mức phạt tiền đối với tổ chức. Đối với người nộp thuế là hộ gia đình thì vận dụng mức phạt tiền như đối với tư nhân.

Khi phạt tiền, mức tiền phạt chi tiết đối với 1 hành vi vi phạm về thủ tục thuế là mức trung bình của khung phạt tiền được quy định đối với hành vi đấy. Mức trung bình của khung phạt tiền được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tiền phạt tối thiểu cùng với mức tiền phạt tối đa của khung phạt tiền.

Khi xác định mức phạt tiền đối với người nộp thuế vi phạm vừa có cốt truyện tăng nặng, vừa có cốt truyện giảm nhẹ thì coi xét giảm trừ cốt truyện tăng nặng theo nguyên lý 1 cốt truyện giảm nhẹ được giảm trừ 1 cốt truyện tăng nặng. Sau lúc giảm trừ theo nguyên lý trên, nếu còn cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống, nhưng mà ko được giảm quá mức tối thiểu của khung phạt tiền, nếu còn cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt có thể nâng cao nhưng mà ko được vượt quá mức tối đa của khung phạt tiền. Đối với hành vi vi phạm về thủ tục thuế thì mỗi cốt truyện tăng nặng hoặc giảm nhẹ được tính tăng hoặc giảm 20% mức phạt trung bình của khung phạt tiền.

b) Đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn: Phạt 20% số tiền thuế thiếu, số tiền thuế được hoàn. Mức phạt tiền được vận dụng cho người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình và tư nhân theo quy định tại Điều 107 Luật điều hành thuế.

c) Đối với hành vi trốn thuế, ăn lận thuế: Phạt từ 1 tới 3 lần số tiền thuế trốn đối với hành vi trốn thuế, ăn lận thuế. Mức phạt tiền quy định tại Điều 13 Thông tư này là mức phạt tiền vận dụng đối với người nộp thuế là tổ chức, mức phạt tiền đối với người nộp thuế là hộ gia đình, tư nhân bằng ½ mức phạt tiền đối với tổ chức.

d) Phạt tiền tương ứng với số tiền ko trích vào acc của ngân sách nhà nước đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều 14 Thông tư này.

Chương II

HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ, HÌNH THỨC XỬ PHẠT VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ

Mục 1. XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI NỘP THUẾ

Điều 7. Xử phạt đối với hành vi chậm nộp giấy má đăng ký thuế, chậm công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế so với thời hạn quy định

1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi nộp giấy má đăng ký thuế hoặc công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ 01 ngày tới 10 ngày nhưng mà có cốt truyện giảm nhẹ.

2. Phạt tiền 700.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 400.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 1.000.000 đồng đối với hành vi nộp giấy má đăng ký thuế hoặc công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ 01 ngày tới 30 ngày (trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này).

3. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 800.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 2.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi sau đây:

a) Nộp giấy má đăng ký thuế hoặc công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế quá thời hạn quy định trên 30 ngày.

b) Không công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế.

c) Không nộp giấy má đăng ký thuế nhưng mà ko nảy sinh số thuế phải nộp.

Điều 8. Xử phạt đối với hành vi khai ko đầy đủ các nội dung trong giấy má thuế

1. Phạt tiền 700.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 400.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 1.000.000 đồng đối với hành vi lập giấy má khai thuế ghi thiếu, ghi sai các tiêu chí làm căn cứ xác định bổn phận thuế trên bảng kê hóa đơn, hàng hoá, dịch vụ sắm vào, bán ra hoặc trên các tài liệu khác liên can tới bổn phận thuế.

2. Phạt tiền 1.050.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 600.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 1.500.000 đồng đối với hành vi lập giấy má khai thuế ghi thiếu, ghi sai các tiêu chí làm căn cứ xác định bổn phận thuế trên hóa đơn, chứng từ khác liên can tới bổn phận thuế.

3. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 800.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 2.000.000 đồng đối với hành vi lập giấy má khai thuế ghi thiếu, ghi sai các tiêu chí làm căn cứ xác định bổn phận thuế trên tờ khai thuế, tờ khai quyết toán thuế.

4. Phạt tiền 2.100.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 1.200.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 3.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi sau đây:

a) Có hành vi vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều 12, Khoản 7 Điều 13 Thông tư này.

b) Có hành vi khai sai dẫn tới thiếu số thuế phải nộp theo giấy má khai thuế tạm tính theo quý nhưng mà chưa tới thời hạn nộp giấy má khai quyết toán thuế 5.

Điều 9. Xử phạt đối với hành vi chậm nộp giấy má khai thuế so với thời hạn quy định

1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi nộp giấy má khai thuế quá thời hạn quy định từ 01 ngày tới 05 ngày nhưng mà có cốt truyện giảm nhẹ.

2. Phạt tiền 700.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 400.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 1.000.000 đồng đối với hành vi nộp giấy má khai thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ 01 ngày tới 10 ngày (trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này).

3. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko dưới 800.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 2.000.000 đồng đối với hành vi nộp giấy má khai thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ trên 10 ngày tới 20 ngày.

4. Phạt tiền 2.100.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 1.200.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 3.000.000 đồng đối với hành vi nộp giấy má khai thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ trên 20 ngày tới 30 ngày.

5. Phạt tiền 2.800.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 1.600.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 4.000.000 đồng đối với hành vi nộp giấy má khai thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ trên 30 ngày tới 40 ngày.

6. Phạt tiền 3.500.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 2.000.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 5.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi sau đây:

a) Nộp giấy má khai thuế quá thời hạn quy định từ trên 40 ngày tới 90 ngày.

b) Nộp giấy má khai thuế quá thời hạn quy định trên 90 ngày nhưng mà ko nảy sinh số thuế phải nộp hoặc trường hợp quy định tại Khoản 9 Điều 13 Thông tư này.

c) Không nộp giấy má khai thuế nhưng mà ko nảy sinh số thuế phải nộp (trừ trường hợp lí luật có quy định không hề nộp giấy má khai thuế).

d) Nộp giấy má khai thuế tạm tính theo quý quá thời hạn quy định trên 90 ngày, từ khi ngày hết thời hạn nộp giấy má khai thuế nhưng mà chưa tới thời hạn nộp giấy má khai quyết toán thuế 5.

7. Thời hạn nộp giấy má quy định tại Điều này bao gồm cả thời kì được gia hạn nộp giấy má khai thuế theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

8. Không vận dụng các mức xử phạt quy định Điều này đối với trường hợp người nộp thuế chỉ cần khoảng được gia hạn thời hạn nộp giấy má khai thuế, gia hạn thời hạn nộp thuế.

9. Người nộp thuế chậm nộp giấy má khai thuế bị xử phạt theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 Điều này, nếu dẫn tới chậm nộp tiền thuế thì phải nộp tiền chậm nộp tiền thuế theo quy định tại Điều 106 Luật điều hành thuế và các văn bản quy định cụ thể thi hành Luật này.

Trường hợp chậm nộp giấy má khai thuế quá thời hạn quy định và cơ thuế quan đã ra quyết định ấn định số thuế phải nộp. Sau đấy trong thời hạn 90 ngày, từ khi ngày hết hạn nộp giấy má khai thuế, người nộp thuế nộp giấy má khai thuế hợp thức và xác định đúng số tiền thuế phải nộp của kỳ nộp thuế thì cơ thuế quan xử phạt hành vi chậm nộp giấy má khai thuế theo Khoản 1, 2, 3, 4, 5 và Khoản 6 Điều này và tính tiền chậm nộp tiền thuế theo quy định. Cơ thuế quan phải ra quyết định huỷ bỏ quyết định ấn định thuế.

Điều 10. Xử phạt đối với hành vi vi phạm các quy định về phân phối thông tin liên can tới xác định bổn phận thuế nhưng mà ko thuộc trường hợp xác định là khai thiếu thuế, trốn thuế, ăn lận về thuế

1. Phạt tiền 700.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 400.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 1.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi:

a) Cung cấp thông tin, tài liệu, giấy má pháp lý liên can tới đăng ký thuế theo công bố của cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ 05 ngày làm việc trở lên.

b) Cung cấp thông tin, tài liệu, sổ kế toán liên can tới việc xác định bổn phận thuế theo công bố của cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ 05 ngày làm việc trở lên.

c) Cung cấp lệch lạc về thông tin, tài liệu, sổ kế toán liên can tới việc xác định bổn phận thuế sau ngày hết hạn do cơ thuế quan công bố.

2. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 800.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 2.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi:

a) Cung cấp ko đầy đủ, ko chuẩn xác các thông tin, tài liệu, chứng từ, hóa đơn, sổ kế toán liên can tới việc xác định bổn phận thuế trong thời hạn kê khai thuế; số hiệu acc, số dư acc tiền gửi cho cơ quan có thẩm quyền lúc được đề nghị.

b) Không phân phối đầy đủ, đúng các tiêu chí, số liệu liên can tới bổn phận thuế thuộc diện phải đăng ký với cơ thuế quan theo cơ chế quy định, bị phát hiện nhưng mà ko làm giảm bổn phận thuế với ngân sách nhà nước.

c) Không phân phối; phân phối ko đầy đủ, ko chuẩn xác các thông tin, tài liệu liên can tới acc tiền gửi tại tổ chức tài chính, Kho bạc Nhà nước, công nợ bên thứ 3 có liên can trong thời hạn 03 ngày làm việc, từ khi ngày được cơ thuế quan đề nghị.

Điều 11. Xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về chấp hành hình định rà soát, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế

1. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 800.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 2.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi:

a) Khước từ nhận quyết định thanh tra, rà soát, quyết định cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế.

b) Không chấp hành hình định thanh tra, rà soát thuế quá thời hạn 03 ngày làm việc, từ khi ngày phải chấp hành hình định của cơ quan có thẩm quyền.

c) Khước từ, trì hoãn, lẩn tránh việc phân phối giấy má, tài liệu, hóa đơn, chứng từ, sổ kế toán liên can tới bổn phận thuế quá thời hạn 06 giờ làm việc, từ khi lúc thu được đề nghị của cơ quan có thẩm quyền, chỉ cần khoảng rà soát, thanh tra tại hội sở người nộp thuế.

d) Cung cấp ko chuẩn xác về thông tin, tài liệu, sổ kế toán liên can tới việc xác định bổn phận thuế theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền chỉ cần khoảng rà soát, thanh tra thuế tại hội sở người nộp thuế.

2. Phạt tiền 3.500.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 2.000.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 5.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi:

a) Không phân phối số liệu, tài liệu, sổ kế toán liên can tới việc xác định bổn phận thuế theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền chỉ cần khoảng rà soát, thanh tra thuế tại hội sở người nộp thuế.

b) Không tiến hành hoặc tiến hành ko đúng quyết định niêm phong giấy má tài liệu, két quỹ, kho hàng hoá, vật tư, vật liệu, máy móc, thiết bị, nhà xưởng làm căn cứ xác minh bổn phận thuế.

c) Tự tiện tháo bỏ, chỉnh sửa tín hiệu niêm phong do cơ quan thẩm quyền đã kiến lập hợp lí làm căn cứ xác minh bổn phận thuế.

d) Không ký vào biên bản rà soát, thanh tra trong thời hạn 05 ngày làm việc, từ khi ngày thu được biên bản rà soát, thanh tra.

đ) Không chấp hành kết luận rà soát, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế của cơ quan có thẩm quyền.

Điều 12. Xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn

1. Các trường hợp khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, bao gồm:

a) Hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, tăng số thuế được miễn, giảm nhưng mà người nộp thuế phát hiện và đã biên chép kịp thời, đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế làm nảy sinh bổn phận thuế trên sổ kế toán, hóa đơn, chứng tính từ lúc lập báo cáo nguồn vốn, quyết toán thuế.

b) Hành vi khai sai của người nộp thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm, người nộp thuế chưa điều chỉnh, biên chép đầy đủ vào sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ kê khai thuế, nhưng mà lúc bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện, người vi phạm đã tự giác nộp đủ số tiền thuế khai thiếu vào ngân sách nhà nước trước thời khắc cơ quan có thẩm quyền lập biên bản rà soát thuế, kết luận thanh tra thuế.

c) Hành vi khai sai của người nộp thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm đã bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản rà soát thuế, kết luận thanh tra thuế xác định là có hành vi khai man, trốn thuế, nhưng mà nếu người nộp thuế vi phạm lần đầu, có cốt truyện giảm nhẹ và đã tự giác nộp đủ số tiền thuế vào ngân sách nhà nước trước thời khắc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt thì cơ thuế quan lập biên bản ghi nhận để xử phạt theo mức phạt tiền đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.

d) Sử dụng hóa đơn, chứng từ trái phép để hạch toán trị giá hàng hoá, dịch vụ sắm vào làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm, nhưng mà lúc cơ thuế quan rà soát phát hiện, khách hàng có giấy má, tài liệu, chứng từ, hóa đơn chứng minh được lỗi vi phạm hóa đơn trái phép thuộc về bên bán hàng và khách hàng đã hạch toán kế toán đầy đủ theo quy định.

2. Mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này là 20% tính trên số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm cao hơn so với mức quy định của luật pháp về thuế.

3. Trường hợp vi phạm theo quy định tại Khoản 1 Điều này ngoài việc bị xử phạt theo quy định tại Khoản 2 Điều này còn bị vận dụng giải pháp giải quyết hậu quả là nộp đủ số tiền thuế nợ, số tiền thuế thiếu, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước.

Cơ thuế quan xác định số tiền thuế thiếu, số ngày chậm nộp tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế; số tiền phạt và ra quyết định xử phạt đối với người nộp thuế.

Cơ thuế quan căn cứ ngày nộp tiền vào ngân sách nhà nước ghi trên chứng từ nộp tiền vào ngân sách nhà nước hoặc chứng từ chuyển khoản có công nhận của ngân khố nhà nước hoặc tổ chức tài chính để xác định việc người nộp thuế đã nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước và số ngày chậm nộp tiền thuế để làm căn cứ xác định số tiền chậm nộp tiền thuế.

4. Trường hợp, người nộp thuế có hành vi khai sai quy định tại Khoản 1 Điều này nhưng mà ko dẫn tới thiếu số thuế phải nộp hoặc chưa được hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế thì ko bị xử phạt theo quy định tại Điều này nhưng mà bị xử phạt theo quy định tại Khoản 4 Điều 8 Thông tư này.

Điều 13. Xử phạt đối với hành vi trốn thuế, ăn lận thuế

Người nộp thuế có hành vi trốn thuế, ăn lận thuế theo quy định của luật pháp bị xử phạt theo số lần tính trên số tiền thuế trốn, số tiền thuế ăn lận như sau:

1. Phạt tiền 1 lần tính trên số thuế trốn, số thuế ăn lận đối với người nộp thuế vi phạm lần đầu (trừ các trường hợp bị xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu thuế tại Khoản 1 Điều 12 Thông tư này) hoặc vi phạm lần thứ 2 nhưng mà có từ 2 cốt truyện giảm nhẹ trở lên lúc có 1 trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không nộp giấy má đăng ký thuế; ko nộp giấy má khai thuế hoặc nộp giấy má khai thuế sau 90 ngày, từ khi ngày hết thời hạn nộp giấy má khai thuế theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 32 Luật điều hành thuế hoặc từ khi ngày hết thời hạn gia hạn nộp giấy má khai thuế theo quy định tại Điều 33 của Luật điều hành thuế, trừ trường hợp quy định tại Khoản 6 Điều 9 Thông tư này và Khoản 9 Điều này.

b) Sử dụng hóa đơn, chứng từ ko hợp lí; sử dụng trái phép hóa đơn, chứng từ; hóa đơn ko có trị giá sử dụng để kê khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.

c) Lập thủ tục, giấy má hủy vật tư, hàng hóa hoặc giảm số lượng, trị giá vật tư, hàng hóa ko đúng thực tiễn làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, được miễn, giảm.

d) Lập hóa đơn sai về số lượng, trị giá hàng hoá, dịch vụ bán ra làm căn cứ kê khai nộp thuế thấp hơn thực tiễn.

đ) Không biên chép trong sổ kế toán các khoản thu liên can tới việc xác định số tiền thuế phải nộp; ko kê khai, kê khai sai, ko thật thà làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm.

e) Không xuất hóa đơn lúc bán hàng hoá, dịch vụ hoặc ghi trị giá trên hóa đơn bán hàng thấp hơn trị giá trả tiền thực tiễn của hàng hoá, dịch vụ đã bán và bị phát hiện sau thời hạn nộp giấy má khai thuế của kỳ tính thuế.

g) Sử dụng hàng hóa được miễn thuế, xét miễn thuế (bao gồm cả ko chịu thuế) ko đúng với mục tiêu quy định nhưng mà ko khai báo việc biến đổi mục tiêu sử dụng, khai thuế với cơ thuế quan.

h) Tu sửa, tẩy xoá chứng từ kế toán, sổ kế toán làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.

i) Hủy bỏ chứng từ kế toán, sổ kế toán làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.

k) Sử dụng hóa đơn, chứng từ, tài liệu ko hợp lí trong các trường hợp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn; khai sai căn cứ tính thuế nảy sinh số thuế trốn, số thuế ăn lận.

l) Người nộp thuế đang chỉ cần khoảng xin tạm dừng kinh doanh nhưng mà thực tiễn vẫn kinh doanh.

m) Hàng hóa chuyên chở trên đường ko có hóa đơn, chứng từ hợp lí.

2. Phạt tiền 1,5 lần tính trên số thuế trốn đối với người nộp thuế lúc có 1 trong các hành vi trốn thuế, ăn lận thuế quy định tại Khoản 1 Điều này trong các trường hợp: vi phạm lần đầu, có cốt truyện tăng nặng hoặc vi phạm lần thứ 2, có 1 cốt truyện giảm nhẹ.

3. Phạt tiền 2 lần tính trên số thuế trốn đối với người nộp thuế lúc có 1 trong các hành vi trốn thuế, ăn lận thuế quy định tại Khoản 1 Điều này trong các trường hợp: vi phạm lần thứ 2 nhưng mà ko có cốt truyện giảm nhẹ hoặc vi phạm lần thứ 3 và có 1 cốt truyện giảm nhẹ.

4. Phạt tiền 2,5 lần tính trên số thuế trốn đối với người nộp thuế lúc có 1 trong các hành vi trốn thuế, ăn lận thuế quy định tại Khoản 1 Điều này trong các trường hợp: vi phạm lần thứ 2 nhưng mà có 1 cốt truyện tăng nặng hoặc vi phạm lần thứ 3 nhưng mà ko có cốt truyện giảm nhẹ.

5. Phạt tiền 3 lần tính trên số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế lúc có 1 trong các hành vi trốn thuế, ăn lận thuế quy định tại Khoản 1 Điều này trong các trường hợp: vi phạm lần thứ 2 nhưng mà có từ 2 cốt truyện tăng nặng trở lên hoặc vi phạm lần thứ 3 có cốt truyện tăng nặng hoặc vi phạm từ lần thứ tư trở đi.

6. Các hành vi trốn thuế, ăn lận thuế bị xử phạt quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này còn bị buộc vận dụng giải pháp giải quyết hậu quả là nộp đủ số tiền thuế trốn, ăn lận vào ngân sách nhà nước.

Số tiền thuế trốn, ăn lận theo quy định tại Điều này là số tiền thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của luật pháp nhưng mà người nộp thuế bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện và xác định trong biên bản, kết luận rà soát, thanh tra.

7. Các hành vi vi phạm quy định tại các điểm b, c, d, đ, e, g, h, i, k, Khoản 1 Điều này bị phát hiện trong thời hạn nộp giấy má khai thuế của kỳ tính thuế hoặc bị phát hiện sau thời hạn nộp giấy má khai thuế, nhưng mà ko làm giảm số thuế phải nộp hoặc chưa được hoàn, ko làm tăng số thuế miễn, giảm và ko thuộc trường hợp bị xử phạt đối với hành vi trốn thuế thì bị xử phạt về hành vi vi phạm về thủ tục thuế theo quy định tại Khoản 4 Điều 8 hoặc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán.

8. Trường hợp người nộp thuế đang thuộc diện được miễn thuế, được hoàn thuế theo quy định của luật pháp, kê khai ko đúng căn cứ xác định số thuế được miễn, số thuế được hoàn nhưng mà ko làm thiệt hại tới số thuế của ngân sách nhà nước thì ko bị xử phạt đối với hành vi trốn thuế nhưng mà xử phạt về hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định ở Điều 8 Thông tư này với mức phạt cao nhất.

9. Trường hợp, người nộp thuế nộp giấy má khai thuế sau 90 ngày, từ khi ngày hết thời hạn nộp giấy má khai thuế, đã tự giác nộp đầy đủ số tiền thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước trước thời khắc cơ thuế quan lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi chậm nộp giấy má khai thuế thì bị xử phạt về hành vi chậm nộp giấy má khai thuế quy định Khoản 6, Điều 9 Thông tư này. Trường hợp, người nộp thuế đã nộp giấy má khai thuế nhưng mà khai sai, ăn lận thuế dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp, ăn lận, trốn thuế thì ngoài việc bị xử phạt về thủ tục thuế còn bị xử phạt về khai thiếu thuế hoặc trốn thuế theo quy định tại Điều 12, Điều 13 Thông tư này.

10. Trường hợp người nộp thuế nộp thuế theo cách thức kê khai đang trong thời hạn hưởng giảm giá miễn thuế thu nhập công ty bị phát hiện có hành vi vi phạm như khai sai làm tăng khống chi tiêu để tăng số lỗ, để giảm lãi; giảm chi tiêu để tăng lãi và xác định ko đúng các điều kiện để thừa hưởng miễn thuế thu nhập công ty thì:

a) Nếu vi phạm được rà soát phát hiện ngay chỉ cần khoảng đang được giảm giá miễn thuế thu nhập công ty thì ko xử phạt về hành vi trốn thuế nhưng mà tiến hành xử phạt vi phạm về thủ tục thuế hoặc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán;

b) Nếu vi phạm chưa được rà soát phát hiện nhưng mà tư nhân, tổ chức ko tự điều chỉnh hậu quả làm giảm số thuế thu nhập công ty của 5 tiếp sau lúc hết thời hạn được miễn thuế thu nhập công ty thì bị xử phạt về hành vi trốn thuế.

Mục 2. XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ ĐỐI VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KHÁC CÓ LIÊN QUAN

Điều 14. Xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức tài chính

1. Tổ chức tài chính ko tiến hành nghĩa vụ trích chuyển tiền từ acc của người nộp thuế vào acc của ngân sách nhà nước đối với số tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt phải nộp của người nộp thuế theo quyết định cưỡng chế của cơ thuế quan thì bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế trong trường hợp: tại thời khắc đấy, acc của người nộp thuế có số dư nhưng mà người nộp thuế phải nộp theo quyết định cưỡng chế của cơ thuế quan.

Trong thời hạn 10 ngày, từ khi ngày hết hạn trích tiền từ acc của người nộp thuế mở tại tổ chức tài chính, cơ thuế quan phải lập biên bản vi phạm hành chính về thuế và ra quyết định xử phạt đối với tổ chức tài chính. Mức xử phạt tương ứng số tiền ko trích chuyển vào acc của ngân sách nhà nước theo quyết định cưỡng chế. Trường hợp này, cơ thuế quan vẫn phải vận dụng các giải pháp nhằm thu đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt đối với người nộp thuế còn nợ.

2. Tổ chức tài chính ko bị xử phạt trong trường hợp tại thời khắc đấy, acc tiền gửi của người nộp thuế ko còn số dư hoặc đã trích chuyển toàn thể số dư acc của người nộp thuế vào acc của ngân sách nhà nước nhưng mà vẫn ko đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt nhưng mà người nộp thuế phải nộp.

Khi thu được quyết định cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế tổ chức tài chính phải lập văn bản công nhận về số dư acc tiền gửi của nhân vật bị cưỡng chế hoặc ko còn số dư tiền gửi và gửi cơ thuế quan ra quyết định cưỡng chế biết trong thời hạn 03 ngày, từ khi ngày thu được quyết định cưỡng chế của cơ thuế quan.

Điều 15. Xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với tổ chức, tư nhân khác có liên can

1. Tổ chức, tư nhân liên can có hành vi thông lưng, bao che người nộp thuế trốn thuế, ăn lận thuế, ko tiến hành quyết định cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế (trừ hành vi ko trích chuyển tiền từ acc của người nộp thuế quy định tại Điều 14 Thông tư này) thì tuỳ theo thuộc tính, chừng độ vi phạm nhưng mà bị phạt tiền, chi tiết như sau:

a) Phạt tiền 3.750.000 đồng đối với tư nhân, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức phạt tiền tối thiểu ko thấp hơn 2.500.000 đồng, nếu có cốt truyện tăng nặng thì mức phạt tiền tối đa ko vượt quá 5.000.000 đồng;

b) Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với tổ chức, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức phạt tiền tối thiểu ko thấp hơn 5.000.000 đồng, nếu có cốt truyện tăng nặng thì mức phạt tiền tối đa ko vượt quá 10.000.000 đồng.

2. Tổ chức, tư nhân ko phân phối hoặc phân phối ko chuẩn xác thông tin liên can tới bổn phận thuế của người nộp thuế; acc của nhân vật nợ thuế tại tổ chức tài chính, ngân khố nhà nước theo quy định của Luật điều hành thuế thì bị xử phạt theo quy định tại Khoản 1 Điều này.

3. Bên bảo lãnh việc tiến hành bổn phận thuế phải nộp thay tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt (nếu có) cho người nộp thuế theo nội dung cam kết tại văn bản bảo lãnh trong trường hợp người nộp thuế ko nộp các khoản nêu trên vào acc của ngân sách nhà nước.

Căn cứ giấy má bảo lãnh nộp thuế, cơ thuế quan công bố số tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt (nếu có), thời hạn nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp cho bên bảo lãnh biết để tiến hành nộp vào ngân sách nhà nước thay cho người được bảo lãnh.

Trường hợp, tới thời hạn nộp tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt nhưng mà người nộp thuế ko tiến hành nộp tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt (nếu có) vào ngân sách nhà nước, bên bảo lãnh chưa nộp thay tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt (nếu có) cho người nộp thuế theo cam kết tại văn bản bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải thanh toán chậm nộp theo mức 0,07%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp, 0,05%/ngày tính trên số tiền phạt chậm nộp và bị cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế theo quy định của luật pháp.

Chương III

THẨM QUYỀN XỬ PHẠT; THỦ TỤC XỬ PHẠT VÀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ

Mục 1. THẨM QUYỀN XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ

Điều 16. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế

1. Công chức thuế đang thi hành công vụ có quyền:

a) Phạt cảnh cáo.

b) Phạt tiền tới 1.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định tại Thông tư này.

2. Đội trưởng Đội Thuế trong khuôn khổ công dụng, nhiệm vụ có quyền:

a) Phạt cảnh cáo.

b) Phạt tiền tới 5.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định tại Thông tư này.

3. Chi cục trưởng Chi cục Thuế trong khuôn khổ địa bàn điều hành của mình có quyền:

a) Phạt cảnh cáo.

b) Phạt tiền tới 50.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11 và Điều 15 Thông tư này.

c) Phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định tại các Điều 12, Điều 13 và Điều 14 Thông tư này.

d) Vận dụng giải pháp giải quyết hậu quả quy định tại Khoản 3 Điều 12, Khoản 6 Điều 13 Thông tư này.

4. Cục trưởng Cục Thuế trong khuôn khổ địa bàn điều hành của mình có quyền:

a) Phạt cảnh cáo.

b) Phạt tiền tới 140.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11 và Điều 15 Thông tư này.

c) Phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định tại các Điều 12, Điều 13 và Điều 14 Thông tư này.

d) Vận dụng giải pháp giải quyết hậu quả quy định tại Khoản 3 Điều 12, Khoản 6 Điều 13 Thông tư này.

5. Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế có quyền:

a) Phạt cảnh cáo.

b) Phạt tiền tới 200.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11 và Điều 15 Thông tư này.

c) Phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định tại các Điều 12, Điều 13 và Điều 14 Thông tư này.

d) Vận dụng giải pháp giải quyết hậu quả quy định tại Khoản 3 Điều 12, Khoản 6 Điều 13 Thông tư này.

6. Thẩm quyền xử phạt vi phạm về thủ tục thuế của những người được quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này vận dụng đối với 1 hành vi vi phạm của tổ chức; Trường hợp phạt tiền đối với tư nhân có hành vi vi phạm về thủ tục thuế thì thẩm quyền xử phạt đối với tư nhân bằng ½ thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức. Thẩm quyền xử phạt vi phạm đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế miễn, giảm; hành vi trốn thuế, ăn lận thuế quy định tại Điểm c Khoản 3, Điểm c Khoản 4, Điểm c Khoản 5 Điều này vận dụng cho tư nhân và tổ chức vi phạm theo quy định tại Khoản 2 Điều 109 Luật điều hành thuế.

Điều 17. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế của Chủ tịch Ủy ban quần chúng các đơn vị quản lý

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế của Chủ tịch ủy ban quần chúng các đơn vị quản lý được tiến hành theo quy định của luật pháp về xử lý vi phạm hành chính.

Điều 18. Giao quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế

1. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế quy định tại Khoản 2, 3, 4, 5 Điều 16 Thông tư này có thể giao quyền cho cấp phó tiến hành thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế.

2. Việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế được tiến hành thường xuyên hoặc theo vụ việc và phải được trình bày bằng văn bản (quyết định), trong đấy xác định rõ khuôn khổ, nội dung, thời hạn giao quyền.

Quyết định giao quyền phải đánh số, ghi rõ ngày, tháng, 5, ký và đóng dấu; Trường hợp, Đội trưởng Đội Thuế giao quyền cho cấp phó xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì Quyết định giao quyền đóng dấu treo của Chi cục Thuế nơi người có thẩm quyền xử phạt giao quyền.

Căn cứ pháp lý để ban hành hình định xử phạt vi phạm hành chính về thuế của cấp phó được giao quyền phải trình bày rõ số, ngày, tháng, 5, trích yếu quyết định giao quyền.

3. Cấp phó được giao quyền tiến hành xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải chịu nghĩa vụ về quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế của mình trước cấp trưởng và trước luật pháp. Người được giao quyền ko được giao quyền, giao cho cho bất cứ ai khác.

Mục 2. THỦ TỤC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ

Điều 19. Buộc xong xuôi hành vi vi phạm hành chính về thuế

Công chức thuế đang thi hành công vụ phát hiện tổ chức, tư nhân đang tiến hành hành vi vi phạm hành chính về thuế thì buộc tổ chức, tư nhân đấy xong xuôi hành vi vi phạm hành chính về thuế.

Buộc xong xuôi hành vi vi phạm hành chính về thuế được tiến hành bằng lời nói, văn bản hoặc bề ngoài khác theo quy định của luật pháp.

Điều 20. Xử phạt vi phạm hành chính về thuế ko lập biên bản

1. Xử phạt vi phạm hành chính về thuế ko lập biên bản được vận dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền tới 250.000 đồng đối với tư nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt tại chỗ.

2. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế tại chỗ phải ghi rõ: ngày, tháng, 5 ra quyết định; họ, tên, chức phận của người ra quyết định xử phạt; họ, tên, địa chỉ của tư nhân vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm; vị trí xảy ra vi phạm; bằng chứng và cốt truyện liên can tới việc khắc phục vi phạm; điều, khoản của văn bản luật pháp được vận dụng. Trường hợp, phạt tiền thì ghi rõ mức tiền phạt trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế.

Điều 21. Xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản

1. Xử phạt vi phạm hành chính về thuế có lập biên bản được vận dụng đối với tư nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính về thuế, trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 20 Thông tư này.

2. Trường hợp, người nộp thuế có hành vi vi phạm hành chính về thuế đã được cơ thuế quan rà soát, thanh tra phát hiện, ghi nhận vào biên bản rà soát, thanh tra, kết luận thanh tra thì không hề lập biên bản trước lúc ban hành hình định xử phạt vi phạm hành chính. Người có thẩm quyền xử phạt căn cứ biên bản thanh tra, rà soát, kết luận thanh tra thuế để ra quyết định xử phạt.

3. Việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế có lập biên bản phải được người có thẩm quyền xử phạt lập thành giấy má xử phạt vi phạm hành chính. Giấy tờ bao gồm biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt hành chính, các tài liệu, giấy má có liên can và phải được đánh bút lục.

Điều 22. Lập biên bản vi phạm hành chính về thuế

1. Người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm hành chính về thuế có nghĩa vụ lập biên bản theo đúng mẫu quy định (trừ trường hợp xử phạt không hề lập biên bản theo quy định tại Điều 20 Thông tư này) và chuyển kịp thời đến người có thẩm quyền xử phạt.

Trường hợp tư nhân, tổ chức tiến hành nhiều hành vi vi phạm hành chính về thuế trong cùng 1 vụ việc hoặc vi phạm nhiều lần thì biên bản xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải trình bày đầy đủ các hành vi vi phạm hoặc số lần vi phạm.

2. Biên bản vi phạm hành chính về thuế phải ghi rõ ngày, tháng, 5, vị trí lập biên bản; họ, tên, chức phận người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; giờ, ngày, tháng, 5, vị trí xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm hành chính về thuế; lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc người đại diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ, lời khai của họ; quyền và thời hạn giải trình về vi phạm hành chính của người vi phạm; cơ quan tiếp thu giải trình.

3. Biên bản phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; trường hợp người vi phạm ko ký được thì lăn tay; nếu có người chứng kiến thì họ cùng phải ký vào biên bản; trong trường hợp biên bản gồm nhiều tờ thì người lập biên bản phải ký vào từng tờ biên bản. Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm ko có mặt tại nơi vi phạm hoặc ko ký vào biên bản vi phạm hành chính về thuế hoặc vì lý do khách quan nhưng mà ko ký vào biên bản thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở (đại diện có thẩm quyền của ủy ban quần chúng cấp xã hoặc đại diện theo giao cho của ủy ban quần chúng cấp xã) nơi xảy ra vi phạm hoặc của 2 người chứng kiến. Trường hợp tư nhân, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến khước từ ký biên bản thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Biên bản vi phạm hành chính về thuế phải được lập chí ít thành 02 bản. 01 bản ủy quyền tư nhân hoặc tổ chức vi phạm hành chính về thuế; 01 bản làm căn cứ để ra quyết định xử phạt. Trường hợp, vi phạm hành chính về thuế ko thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản phải được chuyển ngay tới người có thẩm quyền xử phạt để thực hiện xử phạt.

Điều 23. Gicửa ải trình của tổ chức, tư nhân vi phạm hành chính về thuế

1. Đối với tổ chức, tư nhân có hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn bị xử phạt theo tỉ lệ % (%) quy định tại Điều 107 Luật điều hành thuế; hành vi trốn thuế bị xử phạt theo số lần thuế trốn theo quy định tại Điều 108 Luật điều hành thuế; hành vi ko trích chuyển tiền trong acc của người nộp thuế theo đề nghị của cơ thuế quan quy định tại Điều 114 Luật điều hành thuế bị lập biên bản vi phạm hành chính về thuế thì tổ chức, tư nhân vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế.

2. Người có thẩm quyền xử phạt có nghĩa vụ coi xét quan điểm giải trình của tư nhân, tổ chức vi phạm trước lúc ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp tư nhân, tổ chức ko có đề nghị giải trình trong thời hạn quy định tại Khoản 3 Điều này.

3. Thời hạn, thủ tục giải trình vi phạm hành chính về thuế

a) Đối với trường hợp giải trình bằng văn bản: tổ chức, tư nhân vi phạm hành chính thuế phải gửi văn bản giải trình cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuế trong thời hạn ko quá 05 ngày, từ khi ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Trường hợp vụ việc có nhiều cốt truyện phức tạp thì người có thẩm quyền xử phạt có thể gia hạn thêm ko quá 05 ngày theo yêu cầu của tổ chức, tư nhân vi phạm. Trường hợp, người có thẩm quyền xử phạt đồng ý gia hạn giải trình cho tổ chức, tư nhân vi phạm thì phải trình bày bằng văn bản.

Tư nhân, tổ chức vi phạm hành chính về thuế tự mình hoặc giao cho cho người đại diện hợp lí của mình tiến hành giải trình bằng văn bản.

b) Đối với trường hợp giải trình trực tiếp: tư nhân, tổ chức vi phạm hành chính thuế phải gửi văn bản đề nghị được giải trình trực tiếp tới người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế trong thời hạn 02 ngày làm việc, từ khi ngày lập biên bản vi phạm hành chính về thuế.

Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải công bố bằng văn bản cho người vi phạm về thời kì và vị trí tổ chức phiên giải trình trực tiếp trong thời hạn 05 ngày, từ khi ngày thu được đề nghị của người vi phạm.

Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế tổ chức phiên giải trình trực tiếp và có nghĩa vụ nêu căn cứ pháp lý và cốt truyện, bằng chứng liên can tới hành vi vi phạm hành chính, bề ngoài xử phạt, giải pháp giải quyết hậu quả dự định vận dụng đối với hành vi vi phạm của người vi phạm. Tư nhân, tổ chức vi phạm hành chính về thuế, người đại diện hợp lí của họ có quyền tham dự phiên giải trình và đưa ra quan điểm, bằng chứng để bảo vệ quyền và ích lợi hợp lí của mình.

Việc giải trình trực tiếp được lập thành biên bản và phải có chữ ký của các đối tác liên can; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ thì các đối tác phải ký vào từng tờ biên bản. Biên bản này phải được lưu trong giấy má xử phạt vi phạm hành chính về thuế và ủy quyền tư nhân, tổ chức vi phạm hoặc người đại diện hợp lí của họ 01 bản.

Điều 24. Chuyển giấy má vụ vi phạm luật pháp về thuế có tín hiệu phạm nhân để truy cứu nghĩa vụ hình sự

1. Trong giai đoạn xử phạt vi phạm hành chính về thuế, nếu xét thấy tổ chức, tư nhân vi phạm luật pháp về thuế có tín hiệu phạm nhân, thì người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển ngay giấy má cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự.

2. Trường hợp, người có thẩm quyền xử phạt đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, đang chỉ cần khoảng thi hành hình định xử phạt, nếu hành vi vi phạm được phát hiện có tín hiệu phạm nhân nhưng mà chưa hết thời hiệu truy cứu nghĩa vụ hình sự, thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành hình định đấy và trong thời hạn 03 ngày, từ khi ngày ra quyết định tạm đình chỉ phải chuyển giấy má xử lý vi phạm cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự có thẩm quyền để xử lý; trường hợp đã thi hành xong quyết định xử phạt thì người có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải chuyển giấy má vụ vi phạm cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự để xử lý.

Giấy tờ chuyển giao bao gồm: quyết định chuyển giấy má cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự xử lý; bản sao biên bản về hành vi vi phạm hành chính về thuế hoặc biên bản rà soát, thanh tra thuế; bản sao kết quả nhận định, xác minh (nếu có); bản sao tài liệu khác có liên can; bản sao quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế (nếu có); quyết định tạm đình chỉ thi hành hình định xử phạt đối với trường hợp chưa thi hành hình định xử phạt. Việc chuyển giao giấy má phải được lập thành biên bản.

3. Theo quy định tại Điều 62 Luật xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan thực hiện tố tụng hình sự đã nhận giấy má vụ việc theo Khoản 1, 2 Điều này có nghĩa vụ coi xét, kết luận vụ việc và công bố kết quả khắc phục bằng văn bản cho người có thẩm quyền đã chuyển giấy má trong thời hạn theo quy định của luật pháp tố tụng hình sự; trường hợp ko khởi tố vụ án hình sự thì trong thời hạn 03 ngày, từ khi ngày có quyết định ko khởi tố vụ án hình sự, cơ quan thực hiện tố tụng phải trả giấy má vụ việc cho người có thẩm quyền xử phạt đã chuyển giấy má tới.

Trường hợp cơ quan thực hiện tố tụng hình sự có quyết định khởi tố vụ án thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuế phải hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính thuế và chuyển tài liệu về việc thi hành hình định xử phạt cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự.

4. Việc chuyển giấy má vụ vi phạm có tín hiệu phạm nhân để truy cứu nghĩa vụ hình sự phải được công bố cho tư nhân vi phạm.

5. Trường hợp người có thẩm quyền xử phạt đã chuyển giấy má cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự, nhưng mà quá thời hạn 03 ngày, từ khi ngày hết hạn ra quyết định khởi tố hoặc ra quyết định ko khởi tố vụ án hình sự theo quy định của luật pháp về luật tố tụng hình sự nhưng mà người có thẩm quyền xử phạt chưa thu được công bố của cơ quan thực hiện tố tụng về việc khởi tố hoặc ko khởi tố vụ án hình sự thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế, có văn bản yêu cầu cơ quan thực hiện tố tụng hình sự đã nhận giấy má, chuyển trả lại giấy má vụ vi phạm để người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế hoặc tiếp diễn thi hành hình định xử phạt đối với trường hợp lúc chuyển giấy má người có thẩm quyền xử phạt đã ban hành hình định tạm đình chỉ thi hành hình định xử phạt.

………………..

Mời bài các bạn cùng tham khảo nội dung cụ thể của thông tư tại file dưới đây!

.

Xem thêm thông tin Thông tư 166/2013/TT-BTC

Thông tư 166/2013/TT-BTC

Vào ngày 15/11/2013, Bộ Nguồn vốn đã ban hành Thông tư 166/2013/TT-BTC về quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính về thuế. Hiệu lực của văn bản luật pháp này sẽ được kể từ ngày 01/01/2014. Sau đây là nội dung cụ thể của thông tư này, xin mời các bạn cùng tham khảo.

BỘ TÀI CHÍNH——–

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc —————

Số: 166/2013/TT-BTC

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 5 2013

THÔNG TƯ 166/2013/TT-BTC
QUY ĐỊNH CHI TIẾT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ
Căn cứ Luật điều hành thuế ngày 29 tháng 11 5 2006;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Luật điều hành thuế ngày 20 tháng 11 5 2012;
Căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 5 2012;
Căn cứ Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 5 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế;
Căn cứ Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 5 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điều hành giá, phí, lệ phí, hóa đơn;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 5 2008 của Chính phủ quy định công dụng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nguồn vốn;
Theo yêu cầu của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế,
Bộ trưởng Bộ Nguồn vốn ban hành Thông tư quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính về thuế.
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, nhân vật bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế
1. Thông tư này quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định của Luật điều hành thuế, Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 5 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế.
2. Tư nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính về thuế (sau đây gọi chung là người vi phạm), ko phân biệt cố ý hoặc vô ý đều bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định của Luật điều hành thuế, Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Luật điều hành thuế (sau đây gọi là Luật điều hành thuế), Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 5 2013 của Chính phủ nêu trên và quy định tại Thông tư này. Nhân vật bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế gồm:
a) Người nộp thuế có hành vi vi phạm hành chính về thuế.
b) Tổ chức tài chính theo quy định của Luật các tổ chức tài chính (sau đây gọi là tổ chức tài chính) có hành vi vi phạm hành chính về thuế.
c) Tổ chức, tư nhân khác có liên can.
3. Các hành vi vi phạm hành chính về thuế, bao gồm:
a) Hành vi vi phạm hành chính về thuế của người nộp thuế:
Hành vi vi phạm quy định về thủ tục thuế: hành vi chậm nộp giấy má đăng ký thuế, chậm công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế so với thời hạn quy định; hành vi khai ko đầy đủ các nội dung trong giấy má khai thuế; hành vi chậm nộp giấy má khai thuế so với thời hạn quy định; hành vi vi phạm các quy định về phân phối thông tin liên can tới xác định bổn phận thuế; hành vi vi phạm trong việc chấp hành hình định rà soát, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế.
Hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn.
Hành vi trốn thuế, ăn lận thuế.
b) Hành vi vi phạm hành chính về thuế của tổ chức tài chính và tổ chức, tư nhân khác có liên can:
Hành vi thông lưng, bao che người nộp thuế trốn thuế, ăn lận thuế;
Hành vi ko tiến hành quyết định cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế;
Hành vi ko phân phối hoặc phân phối ko chuẩn xác thông tin liên can tới xác định bổn phận thuế của người nộp thuế; acc của người nộp thuế nợ thuế tại tổ chức tài chính, ngân khố nhà nước theo quy định của Luật điều hành thuế.
Điều 2. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính về thuế
1. Mọi hành vi vi phạm hành chính về thuế được phát hiện, chặn đứng kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh. Mọi hậu quả do vi phạm hành chính về thuế gây ra phải được giải quyết theo đúng quy định của luật pháp.
2. Việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế được thực hiện mau chóng, kịp thời, công khai, sáng tỏ, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bình, đúng quy định của luật pháp.
3. Việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải căn cứ vào thuộc tính, chừng độ, hậu quả vi phạm, nhân vật vi phạm và cốt truyện giảm nhẹ, cốt truyện tăng nặng.
4. Tư nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế lúc có hành vi vi phạm hành chính về thuế do luật pháp quy định.
5. 1 hành vi vi phạm hành chính về thuế chỉ bị xử phạt 1 lần, chi tiết:
a) 1 hành vi vi phạm hành chính về thuế đã được người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt hoặc đã lập biên bản để xử phạt thì ko được ra quyết định xử phạt lần thứ 2 đối với hành vi đấy. Trường hợp, hành vi vi phạm vẫn tiếp diễn được tiến hành mặc dầu đã bị người có thẩm quyền đang thi hành công vụ buộc xong xuôi hành vi vi phạm thì vận dụng bề ngoài xử phạt với cốt truyện tăng nặng theo Khoản 1 Điều 3 Thông tư này.
Trường hợp, người nộp thuế bị ấn định thuế thì tuỳ theo thuộc tính, chừng độ vi phạm bị xử phạt theo quy định tại Thông tư này.
b) Trường hợp hành vi vi phạm hành chính về thuế có tín hiệu phạm nhân đã chuyển giấy má yêu cầu truy cứu nghĩa vụ hình sự, cơ quan thực hiện tố tụng hình sự đã có quyết định khởi tố vụ án nhưng mà trước đấy người có thẩm quyền xử phạt đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì người đã ra quyết định xử phạt phải ra quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt; nếu chưa ra quyết định xử phạt thì ko xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với hành vi đấy.
c) Nhiều người cùng tiến hành 1 hành vi vi phạm hành chính về thuế thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi đấy.
Trường hợp tư nhân, tổ chức giao cho cho tổ chức kê khai thuế, quyết toán thuế, căn cứ vào nội dung giao cho nếu hành vi vi phạm thuộc nghĩa vụ của tổ chức được giao cho thì tuỳ theo chừng độ vi phạm của tổ chức được giao cho bị xử phạt theo Thông tư này.
d) 1 người tiến hành nhiều hành vi vi phạm hành chính về thuế hoặc vi phạm hành chính về thuế nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm.
Trường hợp trong cùng 1 thời khắc người nộp thuế chậm nộp nhiều giấy má khai thuế của nhiều loại thuế không giống nhau thì người nộp thuế bị xử phạt về từng hành vi chậm nộp giấy má khai thuế đối với từng sắc thuế;
Trường hợp, cùng thời khắc người nộp thuế chậm nộp nhiều giấy má khai thuế của nhiều kỳ tính thuế nhưng mà cùng 1 sắc thuế thì: hành vi chậm nộp giấy má khai thuế thuộc trường hợp xử phạt về thủ tục thuế chỉ bị xử phạt về 1 hành vi vi phạm thủ tục thuế với cốt truyện tăng nặng vi phạm nhiều lần; trường hợp có giấy má khai thuế chậm nộp quá 90 ngày thuộc trường hợp xử phạt về hành vi trốn thuế thì bị xử phạt về hành vi trốn thuế theo quy định tại Điều 13 Thông tư này.
6. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế có nghĩa vụ chứng minh hành vi vi phạm hành chính về thuế của tư nhân, tổ chức. Tư nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc phê chuẩn người đại diện hợp lí chứng minh mình ko vi phạm hành chính về thuế.
7. Đối với cùng 1 hành vi vi phạm hành chính về thuế thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với tư nhân, trừ mức phạt tiền đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn quy định tại Điều 107 Luật điều hành thuế.
Điều 3. Cốt truyện giảm nhẹ, cốt truyện tăng nặng
Cốt truyện giảm nhẹ, cốt truyện tăng nặng tiến hành theo quy định tại Điều 9, Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Điều 4. Thời hiệu xử phạt, thời hạn truy thu thuế và thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế
1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế
a) Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế thì thời hiệu xử phạt là 02 5, từ khi ngày hành vi vi phạm được tiến hành tới ngày ra quyết định xử phạt. Ngày tiến hành hành vi vi phạm hành chính về thủ tục thuế là ngày kế tiếp ngày chấm dứt thời hạn phải tiến hành thủ tục về thuế theo quy định của Luật điều hành thuế.
Đối với trường hợp làm thủ tục thuế bằng điện tử thì ngày tiến hành hành vi vi phạm hành chính về thuế là ngày kế tiếp ngày chấm dứt thời hạn làm thủ tục thuế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
b) Đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm; hành vi trốn thuế, ăn lận thuế chưa tới mức truy cứu nghĩa vụ hình sự thì thời hiệu xử phạt là 05 5, từ khi ngày tiến hành hành vi vi phạm tới ngày ra quyết định xử phạt. Ngày tiến hành hành vi vi phạm là ngày tiếp theo ngày của thời hạn nộp giấy má khai thuế của kỳ tính thuế nhưng mà người nộp thuế tiến hành hành vi vi phạm.
Đối với các trường hợp theo quy định của luật pháp cơ thuế quan phải ra quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế thì thời khắc xác định hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm, hành vi trốn thuế là ngày tiếp theo ngày cơ quan có thẩm quyền ra quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế.
Trường hợp kỳ tính thuế có hành vi vi phạm nếu được gia hạn nộp thuế thì thời hiệu xử phạt tính từ ngày kế tiếp ngày được gia hạn nộp giấy má khai thuế tới ngày ra quyết định xử lý.
c) Đối với trường hợp giấy má do cơ quan thực hiện tố tụng hình sự chuyển cho cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế để xử lý theo quy định tại Điều 25 Thông tư này thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính vận dụng theo quy định tại Điểm a, b Khoản 1 Điều này. Thời gian cơ quan thực hiện tố tụng hình sự thụ lý, coi xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.
d) Trong thời hiệu quy định tại Điểm a, b, c Khoản này nhưng mà người nộp thuế cố tình lẩn tránh, cản trở việc xử phạt thì ko vận dụng thời hiệu tại Điểm a, b, c Khoản 1 Điều này nhưng mà thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế được tính lại từ khi thời khắc tiến hành hành vi vi phạm mới hoặc thời khắc xong xuôi hành vi lẩn tránh, cản trở việc xử phạt.
Ngày xong xuôi hành vi lẩn tránh, cản trở việc xử phạt là ngày người vi phạm tự giác tới cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt trình báo và nhận tiến hành các bề ngoài xử phạt của người có thẩm quyền xử phạt. Người có thẩm quyền phải lập biên bản ghi nhận việc này và lưu 01 bản vào giấy má vi phạm, 01 bản ủy quyền người vi phạm.
2. Thời hạn truy thu thuế
Quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì người nộp thuế ko bị xử phạt nhưng mà vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế ăn lận, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước trong thời hạn 10 5 trở về trước, từ khi ngày phát hiện hành vi vi phạm.
Trường hợp, người nộp thuế ko đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế ăn lận, tiền chậm nộp tiền thuế cho toàn thể thời kì trở về trước, từ khi ngày phát hiện hành vi vi phạm. Ngày phát hiện hành vi vi phạm hành chính về thuế là ngày lập biên bản vi phạm hành chính về thuế.
3. Thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế
Tư nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, nếu trong thời hạn 06 tháng, từ khi ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 5, từ khi ngày chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính thuế theo bề ngoài phạt tiền (là ngày tiến hành xong các bổn phận, đề nghị ghi trong quyết định xử phạt hoặc từ ngày quyết định xử phạt được cưỡng chế thi hành) hoặc từ khi ngày hết thời hiệu thi hành hình định xử phạt nhưng mà ko tái phạm thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đấy.
Điều 5. Những trường hợp ko xử phạt vi phạm hành chính về thuế
1. Các trường hợp theo quy định tại Điều 11 Luật xử lý vi phạm hành chính.
2. Trường hợp khai sai, người nộp thuế đã khai bổ sung giấy má khai thuế và đã nộp đủ số tiền thuế phải nộp, trước thời khắc cơ thuế quan ban bố quyết định rà soát thuế, thanh tra thuế tại hội sở người nộp thuế hoặc trước thời khắc cơ thuế quan phát hiện ko qua thanh tra, rà soát tại hội sở người nộp thuế hoặc trước thời khắc cơ quan có thẩm quyền khác phát hiện.
Điều 6. Các bề ngoài xử phạt vi phạm hành chính về thuế
1. Phạt cảnh cáo
Phạt cảnh cáo vận dụng đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế ko nghiêm trọng, có cốt truyện giảm nhẹ và theo quy định vận dụng bề ngoài xử phạt cảnh cáo. Bề ngoài xử phạt cảnh cáo được quyết định bằng văn bản.
2. Phạt tiền
a) Đối với hành vi vi phạm về thủ tục thuế: Phạt theo số tiền tuyệt đối tối đa ko quá 200 triệu đồng đối với người nộp thuế là tổ chức có hành vi vi phạm về thủ tục thuế. Mức phạt tiền tối đa ko quá 100 triệu đồng đối với người nộp thuế là tư nhân có hành vi vi phạm về thủ tục thuế theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Mức phạt tiền quy định tại các Điều 7, 8, 9, 10 và Điều 11 Thông tư này là mức phạt tiền vận dụng đối với tổ chức. Mức phạt tiền đối với tư nhân bằng ½ mức phạt tiền đối với tổ chức. Đối với người nộp thuế là hộ gia đình thì vận dụng mức phạt tiền như đối với tư nhân.
Khi phạt tiền, mức tiền phạt chi tiết đối với 1 hành vi vi phạm về thủ tục thuế là mức trung bình của khung phạt tiền được quy định đối với hành vi đấy. Mức trung bình của khung phạt tiền được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tiền phạt tối thiểu cùng với mức tiền phạt tối đa của khung phạt tiền.
Khi xác định mức phạt tiền đối với người nộp thuế vi phạm vừa có cốt truyện tăng nặng, vừa có cốt truyện giảm nhẹ thì coi xét giảm trừ cốt truyện tăng nặng theo nguyên lý 1 cốt truyện giảm nhẹ được giảm trừ 1 cốt truyện tăng nặng. Sau lúc giảm trừ theo nguyên lý trên, nếu còn cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống, nhưng mà ko được giảm quá mức tối thiểu của khung phạt tiền, nếu còn cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt có thể nâng cao nhưng mà ko được vượt quá mức tối đa của khung phạt tiền. Đối với hành vi vi phạm về thủ tục thuế thì mỗi cốt truyện tăng nặng hoặc giảm nhẹ được tính tăng hoặc giảm 20% mức phạt trung bình của khung phạt tiền.
b) Đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn: Phạt 20% số tiền thuế thiếu, số tiền thuế được hoàn. Mức phạt tiền được vận dụng cho người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình và tư nhân theo quy định tại Điều 107 Luật điều hành thuế.
c) Đối với hành vi trốn thuế, ăn lận thuế: Phạt từ 1 tới 3 lần số tiền thuế trốn đối với hành vi trốn thuế, ăn lận thuế. Mức phạt tiền quy định tại Điều 13 Thông tư này là mức phạt tiền vận dụng đối với người nộp thuế là tổ chức, mức phạt tiền đối với người nộp thuế là hộ gia đình, tư nhân bằng ½ mức phạt tiền đối với tổ chức.
d) Phạt tiền tương ứng với số tiền ko trích vào acc của ngân sách nhà nước đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều 14 Thông tư này.
Chương II
HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ, HÌNH THỨC XỬ PHẠT VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ
Mục 1. XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI NỘP THUẾ
Điều 7. Xử phạt đối với hành vi chậm nộp giấy má đăng ký thuế, chậm công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế so với thời hạn quy định
1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi nộp giấy má đăng ký thuế hoặc công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ 01 ngày tới 10 ngày nhưng mà có cốt truyện giảm nhẹ.
2. Phạt tiền 700.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 400.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 1.000.000 đồng đối với hành vi nộp giấy má đăng ký thuế hoặc công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ 01 ngày tới 30 ngày (trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này).
3. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 800.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 2.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi sau đây:
a) Nộp giấy má đăng ký thuế hoặc công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế quá thời hạn quy định trên 30 ngày.
b) Không công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế.
c) Không nộp giấy má đăng ký thuế nhưng mà ko nảy sinh số thuế phải nộp.
Điều 8. Xử phạt đối với hành vi khai ko đầy đủ các nội dung trong giấy má thuế
1. Phạt tiền 700.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 400.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 1.000.000 đồng đối với hành vi lập giấy má khai thuế ghi thiếu, ghi sai các tiêu chí làm căn cứ xác định bổn phận thuế trên bảng kê hóa đơn, hàng hoá, dịch vụ sắm vào, bán ra hoặc trên các tài liệu khác liên can tới bổn phận thuế.
2. Phạt tiền 1.050.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 600.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 1.500.000 đồng đối với hành vi lập giấy má khai thuế ghi thiếu, ghi sai các tiêu chí làm căn cứ xác định bổn phận thuế trên hóa đơn, chứng từ khác liên can tới bổn phận thuế.
3. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 800.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 2.000.000 đồng đối với hành vi lập giấy má khai thuế ghi thiếu, ghi sai các tiêu chí làm căn cứ xác định bổn phận thuế trên tờ khai thuế, tờ khai quyết toán thuế.
4. Phạt tiền 2.100.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 1.200.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 3.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi sau đây:
a) Có hành vi vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều 12, Khoản 7 Điều 13 Thông tư này.
b) Có hành vi khai sai dẫn tới thiếu số thuế phải nộp theo giấy má khai thuế tạm tính theo quý nhưng mà chưa tới thời hạn nộp giấy má khai quyết toán thuế 5.
Điều 9. Xử phạt đối với hành vi chậm nộp giấy má khai thuế so với thời hạn quy định
1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi nộp giấy má khai thuế quá thời hạn quy định từ 01 ngày tới 05 ngày nhưng mà có cốt truyện giảm nhẹ.
2. Phạt tiền 700.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 400.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 1.000.000 đồng đối với hành vi nộp giấy má khai thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ 01 ngày tới 10 ngày (trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này).
3. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko dưới 800.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 2.000.000 đồng đối với hành vi nộp giấy má khai thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ trên 10 ngày tới 20 ngày.
4. Phạt tiền 2.100.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 1.200.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 3.000.000 đồng đối với hành vi nộp giấy má khai thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ trên 20 ngày tới 30 ngày.
5. Phạt tiền 2.800.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 1.600.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 4.000.000 đồng đối với hành vi nộp giấy má khai thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ trên 30 ngày tới 40 ngày.
6. Phạt tiền 3.500.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 2.000.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 5.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi sau đây:
a) Nộp giấy má khai thuế quá thời hạn quy định từ trên 40 ngày tới 90 ngày.
b) Nộp giấy má khai thuế quá thời hạn quy định trên 90 ngày nhưng mà ko nảy sinh số thuế phải nộp hoặc trường hợp quy định tại Khoản 9 Điều 13 Thông tư này.
c) Không nộp giấy má khai thuế nhưng mà ko nảy sinh số thuế phải nộp (trừ trường hợp lí luật có quy định không hề nộp giấy má khai thuế).
d) Nộp giấy má khai thuế tạm tính theo quý quá thời hạn quy định trên 90 ngày, từ khi ngày hết thời hạn nộp giấy má khai thuế nhưng mà chưa tới thời hạn nộp giấy má khai quyết toán thuế 5.
7. Thời hạn nộp giấy má quy định tại Điều này bao gồm cả thời kì được gia hạn nộp giấy má khai thuế theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
8. Không vận dụng các mức xử phạt quy định Điều này đối với trường hợp người nộp thuế chỉ cần khoảng được gia hạn thời hạn nộp giấy má khai thuế, gia hạn thời hạn nộp thuế.
9. Người nộp thuế chậm nộp giấy má khai thuế bị xử phạt theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 Điều này, nếu dẫn tới chậm nộp tiền thuế thì phải nộp tiền chậm nộp tiền thuế theo quy định tại Điều 106 Luật điều hành thuế và các văn bản quy định cụ thể thi hành Luật này.
Trường hợp chậm nộp giấy má khai thuế quá thời hạn quy định và cơ thuế quan đã ra quyết định ấn định số thuế phải nộp. Sau đấy trong thời hạn 90 ngày, từ khi ngày hết hạn nộp giấy má khai thuế, người nộp thuế nộp giấy má khai thuế hợp thức và xác định đúng số tiền thuế phải nộp của kỳ nộp thuế thì cơ thuế quan xử phạt hành vi chậm nộp giấy má khai thuế theo Khoản 1, 2, 3, 4, 5 và Khoản 6 Điều này và tính tiền chậm nộp tiền thuế theo quy định. Cơ thuế quan phải ra quyết định huỷ bỏ quyết định ấn định thuế.
Điều 10. Xử phạt đối với hành vi vi phạm các quy định về phân phối thông tin liên can tới xác định bổn phận thuế nhưng mà ko thuộc trường hợp xác định là khai thiếu thuế, trốn thuế, ăn lận về thuế
1. Phạt tiền 700.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 400.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 1.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi:
a) Cung cấp thông tin, tài liệu, giấy má pháp lý liên can tới đăng ký thuế theo công bố của cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ 05 ngày làm việc trở lên.
b) Cung cấp thông tin, tài liệu, sổ kế toán liên can tới việc xác định bổn phận thuế theo công bố của cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ 05 ngày làm việc trở lên.
c) Cung cấp lệch lạc về thông tin, tài liệu, sổ kế toán liên can tới việc xác định bổn phận thuế sau ngày hết hạn do cơ thuế quan công bố.
2. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 800.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 2.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi:
a) Cung cấp ko đầy đủ, ko chuẩn xác các thông tin, tài liệu, chứng từ, hóa đơn, sổ kế toán liên can tới việc xác định bổn phận thuế trong thời hạn kê khai thuế; số hiệu acc, số dư acc tiền gửi cho cơ quan có thẩm quyền lúc được đề nghị.
b) Không phân phối đầy đủ, đúng các tiêu chí, số liệu liên can tới bổn phận thuế thuộc diện phải đăng ký với cơ thuế quan theo cơ chế quy định, bị phát hiện nhưng mà ko làm giảm bổn phận thuế với ngân sách nhà nước.
c) Không phân phối; phân phối ko đầy đủ, ko chuẩn xác các thông tin, tài liệu liên can tới acc tiền gửi tại tổ chức tài chính, Kho bạc Nhà nước, công nợ bên thứ 3 có liên can trong thời hạn 03 ngày làm việc, từ khi ngày được cơ thuế quan đề nghị.
Điều 11. Xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về chấp hành hình định rà soát, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế
1. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 800.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 2.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi:
a) Khước từ nhận quyết định thanh tra, rà soát, quyết định cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế.
b) Không chấp hành hình định thanh tra, rà soát thuế quá thời hạn 03 ngày làm việc, từ khi ngày phải chấp hành hình định của cơ quan có thẩm quyền.
c) Khước từ, trì hoãn, lẩn tránh việc phân phối giấy má, tài liệu, hóa đơn, chứng từ, sổ kế toán liên can tới bổn phận thuế quá thời hạn 06 giờ làm việc, từ khi lúc thu được đề nghị của cơ quan có thẩm quyền, chỉ cần khoảng rà soát, thanh tra tại hội sở người nộp thuế.
d) Cung cấp ko chuẩn xác về thông tin, tài liệu, sổ kế toán liên can tới việc xác định bổn phận thuế theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền chỉ cần khoảng rà soát, thanh tra thuế tại hội sở người nộp thuế.
2. Phạt tiền 3.500.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 2.000.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 5.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi:
a) Không phân phối số liệu, tài liệu, sổ kế toán liên can tới việc xác định bổn phận thuế theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền chỉ cần khoảng rà soát, thanh tra thuế tại hội sở người nộp thuế.
b) Không tiến hành hoặc tiến hành ko đúng quyết định niêm phong giấy má tài liệu, két quỹ, kho hàng hoá, vật tư, vật liệu, máy móc, thiết bị, nhà xưởng làm căn cứ xác minh bổn phận thuế.
c) Tự tiện tháo bỏ, chỉnh sửa tín hiệu niêm phong do cơ quan thẩm quyền đã kiến lập hợp lí làm căn cứ xác minh bổn phận thuế.
d) Không ký vào biên bản rà soát, thanh tra trong thời hạn 05 ngày làm việc, từ khi ngày thu được biên bản rà soát, thanh tra.
đ) Không chấp hành kết luận rà soát, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế của cơ quan có thẩm quyền.
Điều 12. Xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn
1. Các trường hợp khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, bao gồm:
a) Hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, tăng số thuế được miễn, giảm nhưng mà người nộp thuế phát hiện và đã biên chép kịp thời, đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế làm nảy sinh bổn phận thuế trên sổ kế toán, hóa đơn, chứng tính từ lúc lập báo cáo nguồn vốn, quyết toán thuế.
b) Hành vi khai sai của người nộp thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm, người nộp thuế chưa điều chỉnh, biên chép đầy đủ vào sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ kê khai thuế, nhưng mà lúc bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện, người vi phạm đã tự giác nộp đủ số tiền thuế khai thiếu vào ngân sách nhà nước trước thời khắc cơ quan có thẩm quyền lập biên bản rà soát thuế, kết luận thanh tra thuế.
c) Hành vi khai sai của người nộp thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm đã bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản rà soát thuế, kết luận thanh tra thuế xác định là có hành vi khai man, trốn thuế, nhưng mà nếu người nộp thuế vi phạm lần đầu, có cốt truyện giảm nhẹ và đã tự giác nộp đủ số tiền thuế vào ngân sách nhà nước trước thời khắc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt thì cơ thuế quan lập biên bản ghi nhận để xử phạt theo mức phạt tiền đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.
d) Sử dụng hóa đơn, chứng từ trái phép để hạch toán trị giá hàng hoá, dịch vụ sắm vào làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm, nhưng mà lúc cơ thuế quan rà soát phát hiện, khách hàng có giấy má, tài liệu, chứng từ, hóa đơn chứng minh được lỗi vi phạm hóa đơn trái phép thuộc về bên bán hàng và khách hàng đã hạch toán kế toán đầy đủ theo quy định.
2. Mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này là 20% tính trên số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm cao hơn so với mức quy định của luật pháp về thuế.
3. Trường hợp vi phạm theo quy định tại Khoản 1 Điều này ngoài việc bị xử phạt theo quy định tại Khoản 2 Điều này còn bị vận dụng giải pháp giải quyết hậu quả là nộp đủ số tiền thuế nợ, số tiền thuế thiếu, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước.
Cơ thuế quan xác định số tiền thuế thiếu, số ngày chậm nộp tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế; số tiền phạt và ra quyết định xử phạt đối với người nộp thuế.
Cơ thuế quan căn cứ ngày nộp tiền vào ngân sách nhà nước ghi trên chứng từ nộp tiền vào ngân sách nhà nước hoặc chứng từ chuyển khoản có công nhận của ngân khố nhà nước hoặc tổ chức tài chính để xác định việc người nộp thuế đã nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước và số ngày chậm nộp tiền thuế để làm căn cứ xác định số tiền chậm nộp tiền thuế.
4. Trường hợp, người nộp thuế có hành vi khai sai quy định tại Khoản 1 Điều này nhưng mà ko dẫn tới thiếu số thuế phải nộp hoặc chưa được hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế thì ko bị xử phạt theo quy định tại Điều này nhưng mà bị xử phạt theo quy định tại Khoản 4 Điều 8 Thông tư này.
Điều 13. Xử phạt đối với hành vi trốn thuế, ăn lận thuế
Người nộp thuế có hành vi trốn thuế, ăn lận thuế theo quy định của luật pháp bị xử phạt theo số lần tính trên số tiền thuế trốn, số tiền thuế ăn lận như sau:
1. Phạt tiền 1 lần tính trên số thuế trốn, số thuế ăn lận đối với người nộp thuế vi phạm lần đầu (trừ các trường hợp bị xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu thuế tại Khoản 1 Điều 12 Thông tư này) hoặc vi phạm lần thứ 2 nhưng mà có từ 2 cốt truyện giảm nhẹ trở lên lúc có 1 trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Không nộp giấy má đăng ký thuế; ko nộp giấy má khai thuế hoặc nộp giấy má khai thuế sau 90 ngày, từ khi ngày hết thời hạn nộp giấy má khai thuế theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 32 Luật điều hành thuế hoặc từ khi ngày hết thời hạn gia hạn nộp giấy má khai thuế theo quy định tại Điều 33 của Luật điều hành thuế, trừ trường hợp quy định tại Khoản 6 Điều 9 Thông tư này và Khoản 9 Điều này.
b) Sử dụng hóa đơn, chứng từ ko hợp lí; sử dụng trái phép hóa đơn, chứng từ; hóa đơn ko có trị giá sử dụng để kê khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.
c) Lập thủ tục, giấy má hủy vật tư, hàng hóa hoặc giảm số lượng, trị giá vật tư, hàng hóa ko đúng thực tiễn làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, được miễn, giảm.
d) Lập hóa đơn sai về số lượng, trị giá hàng hoá, dịch vụ bán ra làm căn cứ kê khai nộp thuế thấp hơn thực tiễn.
đ) Không biên chép trong sổ kế toán các khoản thu liên can tới việc xác định số tiền thuế phải nộp; ko kê khai, kê khai sai, ko thật thà làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm.
e) Không xuất hóa đơn lúc bán hàng hoá, dịch vụ hoặc ghi trị giá trên hóa đơn bán hàng thấp hơn trị giá trả tiền thực tiễn của hàng hoá, dịch vụ đã bán và bị phát hiện sau thời hạn nộp giấy má khai thuế của kỳ tính thuế.
g) Sử dụng hàng hóa được miễn thuế, xét miễn thuế (bao gồm cả ko chịu thuế) ko đúng với mục tiêu quy định nhưng mà ko khai báo việc biến đổi mục tiêu sử dụng, khai thuế với cơ thuế quan.
h) Tu sửa, tẩy xoá chứng từ kế toán, sổ kế toán làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.
i) Hủy bỏ chứng từ kế toán, sổ kế toán làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.
k) Sử dụng hóa đơn, chứng từ, tài liệu ko hợp lí trong các trường hợp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn; khai sai căn cứ tính thuế nảy sinh số thuế trốn, số thuế ăn lận.
l) Người nộp thuế đang chỉ cần khoảng xin tạm dừng kinh doanh nhưng mà thực tiễn vẫn kinh doanh.
m) Hàng hóa chuyên chở trên đường ko có hóa đơn, chứng từ hợp lí.
2. Phạt tiền 1,5 lần tính trên số thuế trốn đối với người nộp thuế lúc có 1 trong các hành vi trốn thuế, ăn lận thuế quy định tại Khoản 1 Điều này trong các trường hợp: vi phạm lần đầu, có cốt truyện tăng nặng hoặc vi phạm lần thứ 2, có 1 cốt truyện giảm nhẹ.
3. Phạt tiền 2 lần tính trên số thuế trốn đối với người nộp thuế lúc có 1 trong các hành vi trốn thuế, ăn lận thuế quy định tại Khoản 1 Điều này trong các trường hợp: vi phạm lần thứ 2 nhưng mà ko có cốt truyện giảm nhẹ hoặc vi phạm lần thứ 3 và có 1 cốt truyện giảm nhẹ.
4. Phạt tiền 2,5 lần tính trên số thuế trốn đối với người nộp thuế lúc có 1 trong các hành vi trốn thuế, ăn lận thuế quy định tại Khoản 1 Điều này trong các trường hợp: vi phạm lần thứ 2 nhưng mà có 1 cốt truyện tăng nặng hoặc vi phạm lần thứ 3 nhưng mà ko có cốt truyện giảm nhẹ.
5. Phạt tiền 3 lần tính trên số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế lúc có 1 trong các hành vi trốn thuế, ăn lận thuế quy định tại Khoản 1 Điều này trong các trường hợp: vi phạm lần thứ 2 nhưng mà có từ 2 cốt truyện tăng nặng trở lên hoặc vi phạm lần thứ 3 có cốt truyện tăng nặng hoặc vi phạm từ lần thứ tư trở đi.
6. Các hành vi trốn thuế, ăn lận thuế bị xử phạt quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này còn bị buộc vận dụng giải pháp giải quyết hậu quả là nộp đủ số tiền thuế trốn, ăn lận vào ngân sách nhà nước.
Số tiền thuế trốn, ăn lận theo quy định tại Điều này là số tiền thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của luật pháp nhưng mà người nộp thuế bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện và xác định trong biên bản, kết luận rà soát, thanh tra.
7. Các hành vi vi phạm quy định tại các điểm b, c, d, đ, e, g, h, i, k, Khoản 1 Điều này bị phát hiện trong thời hạn nộp giấy má khai thuế của kỳ tính thuế hoặc bị phát hiện sau thời hạn nộp giấy má khai thuế, nhưng mà ko làm giảm số thuế phải nộp hoặc chưa được hoàn, ko làm tăng số thuế miễn, giảm và ko thuộc trường hợp bị xử phạt đối với hành vi trốn thuế thì bị xử phạt về hành vi vi phạm về thủ tục thuế theo quy định tại Khoản 4 Điều 8 hoặc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán.
8. Trường hợp người nộp thuế đang thuộc diện được miễn thuế, được hoàn thuế theo quy định của luật pháp, kê khai ko đúng căn cứ xác định số thuế được miễn, số thuế được hoàn nhưng mà ko làm thiệt hại tới số thuế của ngân sách nhà nước thì ko bị xử phạt đối với hành vi trốn thuế nhưng mà xử phạt về hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định ở Điều 8 Thông tư này với mức phạt cao nhất.
9. Trường hợp, người nộp thuế nộp giấy má khai thuế sau 90 ngày, từ khi ngày hết thời hạn nộp giấy má khai thuế, đã tự giác nộp đầy đủ số tiền thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước trước thời khắc cơ thuế quan lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi chậm nộp giấy má khai thuế thì bị xử phạt về hành vi chậm nộp giấy má khai thuế quy định Khoản 6, Điều 9 Thông tư này. Trường hợp, người nộp thuế đã nộp giấy má khai thuế nhưng mà khai sai, ăn lận thuế dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp, ăn lận, trốn thuế thì ngoài việc bị xử phạt về thủ tục thuế còn bị xử phạt về khai thiếu thuế hoặc trốn thuế theo quy định tại Điều 12, Điều 13 Thông tư này.
10. Trường hợp người nộp thuế nộp thuế theo cách thức kê khai đang trong thời hạn hưởng giảm giá miễn thuế thu nhập công ty bị phát hiện có hành vi vi phạm như khai sai làm tăng khống chi tiêu để tăng số lỗ, để giảm lãi; giảm chi tiêu để tăng lãi và xác định ko đúng các điều kiện để thừa hưởng miễn thuế thu nhập công ty thì:
a) Nếu vi phạm được rà soát phát hiện ngay chỉ cần khoảng đang được giảm giá miễn thuế thu nhập công ty thì ko xử phạt về hành vi trốn thuế nhưng mà tiến hành xử phạt vi phạm về thủ tục thuế hoặc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán;
b) Nếu vi phạm chưa được rà soát phát hiện nhưng mà tư nhân, tổ chức ko tự điều chỉnh hậu quả làm giảm số thuế thu nhập công ty của 5 tiếp sau lúc hết thời hạn được miễn thuế thu nhập công ty thì bị xử phạt về hành vi trốn thuế.
Mục 2. XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ ĐỐI VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KHÁC CÓ LIÊN QUAN
Điều 14. Xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức tài chính
1. Tổ chức tài chính ko tiến hành nghĩa vụ trích chuyển tiền từ acc của người nộp thuế vào acc của ngân sách nhà nước đối với số tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt phải nộp của người nộp thuế theo quyết định cưỡng chế của cơ thuế quan thì bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế trong trường hợp: tại thời khắc đấy, acc của người nộp thuế có số dư nhưng mà người nộp thuế phải nộp theo quyết định cưỡng chế của cơ thuế quan.
Trong thời hạn 10 ngày, từ khi ngày hết hạn trích tiền từ acc của người nộp thuế mở tại tổ chức tài chính, cơ thuế quan phải lập biên bản vi phạm hành chính về thuế và ra quyết định xử phạt đối với tổ chức tài chính. Mức xử phạt tương ứng số tiền ko trích chuyển vào acc của ngân sách nhà nước theo quyết định cưỡng chế. Trường hợp này, cơ thuế quan vẫn phải vận dụng các giải pháp nhằm thu đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt đối với người nộp thuế còn nợ.
2. Tổ chức tài chính ko bị xử phạt trong trường hợp tại thời khắc đấy, acc tiền gửi của người nộp thuế ko còn số dư hoặc đã trích chuyển toàn thể số dư acc của người nộp thuế vào acc của ngân sách nhà nước nhưng mà vẫn ko đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt nhưng mà người nộp thuế phải nộp.
Khi thu được quyết định cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế tổ chức tài chính phải lập văn bản công nhận về số dư acc tiền gửi của nhân vật bị cưỡng chế hoặc ko còn số dư tiền gửi và gửi cơ thuế quan ra quyết định cưỡng chế biết trong thời hạn 03 ngày, từ khi ngày thu được quyết định cưỡng chế của cơ thuế quan.
Điều 15. Xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với tổ chức, tư nhân khác có liên can
1. Tổ chức, tư nhân liên can có hành vi thông lưng, bao che người nộp thuế trốn thuế, ăn lận thuế, ko tiến hành quyết định cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế (trừ hành vi ko trích chuyển tiền từ acc của người nộp thuế quy định tại Điều 14 Thông tư này) thì tuỳ theo thuộc tính, chừng độ vi phạm nhưng mà bị phạt tiền, chi tiết như sau:
a) Phạt tiền 3.750.000 đồng đối với tư nhân, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức phạt tiền tối thiểu ko thấp hơn 2.500.000 đồng, nếu có cốt truyện tăng nặng thì mức phạt tiền tối đa ko vượt quá 5.000.000 đồng;
b) Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với tổ chức, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức phạt tiền tối thiểu ko thấp hơn 5.000.000 đồng, nếu có cốt truyện tăng nặng thì mức phạt tiền tối đa ko vượt quá 10.000.000 đồng.
2. Tổ chức, tư nhân ko phân phối hoặc phân phối ko chuẩn xác thông tin liên can tới bổn phận thuế của người nộp thuế; acc của nhân vật nợ thuế tại tổ chức tài chính, ngân khố nhà nước theo quy định của Luật điều hành thuế thì bị xử phạt theo quy định tại Khoản 1 Điều này.
3. Bên bảo lãnh việc tiến hành bổn phận thuế phải nộp thay tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt (nếu có) cho người nộp thuế theo nội dung cam kết tại văn bản bảo lãnh trong trường hợp người nộp thuế ko nộp các khoản nêu trên vào acc của ngân sách nhà nước.
Căn cứ giấy má bảo lãnh nộp thuế, cơ thuế quan công bố số tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt (nếu có), thời hạn nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp cho bên bảo lãnh biết để tiến hành nộp vào ngân sách nhà nước thay cho người được bảo lãnh.
Trường hợp, tới thời hạn nộp tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt nhưng mà người nộp thuế ko tiến hành nộp tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt (nếu có) vào ngân sách nhà nước, bên bảo lãnh chưa nộp thay tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt (nếu có) cho người nộp thuế theo cam kết tại văn bản bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải thanh toán chậm nộp theo mức 0,07%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp, 0,05%/ngày tính trên số tiền phạt chậm nộp và bị cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế theo quy định của luật pháp.
Chương III
THẨM QUYỀN XỬ PHẠT; THỦ TỤC XỬ PHẠT VÀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ
Mục 1. THẨM QUYỀN XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ
Điều 16. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế
1. Công chức thuế đang thi hành công vụ có quyền:
a) Phạt cảnh cáo.
b) Phạt tiền tới 1.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định tại Thông tư này.
2. Đội trưởng Đội Thuế trong khuôn khổ công dụng, nhiệm vụ có quyền:
a) Phạt cảnh cáo.
b) Phạt tiền tới 5.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định tại Thông tư này.
3. Chi cục trưởng Chi cục Thuế trong khuôn khổ địa bàn điều hành của mình có quyền:
a) Phạt cảnh cáo.
b) Phạt tiền tới 50.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11 và Điều 15 Thông tư này.
c) Phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định tại các Điều 12, Điều 13 và Điều 14 Thông tư này.
d) Vận dụng giải pháp giải quyết hậu quả quy định tại Khoản 3 Điều 12, Khoản 6 Điều 13 Thông tư này.
4. Cục trưởng Cục Thuế trong khuôn khổ địa bàn điều hành của mình có quyền:
a) Phạt cảnh cáo.
b) Phạt tiền tới 140.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11 và Điều 15 Thông tư này.
c) Phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định tại các Điều 12, Điều 13 và Điều 14 Thông tư này.
d) Vận dụng giải pháp giải quyết hậu quả quy định tại Khoản 3 Điều 12, Khoản 6 Điều 13 Thông tư này.
5. Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế có quyền:
a) Phạt cảnh cáo.
b) Phạt tiền tới 200.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11 và Điều 15 Thông tư này.
c) Phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định tại các Điều 12, Điều 13 và Điều 14 Thông tư này.
d) Vận dụng giải pháp giải quyết hậu quả quy định tại Khoản 3 Điều 12, Khoản 6 Điều 13 Thông tư này.
6. Thẩm quyền xử phạt vi phạm về thủ tục thuế của những người được quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này vận dụng đối với 1 hành vi vi phạm của tổ chức; Trường hợp phạt tiền đối với tư nhân có hành vi vi phạm về thủ tục thuế thì thẩm quyền xử phạt đối với tư nhân bằng ½ thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức. Thẩm quyền xử phạt vi phạm đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế miễn, giảm; hành vi trốn thuế, ăn lận thuế quy định tại Điểm c Khoản 3, Điểm c Khoản 4, Điểm c Khoản 5 Điều này vận dụng cho tư nhân và tổ chức vi phạm theo quy định tại Khoản 2 Điều 109 Luật điều hành thuế.
Điều 17. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế của Chủ tịch Ủy ban quần chúng các đơn vị quản lý
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế của Chủ tịch ủy ban quần chúng các đơn vị quản lý được tiến hành theo quy định của luật pháp về xử lý vi phạm hành chính.
Điều 18. Giao quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế
1. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế quy định tại Khoản 2, 3, 4, 5 Điều 16 Thông tư này có thể giao quyền cho cấp phó tiến hành thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế.
2. Việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế được tiến hành thường xuyên hoặc theo vụ việc và phải được trình bày bằng văn bản (quyết định), trong đấy xác định rõ khuôn khổ, nội dung, thời hạn giao quyền.
Quyết định giao quyền phải đánh số, ghi rõ ngày, tháng, 5, ký và đóng dấu; Trường hợp, Đội trưởng Đội Thuế giao quyền cho cấp phó xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì Quyết định giao quyền đóng dấu treo của Chi cục Thuế nơi người có thẩm quyền xử phạt giao quyền.
Căn cứ pháp lý để ban hành hình định xử phạt vi phạm hành chính về thuế của cấp phó được giao quyền phải trình bày rõ số, ngày, tháng, 5, trích yếu quyết định giao quyền.
3. Cấp phó được giao quyền tiến hành xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải chịu nghĩa vụ về quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế của mình trước cấp trưởng và trước luật pháp. Người được giao quyền ko được giao quyền, giao cho cho bất cứ ai khác.
Mục 2. THỦ TỤC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ
Điều 19. Buộc xong xuôi hành vi vi phạm hành chính về thuế
Công chức thuế đang thi hành công vụ phát hiện tổ chức, tư nhân đang tiến hành hành vi vi phạm hành chính về thuế thì buộc tổ chức, tư nhân đấy xong xuôi hành vi vi phạm hành chính về thuế.
Buộc xong xuôi hành vi vi phạm hành chính về thuế được tiến hành bằng lời nói, văn bản hoặc bề ngoài khác theo quy định của luật pháp.
Điều 20. Xử phạt vi phạm hành chính về thuế ko lập biên bản
1. Xử phạt vi phạm hành chính về thuế ko lập biên bản được vận dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền tới 250.000 đồng đối với tư nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt tại chỗ.
2. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế tại chỗ phải ghi rõ: ngày, tháng, 5 ra quyết định; họ, tên, chức phận của người ra quyết định xử phạt; họ, tên, địa chỉ của tư nhân vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm; vị trí xảy ra vi phạm; bằng chứng và cốt truyện liên can tới việc khắc phục vi phạm; điều, khoản của văn bản luật pháp được vận dụng. Trường hợp, phạt tiền thì ghi rõ mức tiền phạt trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế.
Điều 21. Xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản
1. Xử phạt vi phạm hành chính về thuế có lập biên bản được vận dụng đối với tư nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính về thuế, trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 20 Thông tư này.
2. Trường hợp, người nộp thuế có hành vi vi phạm hành chính về thuế đã được cơ thuế quan rà soát, thanh tra phát hiện, ghi nhận vào biên bản rà soát, thanh tra, kết luận thanh tra thì không hề lập biên bản trước lúc ban hành hình định xử phạt vi phạm hành chính. Người có thẩm quyền xử phạt căn cứ biên bản thanh tra, rà soát, kết luận thanh tra thuế để ra quyết định xử phạt.
3. Việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế có lập biên bản phải được người có thẩm quyền xử phạt lập thành giấy má xử phạt vi phạm hành chính. Giấy tờ bao gồm biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt hành chính, các tài liệu, giấy má có liên can và phải được đánh bút lục.
Điều 22. Lập biên bản vi phạm hành chính về thuế
1. Người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm hành chính về thuế có nghĩa vụ lập biên bản theo đúng mẫu quy định (trừ trường hợp xử phạt không hề lập biên bản theo quy định tại Điều 20 Thông tư này) và chuyển kịp thời đến người có thẩm quyền xử phạt.
Trường hợp tư nhân, tổ chức tiến hành nhiều hành vi vi phạm hành chính về thuế trong cùng 1 vụ việc hoặc vi phạm nhiều lần thì biên bản xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải trình bày đầy đủ các hành vi vi phạm hoặc số lần vi phạm.
2. Biên bản vi phạm hành chính về thuế phải ghi rõ ngày, tháng, 5, vị trí lập biên bản; họ, tên, chức phận người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; giờ, ngày, tháng, 5, vị trí xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm hành chính về thuế; lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc người đại diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ, lời khai của họ; quyền và thời hạn giải trình về vi phạm hành chính của người vi phạm; cơ quan tiếp thu giải trình.
3. Biên bản phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; trường hợp người vi phạm ko ký được thì lăn tay; nếu có người chứng kiến thì họ cùng phải ký vào biên bản; trong trường hợp biên bản gồm nhiều tờ thì người lập biên bản phải ký vào từng tờ biên bản. Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm ko có mặt tại nơi vi phạm hoặc ko ký vào biên bản vi phạm hành chính về thuế hoặc vì lý do khách quan nhưng mà ko ký vào biên bản thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở (đại diện có thẩm quyền của ủy ban quần chúng cấp xã hoặc đại diện theo giao cho của ủy ban quần chúng cấp xã) nơi xảy ra vi phạm hoặc của 2 người chứng kiến. Trường hợp tư nhân, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến khước từ ký biên bản thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản.
Biên bản vi phạm hành chính về thuế phải được lập chí ít thành 02 bản. 01 bản ủy quyền tư nhân hoặc tổ chức vi phạm hành chính về thuế; 01 bản làm căn cứ để ra quyết định xử phạt. Trường hợp, vi phạm hành chính về thuế ko thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản phải được chuyển ngay tới người có thẩm quyền xử phạt để thực hiện xử phạt.
Điều 23. Gicửa ải trình của tổ chức, tư nhân vi phạm hành chính về thuế
1. Đối với tổ chức, tư nhân có hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn bị xử phạt theo tỉ lệ % (%) quy định tại Điều 107 Luật điều hành thuế; hành vi trốn thuế bị xử phạt theo số lần thuế trốn theo quy định tại Điều 108 Luật điều hành thuế; hành vi ko trích chuyển tiền trong acc của người nộp thuế theo đề nghị của cơ thuế quan quy định tại Điều 114 Luật điều hành thuế bị lập biên bản vi phạm hành chính về thuế thì tổ chức, tư nhân vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế.
2. Người có thẩm quyền xử phạt có nghĩa vụ coi xét quan điểm giải trình của tư nhân, tổ chức vi phạm trước lúc ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp tư nhân, tổ chức ko có đề nghị giải trình trong thời hạn quy định tại Khoản 3 Điều này.
3. Thời hạn, thủ tục giải trình vi phạm hành chính về thuế
a) Đối với trường hợp giải trình bằng văn bản: tổ chức, tư nhân vi phạm hành chính thuế phải gửi văn bản giải trình cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuế trong thời hạn ko quá 05 ngày, từ khi ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Trường hợp vụ việc có nhiều cốt truyện phức tạp thì người có thẩm quyền xử phạt có thể gia hạn thêm ko quá 05 ngày theo yêu cầu của tổ chức, tư nhân vi phạm. Trường hợp, người có thẩm quyền xử phạt đồng ý gia hạn giải trình cho tổ chức, tư nhân vi phạm thì phải trình bày bằng văn bản.
Tư nhân, tổ chức vi phạm hành chính về thuế tự mình hoặc giao cho cho người đại diện hợp lí của mình tiến hành giải trình bằng văn bản.
b) Đối với trường hợp giải trình trực tiếp: tư nhân, tổ chức vi phạm hành chính thuế phải gửi văn bản đề nghị được giải trình trực tiếp tới người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế trong thời hạn 02 ngày làm việc, từ khi ngày lập biên bản vi phạm hành chính về thuế.
Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải công bố bằng văn bản cho người vi phạm về thời kì và vị trí tổ chức phiên giải trình trực tiếp trong thời hạn 05 ngày, từ khi ngày thu được đề nghị của người vi phạm.
Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế tổ chức phiên giải trình trực tiếp và có nghĩa vụ nêu căn cứ pháp lý và cốt truyện, bằng chứng liên can tới hành vi vi phạm hành chính, bề ngoài xử phạt, giải pháp giải quyết hậu quả dự định vận dụng đối với hành vi vi phạm của người vi phạm. Tư nhân, tổ chức vi phạm hành chính về thuế, người đại diện hợp lí của họ có quyền tham dự phiên giải trình và đưa ra quan điểm, bằng chứng để bảo vệ quyền và ích lợi hợp lí của mình.
Việc giải trình trực tiếp được lập thành biên bản và phải có chữ ký của các đối tác liên can; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ thì các đối tác phải ký vào từng tờ biên bản. Biên bản này phải được lưu trong giấy má xử phạt vi phạm hành chính về thuế và ủy quyền tư nhân, tổ chức vi phạm hoặc người đại diện hợp lí của họ 01 bản.
Điều 24. Chuyển giấy má vụ vi phạm luật pháp về thuế có tín hiệu phạm nhân để truy cứu nghĩa vụ hình sự
1. Trong giai đoạn xử phạt vi phạm hành chính về thuế, nếu xét thấy tổ chức, tư nhân vi phạm luật pháp về thuế có tín hiệu phạm nhân, thì người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển ngay giấy má cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự.
2. Trường hợp, người có thẩm quyền xử phạt đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, đang chỉ cần khoảng thi hành hình định xử phạt, nếu hành vi vi phạm được phát hiện có tín hiệu phạm nhân nhưng mà chưa hết thời hiệu truy cứu nghĩa vụ hình sự, thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành hình định đấy và trong thời hạn 03 ngày, từ khi ngày ra quyết định tạm đình chỉ phải chuyển giấy má xử lý vi phạm cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự có thẩm quyền để xử lý; trường hợp đã thi hành xong quyết định xử phạt thì người có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải chuyển giấy má vụ vi phạm cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự để xử lý.
Giấy tờ chuyển giao bao gồm: quyết định chuyển giấy má cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự xử lý; bản sao biên bản về hành vi vi phạm hành chính về thuế hoặc biên bản rà soát, thanh tra thuế; bản sao kết quả nhận định, xác minh (nếu có); bản sao tài liệu khác có liên can; bản sao quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế (nếu có); quyết định tạm đình chỉ thi hành hình định xử phạt đối với trường hợp chưa thi hành hình định xử phạt. Việc chuyển giao giấy má phải được lập thành biên bản.
3. Theo quy định tại Điều 62 Luật xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan thực hiện tố tụng hình sự đã nhận giấy má vụ việc theo Khoản 1, 2 Điều này có nghĩa vụ coi xét, kết luận vụ việc và công bố kết quả khắc phục bằng văn bản cho người có thẩm quyền đã chuyển giấy má trong thời hạn theo quy định của luật pháp tố tụng hình sự; trường hợp ko khởi tố vụ án hình sự thì trong thời hạn 03 ngày, từ khi ngày có quyết định ko khởi tố vụ án hình sự, cơ quan thực hiện tố tụng phải trả giấy má vụ việc cho người có thẩm quyền xử phạt đã chuyển giấy má tới.
Trường hợp cơ quan thực hiện tố tụng hình sự có quyết định khởi tố vụ án thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuế phải hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính thuế và chuyển tài liệu về việc thi hành hình định xử phạt cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự.
4. Việc chuyển giấy má vụ vi phạm có tín hiệu phạm nhân để truy cứu nghĩa vụ hình sự phải được công bố cho tư nhân vi phạm.
5. Trường hợp người có thẩm quyền xử phạt đã chuyển giấy má cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự, nhưng mà quá thời hạn 03 ngày, từ khi ngày hết hạn ra quyết định khởi tố hoặc ra quyết định ko khởi tố vụ án hình sự theo quy định của luật pháp về luật tố tụng hình sự nhưng mà người có thẩm quyền xử phạt chưa thu được công bố của cơ quan thực hiện tố tụng về việc khởi tố hoặc ko khởi tố vụ án hình sự thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế, có văn bản yêu cầu cơ quan thực hiện tố tụng hình sự đã nhận giấy má, chuyển trả lại giấy má vụ vi phạm để người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế hoặc tiếp diễn thi hành hình định xử phạt đối với trường hợp lúc chuyển giấy má người có thẩm quyền xử phạt đã ban hành hình định tạm đình chỉ thi hành hình định xử phạt.
………………..
Mời bài các bạn cùng tham khảo nội dung cụ thể của thông tư tại file dưới đây!

TagsXử phạt vi phạm Hành chính

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Thông #tư #1662013TTBTC

Thông tư 166/2013/TT-BTC

Vào ngày 15/11/2013, Bộ Nguồn vốn đã ban hành Thông tư 166/2013/TT-BTC về quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính về thuế. Hiệu lực của văn bản luật pháp này sẽ được kể từ ngày 01/01/2014. Sau đây là nội dung cụ thể của thông tư này, xin mời các bạn cùng tham khảo.

BỘ TÀI CHÍNH——–

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc —————

Số: 166/2013/TT-BTC

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 5 2013

THÔNG TƯ 166/2013/TT-BTC
QUY ĐỊNH CHI TIẾT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ
Căn cứ Luật điều hành thuế ngày 29 tháng 11 5 2006;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Luật điều hành thuế ngày 20 tháng 11 5 2012;
Căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 5 2012;
Căn cứ Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 5 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế;
Căn cứ Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 5 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điều hành giá, phí, lệ phí, hóa đơn;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 5 2008 của Chính phủ quy định công dụng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nguồn vốn;
Theo yêu cầu của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế,
Bộ trưởng Bộ Nguồn vốn ban hành Thông tư quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính về thuế.
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, nhân vật bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế
1. Thông tư này quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định của Luật điều hành thuế, Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 5 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế.
2. Tư nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính về thuế (sau đây gọi chung là người vi phạm), ko phân biệt cố ý hoặc vô ý đều bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định của Luật điều hành thuế, Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Luật điều hành thuế (sau đây gọi là Luật điều hành thuế), Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 5 2013 của Chính phủ nêu trên và quy định tại Thông tư này. Nhân vật bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế gồm:
a) Người nộp thuế có hành vi vi phạm hành chính về thuế.
b) Tổ chức tài chính theo quy định của Luật các tổ chức tài chính (sau đây gọi là tổ chức tài chính) có hành vi vi phạm hành chính về thuế.
c) Tổ chức, tư nhân khác có liên can.
3. Các hành vi vi phạm hành chính về thuế, bao gồm:
a) Hành vi vi phạm hành chính về thuế của người nộp thuế:
Hành vi vi phạm quy định về thủ tục thuế: hành vi chậm nộp giấy má đăng ký thuế, chậm công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế so với thời hạn quy định; hành vi khai ko đầy đủ các nội dung trong giấy má khai thuế; hành vi chậm nộp giấy má khai thuế so với thời hạn quy định; hành vi vi phạm các quy định về phân phối thông tin liên can tới xác định bổn phận thuế; hành vi vi phạm trong việc chấp hành hình định rà soát, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế.
Hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn.
Hành vi trốn thuế, ăn lận thuế.
b) Hành vi vi phạm hành chính về thuế của tổ chức tài chính và tổ chức, tư nhân khác có liên can:
Hành vi thông lưng, bao che người nộp thuế trốn thuế, ăn lận thuế;
Hành vi ko tiến hành quyết định cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế;
Hành vi ko phân phối hoặc phân phối ko chuẩn xác thông tin liên can tới xác định bổn phận thuế của người nộp thuế; acc của người nộp thuế nợ thuế tại tổ chức tài chính, ngân khố nhà nước theo quy định của Luật điều hành thuế.
Điều 2. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính về thuế
1. Mọi hành vi vi phạm hành chính về thuế được phát hiện, chặn đứng kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh. Mọi hậu quả do vi phạm hành chính về thuế gây ra phải được giải quyết theo đúng quy định của luật pháp.
2. Việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế được thực hiện mau chóng, kịp thời, công khai, sáng tỏ, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bình, đúng quy định của luật pháp.
3. Việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải căn cứ vào thuộc tính, chừng độ, hậu quả vi phạm, nhân vật vi phạm và cốt truyện giảm nhẹ, cốt truyện tăng nặng.
4. Tư nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế lúc có hành vi vi phạm hành chính về thuế do luật pháp quy định.
5. 1 hành vi vi phạm hành chính về thuế chỉ bị xử phạt 1 lần, chi tiết:
a) 1 hành vi vi phạm hành chính về thuế đã được người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt hoặc đã lập biên bản để xử phạt thì ko được ra quyết định xử phạt lần thứ 2 đối với hành vi đấy. Trường hợp, hành vi vi phạm vẫn tiếp diễn được tiến hành mặc dầu đã bị người có thẩm quyền đang thi hành công vụ buộc xong xuôi hành vi vi phạm thì vận dụng bề ngoài xử phạt với cốt truyện tăng nặng theo Khoản 1 Điều 3 Thông tư này.
Trường hợp, người nộp thuế bị ấn định thuế thì tuỳ theo thuộc tính, chừng độ vi phạm bị xử phạt theo quy định tại Thông tư này.
b) Trường hợp hành vi vi phạm hành chính về thuế có tín hiệu phạm nhân đã chuyển giấy má yêu cầu truy cứu nghĩa vụ hình sự, cơ quan thực hiện tố tụng hình sự đã có quyết định khởi tố vụ án nhưng mà trước đấy người có thẩm quyền xử phạt đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì người đã ra quyết định xử phạt phải ra quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt; nếu chưa ra quyết định xử phạt thì ko xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với hành vi đấy.
c) Nhiều người cùng tiến hành 1 hành vi vi phạm hành chính về thuế thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi đấy.
Trường hợp tư nhân, tổ chức giao cho cho tổ chức kê khai thuế, quyết toán thuế, căn cứ vào nội dung giao cho nếu hành vi vi phạm thuộc nghĩa vụ của tổ chức được giao cho thì tuỳ theo chừng độ vi phạm của tổ chức được giao cho bị xử phạt theo Thông tư này.
d) 1 người tiến hành nhiều hành vi vi phạm hành chính về thuế hoặc vi phạm hành chính về thuế nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm.
Trường hợp trong cùng 1 thời khắc người nộp thuế chậm nộp nhiều giấy má khai thuế của nhiều loại thuế không giống nhau thì người nộp thuế bị xử phạt về từng hành vi chậm nộp giấy má khai thuế đối với từng sắc thuế;
Trường hợp, cùng thời khắc người nộp thuế chậm nộp nhiều giấy má khai thuế của nhiều kỳ tính thuế nhưng mà cùng 1 sắc thuế thì: hành vi chậm nộp giấy má khai thuế thuộc trường hợp xử phạt về thủ tục thuế chỉ bị xử phạt về 1 hành vi vi phạm thủ tục thuế với cốt truyện tăng nặng vi phạm nhiều lần; trường hợp có giấy má khai thuế chậm nộp quá 90 ngày thuộc trường hợp xử phạt về hành vi trốn thuế thì bị xử phạt về hành vi trốn thuế theo quy định tại Điều 13 Thông tư này.
6. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế có nghĩa vụ chứng minh hành vi vi phạm hành chính về thuế của tư nhân, tổ chức. Tư nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc phê chuẩn người đại diện hợp lí chứng minh mình ko vi phạm hành chính về thuế.
7. Đối với cùng 1 hành vi vi phạm hành chính về thuế thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với tư nhân, trừ mức phạt tiền đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn quy định tại Điều 107 Luật điều hành thuế.
Điều 3. Cốt truyện giảm nhẹ, cốt truyện tăng nặng
Cốt truyện giảm nhẹ, cốt truyện tăng nặng tiến hành theo quy định tại Điều 9, Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Điều 4. Thời hiệu xử phạt, thời hạn truy thu thuế và thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế
1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế
a) Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế thì thời hiệu xử phạt là 02 5, từ khi ngày hành vi vi phạm được tiến hành tới ngày ra quyết định xử phạt. Ngày tiến hành hành vi vi phạm hành chính về thủ tục thuế là ngày kế tiếp ngày chấm dứt thời hạn phải tiến hành thủ tục về thuế theo quy định của Luật điều hành thuế.
Đối với trường hợp làm thủ tục thuế bằng điện tử thì ngày tiến hành hành vi vi phạm hành chính về thuế là ngày kế tiếp ngày chấm dứt thời hạn làm thủ tục thuế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
b) Đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm; hành vi trốn thuế, ăn lận thuế chưa tới mức truy cứu nghĩa vụ hình sự thì thời hiệu xử phạt là 05 5, từ khi ngày tiến hành hành vi vi phạm tới ngày ra quyết định xử phạt. Ngày tiến hành hành vi vi phạm là ngày tiếp theo ngày của thời hạn nộp giấy má khai thuế của kỳ tính thuế nhưng mà người nộp thuế tiến hành hành vi vi phạm.
Đối với các trường hợp theo quy định của luật pháp cơ thuế quan phải ra quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế thì thời khắc xác định hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm, hành vi trốn thuế là ngày tiếp theo ngày cơ quan có thẩm quyền ra quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế.
Trường hợp kỳ tính thuế có hành vi vi phạm nếu được gia hạn nộp thuế thì thời hiệu xử phạt tính từ ngày kế tiếp ngày được gia hạn nộp giấy má khai thuế tới ngày ra quyết định xử lý.
c) Đối với trường hợp giấy má do cơ quan thực hiện tố tụng hình sự chuyển cho cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế để xử lý theo quy định tại Điều 25 Thông tư này thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính vận dụng theo quy định tại Điểm a, b Khoản 1 Điều này. Thời gian cơ quan thực hiện tố tụng hình sự thụ lý, coi xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.
d) Trong thời hiệu quy định tại Điểm a, b, c Khoản này nhưng mà người nộp thuế cố tình lẩn tránh, cản trở việc xử phạt thì ko vận dụng thời hiệu tại Điểm a, b, c Khoản 1 Điều này nhưng mà thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế được tính lại từ khi thời khắc tiến hành hành vi vi phạm mới hoặc thời khắc xong xuôi hành vi lẩn tránh, cản trở việc xử phạt.
Ngày xong xuôi hành vi lẩn tránh, cản trở việc xử phạt là ngày người vi phạm tự giác tới cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt trình báo và nhận tiến hành các bề ngoài xử phạt của người có thẩm quyền xử phạt. Người có thẩm quyền phải lập biên bản ghi nhận việc này và lưu 01 bản vào giấy má vi phạm, 01 bản ủy quyền người vi phạm.
2. Thời hạn truy thu thuế
Quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì người nộp thuế ko bị xử phạt nhưng mà vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế ăn lận, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước trong thời hạn 10 5 trở về trước, từ khi ngày phát hiện hành vi vi phạm.
Trường hợp, người nộp thuế ko đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế ăn lận, tiền chậm nộp tiền thuế cho toàn thể thời kì trở về trước, từ khi ngày phát hiện hành vi vi phạm. Ngày phát hiện hành vi vi phạm hành chính về thuế là ngày lập biên bản vi phạm hành chính về thuế.
3. Thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế
Tư nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, nếu trong thời hạn 06 tháng, từ khi ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 5, từ khi ngày chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính thuế theo bề ngoài phạt tiền (là ngày tiến hành xong các bổn phận, đề nghị ghi trong quyết định xử phạt hoặc từ ngày quyết định xử phạt được cưỡng chế thi hành) hoặc từ khi ngày hết thời hiệu thi hành hình định xử phạt nhưng mà ko tái phạm thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đấy.
Điều 5. Những trường hợp ko xử phạt vi phạm hành chính về thuế
1. Các trường hợp theo quy định tại Điều 11 Luật xử lý vi phạm hành chính.
2. Trường hợp khai sai, người nộp thuế đã khai bổ sung giấy má khai thuế và đã nộp đủ số tiền thuế phải nộp, trước thời khắc cơ thuế quan ban bố quyết định rà soát thuế, thanh tra thuế tại hội sở người nộp thuế hoặc trước thời khắc cơ thuế quan phát hiện ko qua thanh tra, rà soát tại hội sở người nộp thuế hoặc trước thời khắc cơ quan có thẩm quyền khác phát hiện.
Điều 6. Các bề ngoài xử phạt vi phạm hành chính về thuế
1. Phạt cảnh cáo
Phạt cảnh cáo vận dụng đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế ko nghiêm trọng, có cốt truyện giảm nhẹ và theo quy định vận dụng bề ngoài xử phạt cảnh cáo. Bề ngoài xử phạt cảnh cáo được quyết định bằng văn bản.
2. Phạt tiền
a) Đối với hành vi vi phạm về thủ tục thuế: Phạt theo số tiền tuyệt đối tối đa ko quá 200 triệu đồng đối với người nộp thuế là tổ chức có hành vi vi phạm về thủ tục thuế. Mức phạt tiền tối đa ko quá 100 triệu đồng đối với người nộp thuế là tư nhân có hành vi vi phạm về thủ tục thuế theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Mức phạt tiền quy định tại các Điều 7, 8, 9, 10 và Điều 11 Thông tư này là mức phạt tiền vận dụng đối với tổ chức. Mức phạt tiền đối với tư nhân bằng ½ mức phạt tiền đối với tổ chức. Đối với người nộp thuế là hộ gia đình thì vận dụng mức phạt tiền như đối với tư nhân.
Khi phạt tiền, mức tiền phạt chi tiết đối với 1 hành vi vi phạm về thủ tục thuế là mức trung bình của khung phạt tiền được quy định đối với hành vi đấy. Mức trung bình của khung phạt tiền được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tiền phạt tối thiểu cùng với mức tiền phạt tối đa của khung phạt tiền.
Khi xác định mức phạt tiền đối với người nộp thuế vi phạm vừa có cốt truyện tăng nặng, vừa có cốt truyện giảm nhẹ thì coi xét giảm trừ cốt truyện tăng nặng theo nguyên lý 1 cốt truyện giảm nhẹ được giảm trừ 1 cốt truyện tăng nặng. Sau lúc giảm trừ theo nguyên lý trên, nếu còn cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống, nhưng mà ko được giảm quá mức tối thiểu của khung phạt tiền, nếu còn cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt có thể nâng cao nhưng mà ko được vượt quá mức tối đa của khung phạt tiền. Đối với hành vi vi phạm về thủ tục thuế thì mỗi cốt truyện tăng nặng hoặc giảm nhẹ được tính tăng hoặc giảm 20% mức phạt trung bình của khung phạt tiền.
b) Đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn: Phạt 20% số tiền thuế thiếu, số tiền thuế được hoàn. Mức phạt tiền được vận dụng cho người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình và tư nhân theo quy định tại Điều 107 Luật điều hành thuế.
c) Đối với hành vi trốn thuế, ăn lận thuế: Phạt từ 1 tới 3 lần số tiền thuế trốn đối với hành vi trốn thuế, ăn lận thuế. Mức phạt tiền quy định tại Điều 13 Thông tư này là mức phạt tiền vận dụng đối với người nộp thuế là tổ chức, mức phạt tiền đối với người nộp thuế là hộ gia đình, tư nhân bằng ½ mức phạt tiền đối với tổ chức.
d) Phạt tiền tương ứng với số tiền ko trích vào acc của ngân sách nhà nước đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều 14 Thông tư này.
Chương II
HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ, HÌNH THỨC XỬ PHẠT VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ
Mục 1. XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI NỘP THUẾ
Điều 7. Xử phạt đối với hành vi chậm nộp giấy má đăng ký thuế, chậm công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế so với thời hạn quy định
1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi nộp giấy má đăng ký thuế hoặc công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ 01 ngày tới 10 ngày nhưng mà có cốt truyện giảm nhẹ.
2. Phạt tiền 700.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 400.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 1.000.000 đồng đối với hành vi nộp giấy má đăng ký thuế hoặc công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ 01 ngày tới 30 ngày (trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này).
3. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 800.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 2.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi sau đây:
a) Nộp giấy má đăng ký thuế hoặc công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế quá thời hạn quy định trên 30 ngày.
b) Không công bố chỉnh sửa thông tin trong giấy má đăng ký thuế.
c) Không nộp giấy má đăng ký thuế nhưng mà ko nảy sinh số thuế phải nộp.
Điều 8. Xử phạt đối với hành vi khai ko đầy đủ các nội dung trong giấy má thuế
1. Phạt tiền 700.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 400.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 1.000.000 đồng đối với hành vi lập giấy má khai thuế ghi thiếu, ghi sai các tiêu chí làm căn cứ xác định bổn phận thuế trên bảng kê hóa đơn, hàng hoá, dịch vụ sắm vào, bán ra hoặc trên các tài liệu khác liên can tới bổn phận thuế.
2. Phạt tiền 1.050.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 600.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 1.500.000 đồng đối với hành vi lập giấy má khai thuế ghi thiếu, ghi sai các tiêu chí làm căn cứ xác định bổn phận thuế trên hóa đơn, chứng từ khác liên can tới bổn phận thuế.
3. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 800.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 2.000.000 đồng đối với hành vi lập giấy má khai thuế ghi thiếu, ghi sai các tiêu chí làm căn cứ xác định bổn phận thuế trên tờ khai thuế, tờ khai quyết toán thuế.
4. Phạt tiền 2.100.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 1.200.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 3.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi sau đây:
a) Có hành vi vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều 12, Khoản 7 Điều 13 Thông tư này.
b) Có hành vi khai sai dẫn tới thiếu số thuế phải nộp theo giấy má khai thuế tạm tính theo quý nhưng mà chưa tới thời hạn nộp giấy má khai quyết toán thuế 5.
Điều 9. Xử phạt đối với hành vi chậm nộp giấy má khai thuế so với thời hạn quy định
1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi nộp giấy má khai thuế quá thời hạn quy định từ 01 ngày tới 05 ngày nhưng mà có cốt truyện giảm nhẹ.
2. Phạt tiền 700.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 400.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 1.000.000 đồng đối với hành vi nộp giấy má khai thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ 01 ngày tới 10 ngày (trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này).
3. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko dưới 800.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 2.000.000 đồng đối với hành vi nộp giấy má khai thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ trên 10 ngày tới 20 ngày.
4. Phạt tiền 2.100.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 1.200.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 3.000.000 đồng đối với hành vi nộp giấy má khai thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ trên 20 ngày tới 30 ngày.
5. Phạt tiền 2.800.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 1.600.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 4.000.000 đồng đối với hành vi nộp giấy má khai thuế cho cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ trên 30 ngày tới 40 ngày.
6. Phạt tiền 3.500.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 2.000.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 5.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi sau đây:
a) Nộp giấy má khai thuế quá thời hạn quy định từ trên 40 ngày tới 90 ngày.
b) Nộp giấy má khai thuế quá thời hạn quy định trên 90 ngày nhưng mà ko nảy sinh số thuế phải nộp hoặc trường hợp quy định tại Khoản 9 Điều 13 Thông tư này.
c) Không nộp giấy má khai thuế nhưng mà ko nảy sinh số thuế phải nộp (trừ trường hợp lí luật có quy định không hề nộp giấy má khai thuế).
d) Nộp giấy má khai thuế tạm tính theo quý quá thời hạn quy định trên 90 ngày, từ khi ngày hết thời hạn nộp giấy má khai thuế nhưng mà chưa tới thời hạn nộp giấy má khai quyết toán thuế 5.
7. Thời hạn nộp giấy má quy định tại Điều này bao gồm cả thời kì được gia hạn nộp giấy má khai thuế theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
8. Không vận dụng các mức xử phạt quy định Điều này đối với trường hợp người nộp thuế chỉ cần khoảng được gia hạn thời hạn nộp giấy má khai thuế, gia hạn thời hạn nộp thuế.
9. Người nộp thuế chậm nộp giấy má khai thuế bị xử phạt theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 Điều này, nếu dẫn tới chậm nộp tiền thuế thì phải nộp tiền chậm nộp tiền thuế theo quy định tại Điều 106 Luật điều hành thuế và các văn bản quy định cụ thể thi hành Luật này.
Trường hợp chậm nộp giấy má khai thuế quá thời hạn quy định và cơ thuế quan đã ra quyết định ấn định số thuế phải nộp. Sau đấy trong thời hạn 90 ngày, từ khi ngày hết hạn nộp giấy má khai thuế, người nộp thuế nộp giấy má khai thuế hợp thức và xác định đúng số tiền thuế phải nộp của kỳ nộp thuế thì cơ thuế quan xử phạt hành vi chậm nộp giấy má khai thuế theo Khoản 1, 2, 3, 4, 5 và Khoản 6 Điều này và tính tiền chậm nộp tiền thuế theo quy định. Cơ thuế quan phải ra quyết định huỷ bỏ quyết định ấn định thuế.
Điều 10. Xử phạt đối với hành vi vi phạm các quy định về phân phối thông tin liên can tới xác định bổn phận thuế nhưng mà ko thuộc trường hợp xác định là khai thiếu thuế, trốn thuế, ăn lận về thuế
1. Phạt tiền 700.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 400.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 1.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi:
a) Cung cấp thông tin, tài liệu, giấy má pháp lý liên can tới đăng ký thuế theo công bố của cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ 05 ngày làm việc trở lên.
b) Cung cấp thông tin, tài liệu, sổ kế toán liên can tới việc xác định bổn phận thuế theo công bố của cơ thuế quan quá thời hạn quy định từ 05 ngày làm việc trở lên.
c) Cung cấp lệch lạc về thông tin, tài liệu, sổ kế toán liên can tới việc xác định bổn phận thuế sau ngày hết hạn do cơ thuế quan công bố.
2. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 800.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 2.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi:
a) Cung cấp ko đầy đủ, ko chuẩn xác các thông tin, tài liệu, chứng từ, hóa đơn, sổ kế toán liên can tới việc xác định bổn phận thuế trong thời hạn kê khai thuế; số hiệu acc, số dư acc tiền gửi cho cơ quan có thẩm quyền lúc được đề nghị.
b) Không phân phối đầy đủ, đúng các tiêu chí, số liệu liên can tới bổn phận thuế thuộc diện phải đăng ký với cơ thuế quan theo cơ chế quy định, bị phát hiện nhưng mà ko làm giảm bổn phận thuế với ngân sách nhà nước.
c) Không phân phối; phân phối ko đầy đủ, ko chuẩn xác các thông tin, tài liệu liên can tới acc tiền gửi tại tổ chức tài chính, Kho bạc Nhà nước, công nợ bên thứ 3 có liên can trong thời hạn 03 ngày làm việc, từ khi ngày được cơ thuế quan đề nghị.
Điều 11. Xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về chấp hành hình định rà soát, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế
1. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 800.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 2.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi:
a) Khước từ nhận quyết định thanh tra, rà soát, quyết định cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế.
b) Không chấp hành hình định thanh tra, rà soát thuế quá thời hạn 03 ngày làm việc, từ khi ngày phải chấp hành hình định của cơ quan có thẩm quyền.
c) Khước từ, trì hoãn, lẩn tránh việc phân phối giấy má, tài liệu, hóa đơn, chứng từ, sổ kế toán liên can tới bổn phận thuế quá thời hạn 06 giờ làm việc, từ khi lúc thu được đề nghị của cơ quan có thẩm quyền, chỉ cần khoảng rà soát, thanh tra tại hội sở người nộp thuế.
d) Cung cấp ko chuẩn xác về thông tin, tài liệu, sổ kế toán liên can tới việc xác định bổn phận thuế theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền chỉ cần khoảng rà soát, thanh tra thuế tại hội sở người nộp thuế.
2. Phạt tiền 3.500.000 đồng, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu ko thấp hơn 2.000.000 đồng hoặc có cốt truyện tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa ko quá 5.000.000 đồng đối với 1 trong các hành vi:
a) Không phân phối số liệu, tài liệu, sổ kế toán liên can tới việc xác định bổn phận thuế theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền chỉ cần khoảng rà soát, thanh tra thuế tại hội sở người nộp thuế.
b) Không tiến hành hoặc tiến hành ko đúng quyết định niêm phong giấy má tài liệu, két quỹ, kho hàng hoá, vật tư, vật liệu, máy móc, thiết bị, nhà xưởng làm căn cứ xác minh bổn phận thuế.
c) Tự tiện tháo bỏ, chỉnh sửa tín hiệu niêm phong do cơ quan thẩm quyền đã kiến lập hợp lí làm căn cứ xác minh bổn phận thuế.
d) Không ký vào biên bản rà soát, thanh tra trong thời hạn 05 ngày làm việc, từ khi ngày thu được biên bản rà soát, thanh tra.
đ) Không chấp hành kết luận rà soát, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế của cơ quan có thẩm quyền.
Điều 12. Xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn
1. Các trường hợp khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, bao gồm:
a) Hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, tăng số thuế được miễn, giảm nhưng mà người nộp thuế phát hiện và đã biên chép kịp thời, đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế làm nảy sinh bổn phận thuế trên sổ kế toán, hóa đơn, chứng tính từ lúc lập báo cáo nguồn vốn, quyết toán thuế.
b) Hành vi khai sai của người nộp thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm, người nộp thuế chưa điều chỉnh, biên chép đầy đủ vào sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ kê khai thuế, nhưng mà lúc bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện, người vi phạm đã tự giác nộp đủ số tiền thuế khai thiếu vào ngân sách nhà nước trước thời khắc cơ quan có thẩm quyền lập biên bản rà soát thuế, kết luận thanh tra thuế.
c) Hành vi khai sai của người nộp thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm đã bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản rà soát thuế, kết luận thanh tra thuế xác định là có hành vi khai man, trốn thuế, nhưng mà nếu người nộp thuế vi phạm lần đầu, có cốt truyện giảm nhẹ và đã tự giác nộp đủ số tiền thuế vào ngân sách nhà nước trước thời khắc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt thì cơ thuế quan lập biên bản ghi nhận để xử phạt theo mức phạt tiền đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.
d) Sử dụng hóa đơn, chứng từ trái phép để hạch toán trị giá hàng hoá, dịch vụ sắm vào làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm, nhưng mà lúc cơ thuế quan rà soát phát hiện, khách hàng có giấy má, tài liệu, chứng từ, hóa đơn chứng minh được lỗi vi phạm hóa đơn trái phép thuộc về bên bán hàng và khách hàng đã hạch toán kế toán đầy đủ theo quy định.
2. Mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này là 20% tính trên số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm cao hơn so với mức quy định của luật pháp về thuế.
3. Trường hợp vi phạm theo quy định tại Khoản 1 Điều này ngoài việc bị xử phạt theo quy định tại Khoản 2 Điều này còn bị vận dụng giải pháp giải quyết hậu quả là nộp đủ số tiền thuế nợ, số tiền thuế thiếu, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước.
Cơ thuế quan xác định số tiền thuế thiếu, số ngày chậm nộp tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế; số tiền phạt và ra quyết định xử phạt đối với người nộp thuế.
Cơ thuế quan căn cứ ngày nộp tiền vào ngân sách nhà nước ghi trên chứng từ nộp tiền vào ngân sách nhà nước hoặc chứng từ chuyển khoản có công nhận của ngân khố nhà nước hoặc tổ chức tài chính để xác định việc người nộp thuế đã nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước và số ngày chậm nộp tiền thuế để làm căn cứ xác định số tiền chậm nộp tiền thuế.
4. Trường hợp, người nộp thuế có hành vi khai sai quy định tại Khoản 1 Điều này nhưng mà ko dẫn tới thiếu số thuế phải nộp hoặc chưa được hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế thì ko bị xử phạt theo quy định tại Điều này nhưng mà bị xử phạt theo quy định tại Khoản 4 Điều 8 Thông tư này.
Điều 13. Xử phạt đối với hành vi trốn thuế, ăn lận thuế
Người nộp thuế có hành vi trốn thuế, ăn lận thuế theo quy định của luật pháp bị xử phạt theo số lần tính trên số tiền thuế trốn, số tiền thuế ăn lận như sau:
1. Phạt tiền 1 lần tính trên số thuế trốn, số thuế ăn lận đối với người nộp thuế vi phạm lần đầu (trừ các trường hợp bị xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu thuế tại Khoản 1 Điều 12 Thông tư này) hoặc vi phạm lần thứ 2 nhưng mà có từ 2 cốt truyện giảm nhẹ trở lên lúc có 1 trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Không nộp giấy má đăng ký thuế; ko nộp giấy má khai thuế hoặc nộp giấy má khai thuế sau 90 ngày, từ khi ngày hết thời hạn nộp giấy má khai thuế theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 32 Luật điều hành thuế hoặc từ khi ngày hết thời hạn gia hạn nộp giấy má khai thuế theo quy định tại Điều 33 của Luật điều hành thuế, trừ trường hợp quy định tại Khoản 6 Điều 9 Thông tư này và Khoản 9 Điều này.
b) Sử dụng hóa đơn, chứng từ ko hợp lí; sử dụng trái phép hóa đơn, chứng từ; hóa đơn ko có trị giá sử dụng để kê khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.
c) Lập thủ tục, giấy má hủy vật tư, hàng hóa hoặc giảm số lượng, trị giá vật tư, hàng hóa ko đúng thực tiễn làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, được miễn, giảm.
d) Lập hóa đơn sai về số lượng, trị giá hàng hoá, dịch vụ bán ra làm căn cứ kê khai nộp thuế thấp hơn thực tiễn.
đ) Không biên chép trong sổ kế toán các khoản thu liên can tới việc xác định số tiền thuế phải nộp; ko kê khai, kê khai sai, ko thật thà làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm.
e) Không xuất hóa đơn lúc bán hàng hoá, dịch vụ hoặc ghi trị giá trên hóa đơn bán hàng thấp hơn trị giá trả tiền thực tiễn của hàng hoá, dịch vụ đã bán và bị phát hiện sau thời hạn nộp giấy má khai thuế của kỳ tính thuế.
g) Sử dụng hàng hóa được miễn thuế, xét miễn thuế (bao gồm cả ko chịu thuế) ko đúng với mục tiêu quy định nhưng mà ko khai báo việc biến đổi mục tiêu sử dụng, khai thuế với cơ thuế quan.
h) Tu sửa, tẩy xoá chứng từ kế toán, sổ kế toán làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.
i) Hủy bỏ chứng từ kế toán, sổ kế toán làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.
k) Sử dụng hóa đơn, chứng từ, tài liệu ko hợp lí trong các trường hợp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn; khai sai căn cứ tính thuế nảy sinh số thuế trốn, số thuế ăn lận.
l) Người nộp thuế đang chỉ cần khoảng xin tạm dừng kinh doanh nhưng mà thực tiễn vẫn kinh doanh.
m) Hàng hóa chuyên chở trên đường ko có hóa đơn, chứng từ hợp lí.
2. Phạt tiền 1,5 lần tính trên số thuế trốn đối với người nộp thuế lúc có 1 trong các hành vi trốn thuế, ăn lận thuế quy định tại Khoản 1 Điều này trong các trường hợp: vi phạm lần đầu, có cốt truyện tăng nặng hoặc vi phạm lần thứ 2, có 1 cốt truyện giảm nhẹ.
3. Phạt tiền 2 lần tính trên số thuế trốn đối với người nộp thuế lúc có 1 trong các hành vi trốn thuế, ăn lận thuế quy định tại Khoản 1 Điều này trong các trường hợp: vi phạm lần thứ 2 nhưng mà ko có cốt truyện giảm nhẹ hoặc vi phạm lần thứ 3 và có 1 cốt truyện giảm nhẹ.
4. Phạt tiền 2,5 lần tính trên số thuế trốn đối với người nộp thuế lúc có 1 trong các hành vi trốn thuế, ăn lận thuế quy định tại Khoản 1 Điều này trong các trường hợp: vi phạm lần thứ 2 nhưng mà có 1 cốt truyện tăng nặng hoặc vi phạm lần thứ 3 nhưng mà ko có cốt truyện giảm nhẹ.
5. Phạt tiền 3 lần tính trên số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế lúc có 1 trong các hành vi trốn thuế, ăn lận thuế quy định tại Khoản 1 Điều này trong các trường hợp: vi phạm lần thứ 2 nhưng mà có từ 2 cốt truyện tăng nặng trở lên hoặc vi phạm lần thứ 3 có cốt truyện tăng nặng hoặc vi phạm từ lần thứ tư trở đi.
6. Các hành vi trốn thuế, ăn lận thuế bị xử phạt quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này còn bị buộc vận dụng giải pháp giải quyết hậu quả là nộp đủ số tiền thuế trốn, ăn lận vào ngân sách nhà nước.
Số tiền thuế trốn, ăn lận theo quy định tại Điều này là số tiền thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của luật pháp nhưng mà người nộp thuế bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện và xác định trong biên bản, kết luận rà soát, thanh tra.
7. Các hành vi vi phạm quy định tại các điểm b, c, d, đ, e, g, h, i, k, Khoản 1 Điều này bị phát hiện trong thời hạn nộp giấy má khai thuế của kỳ tính thuế hoặc bị phát hiện sau thời hạn nộp giấy má khai thuế, nhưng mà ko làm giảm số thuế phải nộp hoặc chưa được hoàn, ko làm tăng số thuế miễn, giảm và ko thuộc trường hợp bị xử phạt đối với hành vi trốn thuế thì bị xử phạt về hành vi vi phạm về thủ tục thuế theo quy định tại Khoản 4 Điều 8 hoặc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán.
8. Trường hợp người nộp thuế đang thuộc diện được miễn thuế, được hoàn thuế theo quy định của luật pháp, kê khai ko đúng căn cứ xác định số thuế được miễn, số thuế được hoàn nhưng mà ko làm thiệt hại tới số thuế của ngân sách nhà nước thì ko bị xử phạt đối với hành vi trốn thuế nhưng mà xử phạt về hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định ở Điều 8 Thông tư này với mức phạt cao nhất.
9. Trường hợp, người nộp thuế nộp giấy má khai thuế sau 90 ngày, từ khi ngày hết thời hạn nộp giấy má khai thuế, đã tự giác nộp đầy đủ số tiền thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước trước thời khắc cơ thuế quan lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi chậm nộp giấy má khai thuế thì bị xử phạt về hành vi chậm nộp giấy má khai thuế quy định Khoản 6, Điều 9 Thông tư này. Trường hợp, người nộp thuế đã nộp giấy má khai thuế nhưng mà khai sai, ăn lận thuế dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp, ăn lận, trốn thuế thì ngoài việc bị xử phạt về thủ tục thuế còn bị xử phạt về khai thiếu thuế hoặc trốn thuế theo quy định tại Điều 12, Điều 13 Thông tư này.
10. Trường hợp người nộp thuế nộp thuế theo cách thức kê khai đang trong thời hạn hưởng giảm giá miễn thuế thu nhập công ty bị phát hiện có hành vi vi phạm như khai sai làm tăng khống chi tiêu để tăng số lỗ, để giảm lãi; giảm chi tiêu để tăng lãi và xác định ko đúng các điều kiện để thừa hưởng miễn thuế thu nhập công ty thì:
a) Nếu vi phạm được rà soát phát hiện ngay chỉ cần khoảng đang được giảm giá miễn thuế thu nhập công ty thì ko xử phạt về hành vi trốn thuế nhưng mà tiến hành xử phạt vi phạm về thủ tục thuế hoặc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán;
b) Nếu vi phạm chưa được rà soát phát hiện nhưng mà tư nhân, tổ chức ko tự điều chỉnh hậu quả làm giảm số thuế thu nhập công ty của 5 tiếp sau lúc hết thời hạn được miễn thuế thu nhập công ty thì bị xử phạt về hành vi trốn thuế.
Mục 2. XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ ĐỐI VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KHÁC CÓ LIÊN QUAN
Điều 14. Xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức tài chính
1. Tổ chức tài chính ko tiến hành nghĩa vụ trích chuyển tiền từ acc của người nộp thuế vào acc của ngân sách nhà nước đối với số tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt phải nộp của người nộp thuế theo quyết định cưỡng chế của cơ thuế quan thì bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế trong trường hợp: tại thời khắc đấy, acc của người nộp thuế có số dư nhưng mà người nộp thuế phải nộp theo quyết định cưỡng chế của cơ thuế quan.
Trong thời hạn 10 ngày, từ khi ngày hết hạn trích tiền từ acc của người nộp thuế mở tại tổ chức tài chính, cơ thuế quan phải lập biên bản vi phạm hành chính về thuế và ra quyết định xử phạt đối với tổ chức tài chính. Mức xử phạt tương ứng số tiền ko trích chuyển vào acc của ngân sách nhà nước theo quyết định cưỡng chế. Trường hợp này, cơ thuế quan vẫn phải vận dụng các giải pháp nhằm thu đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt đối với người nộp thuế còn nợ.
2. Tổ chức tài chính ko bị xử phạt trong trường hợp tại thời khắc đấy, acc tiền gửi của người nộp thuế ko còn số dư hoặc đã trích chuyển toàn thể số dư acc của người nộp thuế vào acc của ngân sách nhà nước nhưng mà vẫn ko đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt nhưng mà người nộp thuế phải nộp.
Khi thu được quyết định cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế tổ chức tài chính phải lập văn bản công nhận về số dư acc tiền gửi của nhân vật bị cưỡng chế hoặc ko còn số dư tiền gửi và gửi cơ thuế quan ra quyết định cưỡng chế biết trong thời hạn 03 ngày, từ khi ngày thu được quyết định cưỡng chế của cơ thuế quan.
Điều 15. Xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với tổ chức, tư nhân khác có liên can
1. Tổ chức, tư nhân liên can có hành vi thông lưng, bao che người nộp thuế trốn thuế, ăn lận thuế, ko tiến hành quyết định cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế (trừ hành vi ko trích chuyển tiền từ acc của người nộp thuế quy định tại Điều 14 Thông tư này) thì tuỳ theo thuộc tính, chừng độ vi phạm nhưng mà bị phạt tiền, chi tiết như sau:
a) Phạt tiền 3.750.000 đồng đối với tư nhân, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức phạt tiền tối thiểu ko thấp hơn 2.500.000 đồng, nếu có cốt truyện tăng nặng thì mức phạt tiền tối đa ko vượt quá 5.000.000 đồng;
b) Phạt tiền 7.500.000 đồng đối với tổ chức, nếu có cốt truyện giảm nhẹ thì mức phạt tiền tối thiểu ko thấp hơn 5.000.000 đồng, nếu có cốt truyện tăng nặng thì mức phạt tiền tối đa ko vượt quá 10.000.000 đồng.
2. Tổ chức, tư nhân ko phân phối hoặc phân phối ko chuẩn xác thông tin liên can tới bổn phận thuế của người nộp thuế; acc của nhân vật nợ thuế tại tổ chức tài chính, ngân khố nhà nước theo quy định của Luật điều hành thuế thì bị xử phạt theo quy định tại Khoản 1 Điều này.
3. Bên bảo lãnh việc tiến hành bổn phận thuế phải nộp thay tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt (nếu có) cho người nộp thuế theo nội dung cam kết tại văn bản bảo lãnh trong trường hợp người nộp thuế ko nộp các khoản nêu trên vào acc của ngân sách nhà nước.
Căn cứ giấy má bảo lãnh nộp thuế, cơ thuế quan công bố số tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt (nếu có), thời hạn nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp cho bên bảo lãnh biết để tiến hành nộp vào ngân sách nhà nước thay cho người được bảo lãnh.
Trường hợp, tới thời hạn nộp tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt nhưng mà người nộp thuế ko tiến hành nộp tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt (nếu có) vào ngân sách nhà nước, bên bảo lãnh chưa nộp thay tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt (nếu có) cho người nộp thuế theo cam kết tại văn bản bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải thanh toán chậm nộp theo mức 0,07%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp, 0,05%/ngày tính trên số tiền phạt chậm nộp và bị cưỡng chế thi hành hình định hành chính thuế theo quy định của luật pháp.
Chương III
THẨM QUYỀN XỬ PHẠT; THỦ TỤC XỬ PHẠT VÀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ
Mục 1. THẨM QUYỀN XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ
Điều 16. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế
1. Công chức thuế đang thi hành công vụ có quyền:
a) Phạt cảnh cáo.
b) Phạt tiền tới 1.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định tại Thông tư này.
2. Đội trưởng Đội Thuế trong khuôn khổ công dụng, nhiệm vụ có quyền:
a) Phạt cảnh cáo.
b) Phạt tiền tới 5.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định tại Thông tư này.
3. Chi cục trưởng Chi cục Thuế trong khuôn khổ địa bàn điều hành của mình có quyền:
a) Phạt cảnh cáo.
b) Phạt tiền tới 50.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11 và Điều 15 Thông tư này.
c) Phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định tại các Điều 12, Điều 13 và Điều 14 Thông tư này.
d) Vận dụng giải pháp giải quyết hậu quả quy định tại Khoản 3 Điều 12, Khoản 6 Điều 13 Thông tư này.
4. Cục trưởng Cục Thuế trong khuôn khổ địa bàn điều hành của mình có quyền:
a) Phạt cảnh cáo.
b) Phạt tiền tới 140.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11 và Điều 15 Thông tư này.
c) Phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định tại các Điều 12, Điều 13 và Điều 14 Thông tư này.
d) Vận dụng giải pháp giải quyết hậu quả quy định tại Khoản 3 Điều 12, Khoản 6 Điều 13 Thông tư này.
5. Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế có quyền:
a) Phạt cảnh cáo.
b) Phạt tiền tới 200.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm về thủ tục thuế quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11 và Điều 15 Thông tư này.
c) Phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định tại các Điều 12, Điều 13 và Điều 14 Thông tư này.
d) Vận dụng giải pháp giải quyết hậu quả quy định tại Khoản 3 Điều 12, Khoản 6 Điều 13 Thông tư này.
6. Thẩm quyền xử phạt vi phạm về thủ tục thuế của những người được quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này vận dụng đối với 1 hành vi vi phạm của tổ chức; Trường hợp phạt tiền đối với tư nhân có hành vi vi phạm về thủ tục thuế thì thẩm quyền xử phạt đối với tư nhân bằng ½ thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức. Thẩm quyền xử phạt vi phạm đối với hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế miễn, giảm; hành vi trốn thuế, ăn lận thuế quy định tại Điểm c Khoản 3, Điểm c Khoản 4, Điểm c Khoản 5 Điều này vận dụng cho tư nhân và tổ chức vi phạm theo quy định tại Khoản 2 Điều 109 Luật điều hành thuế.
Điều 17. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế của Chủ tịch Ủy ban quần chúng các đơn vị quản lý
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế của Chủ tịch ủy ban quần chúng các đơn vị quản lý được tiến hành theo quy định của luật pháp về xử lý vi phạm hành chính.
Điều 18. Giao quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế
1. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế quy định tại Khoản 2, 3, 4, 5 Điều 16 Thông tư này có thể giao quyền cho cấp phó tiến hành thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế.
2. Việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế được tiến hành thường xuyên hoặc theo vụ việc và phải được trình bày bằng văn bản (quyết định), trong đấy xác định rõ khuôn khổ, nội dung, thời hạn giao quyền.
Quyết định giao quyền phải đánh số, ghi rõ ngày, tháng, 5, ký và đóng dấu; Trường hợp, Đội trưởng Đội Thuế giao quyền cho cấp phó xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì Quyết định giao quyền đóng dấu treo của Chi cục Thuế nơi người có thẩm quyền xử phạt giao quyền.
Căn cứ pháp lý để ban hành hình định xử phạt vi phạm hành chính về thuế của cấp phó được giao quyền phải trình bày rõ số, ngày, tháng, 5, trích yếu quyết định giao quyền.
3. Cấp phó được giao quyền tiến hành xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải chịu nghĩa vụ về quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế của mình trước cấp trưởng và trước luật pháp. Người được giao quyền ko được giao quyền, giao cho cho bất cứ ai khác.
Mục 2. THỦ TỤC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ
Điều 19. Buộc xong xuôi hành vi vi phạm hành chính về thuế
Công chức thuế đang thi hành công vụ phát hiện tổ chức, tư nhân đang tiến hành hành vi vi phạm hành chính về thuế thì buộc tổ chức, tư nhân đấy xong xuôi hành vi vi phạm hành chính về thuế.
Buộc xong xuôi hành vi vi phạm hành chính về thuế được tiến hành bằng lời nói, văn bản hoặc bề ngoài khác theo quy định của luật pháp.
Điều 20. Xử phạt vi phạm hành chính về thuế ko lập biên bản
1. Xử phạt vi phạm hành chính về thuế ko lập biên bản được vận dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền tới 250.000 đồng đối với tư nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt tại chỗ.
2. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế tại chỗ phải ghi rõ: ngày, tháng, 5 ra quyết định; họ, tên, chức phận của người ra quyết định xử phạt; họ, tên, địa chỉ của tư nhân vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm; vị trí xảy ra vi phạm; bằng chứng và cốt truyện liên can tới việc khắc phục vi phạm; điều, khoản của văn bản luật pháp được vận dụng. Trường hợp, phạt tiền thì ghi rõ mức tiền phạt trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế.
Điều 21. Xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản
1. Xử phạt vi phạm hành chính về thuế có lập biên bản được vận dụng đối với tư nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính về thuế, trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 20 Thông tư này.
2. Trường hợp, người nộp thuế có hành vi vi phạm hành chính về thuế đã được cơ thuế quan rà soát, thanh tra phát hiện, ghi nhận vào biên bản rà soát, thanh tra, kết luận thanh tra thì không hề lập biên bản trước lúc ban hành hình định xử phạt vi phạm hành chính. Người có thẩm quyền xử phạt căn cứ biên bản thanh tra, rà soát, kết luận thanh tra thuế để ra quyết định xử phạt.
3. Việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế có lập biên bản phải được người có thẩm quyền xử phạt lập thành giấy má xử phạt vi phạm hành chính. Giấy tờ bao gồm biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt hành chính, các tài liệu, giấy má có liên can và phải được đánh bút lục.
Điều 22. Lập biên bản vi phạm hành chính về thuế
1. Người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm hành chính về thuế có nghĩa vụ lập biên bản theo đúng mẫu quy định (trừ trường hợp xử phạt không hề lập biên bản theo quy định tại Điều 20 Thông tư này) và chuyển kịp thời đến người có thẩm quyền xử phạt.
Trường hợp tư nhân, tổ chức tiến hành nhiều hành vi vi phạm hành chính về thuế trong cùng 1 vụ việc hoặc vi phạm nhiều lần thì biên bản xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải trình bày đầy đủ các hành vi vi phạm hoặc số lần vi phạm.
2. Biên bản vi phạm hành chính về thuế phải ghi rõ ngày, tháng, 5, vị trí lập biên bản; họ, tên, chức phận người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; giờ, ngày, tháng, 5, vị trí xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm hành chính về thuế; lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc người đại diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ, lời khai của họ; quyền và thời hạn giải trình về vi phạm hành chính của người vi phạm; cơ quan tiếp thu giải trình.
3. Biên bản phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; trường hợp người vi phạm ko ký được thì lăn tay; nếu có người chứng kiến thì họ cùng phải ký vào biên bản; trong trường hợp biên bản gồm nhiều tờ thì người lập biên bản phải ký vào từng tờ biên bản. Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm ko có mặt tại nơi vi phạm hoặc ko ký vào biên bản vi phạm hành chính về thuế hoặc vì lý do khách quan nhưng mà ko ký vào biên bản thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở (đại diện có thẩm quyền của ủy ban quần chúng cấp xã hoặc đại diện theo giao cho của ủy ban quần chúng cấp xã) nơi xảy ra vi phạm hoặc của 2 người chứng kiến. Trường hợp tư nhân, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến khước từ ký biên bản thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản.
Biên bản vi phạm hành chính về thuế phải được lập chí ít thành 02 bản. 01 bản ủy quyền tư nhân hoặc tổ chức vi phạm hành chính về thuế; 01 bản làm căn cứ để ra quyết định xử phạt. Trường hợp, vi phạm hành chính về thuế ko thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản phải được chuyển ngay tới người có thẩm quyền xử phạt để thực hiện xử phạt.
Điều 23. Gicửa ải trình của tổ chức, tư nhân vi phạm hành chính về thuế
1. Đối với tổ chức, tư nhân có hành vi khai sai dẫn tới thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn bị xử phạt theo tỉ lệ % (%) quy định tại Điều 107 Luật điều hành thuế; hành vi trốn thuế bị xử phạt theo số lần thuế trốn theo quy định tại Điều 108 Luật điều hành thuế; hành vi ko trích chuyển tiền trong acc của người nộp thuế theo đề nghị của cơ thuế quan quy định tại Điều 114 Luật điều hành thuế bị lập biên bản vi phạm hành chính về thuế thì tổ chức, tư nhân vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế.
2. Người có thẩm quyền xử phạt có nghĩa vụ coi xét quan điểm giải trình của tư nhân, tổ chức vi phạm trước lúc ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp tư nhân, tổ chức ko có đề nghị giải trình trong thời hạn quy định tại Khoản 3 Điều này.
3. Thời hạn, thủ tục giải trình vi phạm hành chính về thuế
a) Đối với trường hợp giải trình bằng văn bản: tổ chức, tư nhân vi phạm hành chính thuế phải gửi văn bản giải trình cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuế trong thời hạn ko quá 05 ngày, từ khi ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Trường hợp vụ việc có nhiều cốt truyện phức tạp thì người có thẩm quyền xử phạt có thể gia hạn thêm ko quá 05 ngày theo yêu cầu của tổ chức, tư nhân vi phạm. Trường hợp, người có thẩm quyền xử phạt đồng ý gia hạn giải trình cho tổ chức, tư nhân vi phạm thì phải trình bày bằng văn bản.
Tư nhân, tổ chức vi phạm hành chính về thuế tự mình hoặc giao cho cho người đại diện hợp lí của mình tiến hành giải trình bằng văn bản.
b) Đối với trường hợp giải trình trực tiếp: tư nhân, tổ chức vi phạm hành chính thuế phải gửi văn bản đề nghị được giải trình trực tiếp tới người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế trong thời hạn 02 ngày làm việc, từ khi ngày lập biên bản vi phạm hành chính về thuế.
Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải công bố bằng văn bản cho người vi phạm về thời kì và vị trí tổ chức phiên giải trình trực tiếp trong thời hạn 05 ngày, từ khi ngày thu được đề nghị của người vi phạm.
Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế tổ chức phiên giải trình trực tiếp và có nghĩa vụ nêu căn cứ pháp lý và cốt truyện, bằng chứng liên can tới hành vi vi phạm hành chính, bề ngoài xử phạt, giải pháp giải quyết hậu quả dự định vận dụng đối với hành vi vi phạm của người vi phạm. Tư nhân, tổ chức vi phạm hành chính về thuế, người đại diện hợp lí của họ có quyền tham dự phiên giải trình và đưa ra quan điểm, bằng chứng để bảo vệ quyền và ích lợi hợp lí của mình.
Việc giải trình trực tiếp được lập thành biên bản và phải có chữ ký của các đối tác liên can; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ thì các đối tác phải ký vào từng tờ biên bản. Biên bản này phải được lưu trong giấy má xử phạt vi phạm hành chính về thuế và ủy quyền tư nhân, tổ chức vi phạm hoặc người đại diện hợp lí của họ 01 bản.
Điều 24. Chuyển giấy má vụ vi phạm luật pháp về thuế có tín hiệu phạm nhân để truy cứu nghĩa vụ hình sự
1. Trong giai đoạn xử phạt vi phạm hành chính về thuế, nếu xét thấy tổ chức, tư nhân vi phạm luật pháp về thuế có tín hiệu phạm nhân, thì người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển ngay giấy má cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự.
2. Trường hợp, người có thẩm quyền xử phạt đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, đang chỉ cần khoảng thi hành hình định xử phạt, nếu hành vi vi phạm được phát hiện có tín hiệu phạm nhân nhưng mà chưa hết thời hiệu truy cứu nghĩa vụ hình sự, thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành hình định đấy và trong thời hạn 03 ngày, từ khi ngày ra quyết định tạm đình chỉ phải chuyển giấy má xử lý vi phạm cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự có thẩm quyền để xử lý; trường hợp đã thi hành xong quyết định xử phạt thì người có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải chuyển giấy má vụ vi phạm cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự để xử lý.
Giấy tờ chuyển giao bao gồm: quyết định chuyển giấy má cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự xử lý; bản sao biên bản về hành vi vi phạm hành chính về thuế hoặc biên bản rà soát, thanh tra thuế; bản sao kết quả nhận định, xác minh (nếu có); bản sao tài liệu khác có liên can; bản sao quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế (nếu có); quyết định tạm đình chỉ thi hành hình định xử phạt đối với trường hợp chưa thi hành hình định xử phạt. Việc chuyển giao giấy má phải được lập thành biên bản.
3. Theo quy định tại Điều 62 Luật xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan thực hiện tố tụng hình sự đã nhận giấy má vụ việc theo Khoản 1, 2 Điều này có nghĩa vụ coi xét, kết luận vụ việc và công bố kết quả khắc phục bằng văn bản cho người có thẩm quyền đã chuyển giấy má trong thời hạn theo quy định của luật pháp tố tụng hình sự; trường hợp ko khởi tố vụ án hình sự thì trong thời hạn 03 ngày, từ khi ngày có quyết định ko khởi tố vụ án hình sự, cơ quan thực hiện tố tụng phải trả giấy má vụ việc cho người có thẩm quyền xử phạt đã chuyển giấy má tới.
Trường hợp cơ quan thực hiện tố tụng hình sự có quyết định khởi tố vụ án thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuế phải hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính thuế và chuyển tài liệu về việc thi hành hình định xử phạt cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự.
4. Việc chuyển giấy má vụ vi phạm có tín hiệu phạm nhân để truy cứu nghĩa vụ hình sự phải được công bố cho tư nhân vi phạm.
5. Trường hợp người có thẩm quyền xử phạt đã chuyển giấy má cho cơ quan thực hiện tố tụng hình sự, nhưng mà quá thời hạn 03 ngày, từ khi ngày hết hạn ra quyết định khởi tố hoặc ra quyết định ko khởi tố vụ án hình sự theo quy định của luật pháp về luật tố tụng hình sự nhưng mà người có thẩm quyền xử phạt chưa thu được công bố của cơ quan thực hiện tố tụng về việc khởi tố hoặc ko khởi tố vụ án hình sự thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế, có văn bản yêu cầu cơ quan thực hiện tố tụng hình sự đã nhận giấy má, chuyển trả lại giấy má vụ vi phạm để người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế hoặc tiếp diễn thi hành hình định xử phạt đối với trường hợp lúc chuyển giấy má người có thẩm quyền xử phạt đã ban hành hình định tạm đình chỉ thi hành hình định xử phạt.
………………..
Mời bài các bạn cùng tham khảo nội dung cụ thể của thông tư tại file dưới đây!

TagsXử phạt vi phạm Hành chính

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Thông #tư #1662013TTBTC


#Thông #tư #1662013TTBTC

Vik News

Đỗ Thủy

Tôi là Đỗ Thủy đam mê sáng tạo viết Blog hàng ngày là những công việc mà tôi đang làm nó thực sự là những gì tôi yêu thích hãy theo dõi tôi để có những kiến thức bổ ích về xã hội ,cộng đồng và học tập.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button