Top 10 Câu chuyện hay về luật nhân quả

Luật nhân quả là quy luật khách quan của sự sống trong vũ trụ. Có tu học Phật pháp hay ko thì mọi người đều sống trong luật nhân quả. Từ sự vận hành của thiên thể, sự di chuyển của núi sông, cho tới cành cây ngọn cỏ, tất cả đều là kết quả của sự vận hành luật nhân quả. Cùng Toplist điểm qua 1 số câu chuyện hay và ý nghĩa về luật nhân quả để chiêm nghiệm cuộc sống nhé!

Ác giả ác báo

Thập niên 70 có 1 sự việc xảy ra tại thị thành Bắc Kinh. 1 người đàn bà hơn 60 tuổi, thân hình cao bự mạnh khỏe tên là Lưu Thị, gia đình có 6 người thuê vài căn phòng ở trọ, 1 gian là mẹ chồng ở, 2 gian là người đàn bà ấy và cháu trai cháu gái ở, còn 2 gian khác là đàn ông và con gái ở.


Chồng của Lưu Thị mất tính từ lúc nào thì ko rõ, chỉ biết lúc gia đình chuyển về đây anh đã ko còn nữa. Mẹ chồng không hề là mẹ ruột của chồng Lưu Thị, bởi chồng Lưu Thị chỉ là con nuôi của cụ bà. 7, 8 mươi 5 trước, theo tục lệ ở làng, con gái ko được kế thừa gia tư của gia đình, và đàn bà có gia tư nhưng ko có đàn ông thì nhất mực phải nhận đàn ông của người nhà làm con nuôi, nếu ko toàn thể gia tài đều bị người nhà kế thừa. Việc nhận con nuôi này là cực kỳ nghiêm chỉnh, tuy rằng ko có thủ tục hồ sơ pháp lý nhưng mà còn nghiêm chỉnh hơn nhiều so với thủ tục pháp lý hiện nay. Chồng Lưu Thị đã chết nhưng mà cả gia đình cô đều phải có phận sự nuôi dưỡng cụ bà.


Cuộc sống hàng ngày của cụ bà ra sao, ko người nào được biết, chỉ biết từ trước đến nay cụ bà ko bao giờ ăn cơm chung cùng mọi người, cơm cháo đều được đem đến phòng cho bà. 1 ngày rủi ro, cụ bà bị ngã gãy xương phải nằm trên giường, ấy là căn phòng phía nam, mùa đông ko có ánh mặt trời, cũng ko bao giờ thấy có người đưa cụ ra ngoài phòng tắm nắng, càng ko có người lật mình cho cụ, phía dưới mông của cụ thịt bị thối loét vì nằm liệt giường liệt chiếu. Từ ấy láng giềng đều dần dần ko nhận ra cụ bà nữa.


Sau này mọi người thường xuyên nghe thấy lời ân oán trách của Lưu Thị rằng cụ bà hay đi ngoài trên giường, và mọi người cũng thường xuyên nghe thấy tiếng kêu đói kêu khát của cụ bà. Rồi 1 ngày người ta nghe nói mẹ chồng của Lưu Thị chết đói trên sàn nhà, vì Lưu Thị sợ cụ bà sẽ đi ngoài tại chỗ nên thường để cơm dưới đất cho cụ bà ăn. Cụ bà vốn gãy chân, vì để lấy bát cơm nên đã ngã từ trên giường xuống và chết ở ấy, tới đây câu chuyện mới khởi đầu xảy ra.


Không nhớ rõ chuẩn xác là mấy 5 sau, Lưu Thị từ 1 người cơ thể phệ cao mạnh khỏe, bước đi nhanh nhảu, giọng nói vang vang, tự dưng trúng gió bị tê liệt, mồm méo mắt lệch, trò chuyện ko rõ, vệ sinh đi ngoài đều trên giường.

Lưu Thị có 1 người đàn ông, 2 người con gái, đàn ông Lưu Thị là 1 bác sỹ có tay nghề tinh vi, ấy là niềm kiêu căng của Lưu Thị, Lưu Thị đời này toàn lực chăm nom cho đàn ông, sau lúc đàn ông lấy vợ sinh con đều do 1 tay Lưu Thị chăm nom.


Khi Lưu Thị bị liệt, vệ sinh đi ngoài đều trên giường, khi này con gái bự đành đón mẹ về nhà mình ở, vì tránh để mẹ bị lở loét lúc nằm 1 chỗ, người con gái tuy bị cao huyết áp nhưng mà cứ 1 khi lại lật người cho mẹ, nhưng mà Lưu Thị thân người phệ bự, con gái bị cao huyết áp mỗi lần lật mình cho mẹ là lại bị mệt, huyết áp tăng cao phải uống thuốc, con rể đau lòng nhưng nói: Như vậy ko được, chẳng thể tiếp diễn tương tự thêm được nữa.


1 buổi sáng, người đàn ông trên 50 tuổi của Lưu Thị bất giác ko dậy được rồi ra đi, nghe nói tim có vấn đề, cơ mà người đàn ông này từ trước đến nay chẳng phải có bệnh về tim. Lưu Thị 1 thời kì dài ko thấy đàn ông tới thăm mình, mồm nói ko rõ câu nhưng hỏi thăm người thân, tuy mọi người đều nói là bận công tác, nhưng mà trên gương mặt đã biểu đạt ra câu giải đáp, Lưu Thị nước mắt ko dừng rơi.Con người thường cho rằng mình nghĩ gì thì làm nấy, muốn hành ác như thế nào thì hành ác như thế ấy, có bao lăm sự việc đã biểu lộ rõ ràng, cơ bản không hề là vậy.

Luật nhân quả
Luật nhân quả
Luật nhân quả
Luật nhân quả


Giết lợn bị đọa vào tuyền đài

Truyện Pháp Cú kể rằng: Khi Thế Tôn cùng các Tỳ kheo ở tại tinh xá Trúc Lâm, cách ấy ko xa, có đồ tể Cunda sống bằng nghề mổ lợn. Mỗi lần giết thịt lợn, ông ta trói thật chặt vào cột và nện nó bằng 1 cây chày vuông, rồi banh hàm và rót nước sôi vào họng, kế tới đổ nước sôi lên lưng, làm tuột lớp da đen và thui lớp lông cứng bằng 1 bó đuốc. Cuối cùng ông cắt đầu lợn bằng 1 thanh kiếm nhọn rồi xẻ thịt, lột da. Và Cunda đã sống bằng nghề mổ và bán thịt như thế gần 2 mươi 5.

Dù đức Ðạo Sư ở tinh xá cách ấy ko xa nhưng chẳng lúc nào Cunda cúng dường Ngài, dù là 1 cành hoa hay 1 nắm cơm, cũng ko làm 1 việc công đức nào cả. 1 hôm ông mắc bệnh, và dù ông ta vẫn còn sống nhưng mà lửa của tuyền đài A Tỳ đã bốc cháy trước mặt. Khi cực hình tuyền đài giáng xuống đồ tể Cunda, ông ta khởi đầu kêu eng éc và bò bằng tay và đầu gối. Người nhà rất kinh khiếp tìm mọi cách bịt mồm ông ta, chặn các cửa và giam cầm ông ở trong nhà. Suốt 7 ngày, chịu sự âu sầu, ông luôn miệng rống eng éc như lợn.

Vài tỳ kheo đi ngang qua cửa nhà ông, nghe tiếng lợn kêu eng éc ồn ã, lúc về tinh xá, bạch với Đạo Sư: “Bạch Thế Tôn, trong 7 ngày qua cửa nhà đồ tể Cunda đóng kín và ông đó vẫn tiếp diễn giết thịt lợn. Thế Tôn nghĩ xem, biết bao lăm con bị giết thịt. Thật từ trước đến nay chưa thấy người nào ác nghiệt và man rợ như thế!”.

Đức Đạo Sư nói: “Này các Tỳ kheo! Ông ta ko giết thịt lợn trong 7 ngày qua đâu. Sự trừng trị thích hợp với việc làm ác đã xảy tới đối với ông ta. Ngay lúc ông ta còn sống, cực hình của tuyền đài A Tỳ đã tới. Vì cực hình này, ông ta bò đến bò lui trong nhà, kêu la eng éc như 1 con lợn suốt 7 ngày. Bữa nay ông ta đã chết và bị đọa vào tuyền đài A Tỳ”.

Giết lợn bị đọa vào địa ngục
Giết lợn bị đọa vào tuyền đài
Ăn chay bố thí công đức vô lượng vô biên
Ăn chay bố thí công đức vô lượng vô bờ

Ngoại tình gánh nghiệp nặng

Hoàng L. là người Thái Bình. Cha anh ta là 1 người bạn tốt của 1 vị Hòa thượng tên tuổi và tu luyện tốt, ông cũng giỏi về thơ văn và xem thuật tướng. Trước ấy, vị Hòa thượng này đã xem thuật tướng cho Hòang L. và bảo rằng anh ta có 1 tướng mạo làm giàu, sau này sẽ rất thành đạt trong đường đời của anh ta.

Vào tuổi 20, Hoàng L. đã cưới 1 cô vợ xinh đep. Vài 5 sau, anh ta đã được bổ nhậm làm việc như 1 nhân viên chính phủ tại thủ đô nhưng mà vợ của anh ta thì ở quê nhà. Ít 5 sau ấy, Hoàng L. gặp lại vị Hòa thượng, ông rất mực kinh ngạc về những gì nhưng ông ta đã nhận ra ở anh ta và ông nói, “Cách đây nhiều 5, tôi đã thấy anh có 1 dung mạo làm giàu nhưng mà vì sao điều ấy đã lại chỉnh sửa? Trán của anh khi ấy đầy đặn nhưng mà hiện thời nó hình như đã sụp xuống, cằm của anh đã rất tròn nhưng mà giờ đây nó lại rất nhọn. Ngoài ra, lại có khí đen bao quanh trung tâm của lòng bàn tay của anh. Điều này có nghĩa có tai họa đang kì vọng anh, anh cần phải cẩn thận. Thuật tướng của anh đã chỉnh sửa rất nhiều. Tôi thắc mắc anh đã làm điều gì ko đúng luân thường đạo lý?”

Hoàng L. đã ngẫm nghĩ lại những hành vi của anh ta trong vài 5 qua và chỉ 1 điều nhưng anh có thể nghĩ tới là việc bồ bịch của anh ta với nhiều đàn bà khác chỉ cần khoảng anh ta làm việc ở thủ đô. Sau lúc nghe điều này, vị hòa thượng đã thở dài và nói, “Ban đầu anh được duyên cơ có 1 cuộc đời tốt, nhưng mà anh đã ko quí nó và đã có hành vi dâm loạn với những đàn bà khác. Đấy là 1 điều hổ hang nhưng anh đã hủy diệt chính sự may mắn của anh trong hành vi này”. Không lâu sau ấy, Hoàng L. quả thực đã gánh tai nghiệp vào mình như vị Hòa thượng đã được tiên lượng. 1 hôm, khi mà Hoàng L. đang tắm, người cấp dưới của anh đã hại anh ta. Anh đã bị giết thịt bởi 1 thanh kiếm. Bụng anh ta bị cắt đi và tất cả các nội tạng lọt ra ngoài.

Ngoại tình gánh nghiệp nặng
Ngoại tình gánh nghiệp nặng
Tà dâm báo ứng thê thảm
Gian dâm báo ứng thê thảm

Hãy từ bỏ nghề sát sinh

Câu chuyện này xảy ra ở Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc vào cuối thời nhà Thanh. 1 người con trai sinh sống bằng nghề giết thịt mổ lợn. Ông có 4 đàn ông và 1 con gái. Ba người đàn ông bự theo nghề của cha kiếm tiền, cuộc sống gia đình rất sung túc. Sau lúc ông chết đi 3 người đàn ông bự vẫn tiếp diễn nghề ấy. 1 ngày nọ, họ sắm 1 con lợn về sẵn sàng mổ thịt, thì họ bị quá bất ngờ lúc nghe con lợn nói “Làm ơn đừng giết thịt tôi, đừng giết thịt tôi.” Họ hỏi: Ngươi vừa mới nói gì? Con lợn nói: “Ta là cha của các con. Đừng giết thịt ta. Ta được đầu thai thành lợn, bởi vì ta phạm phải tội rất bự ấy là giết thịt rất nhiều lợn lúc còn sống. Bữa nay ta được sắp đặt để gặp các con để truyền đạt 1 điều quan trọng: “Hãy từ bỏ nghề mổ lợn và tìm nghề khác nhưng làm.”

Con lợn chết sau lúc nói xong. Mấy anh em buồn khóc thảm thiết và đem chôn con lợn này. Họ chia nhau của nả của gia đình và mỗi người đi 1 đường. Người đàn ông đầu biến thành đại lý bán gạo; người đàn ông thứ 3 mở 1 cửa tiệm bán áo quần. Người đàn ông út vẫn còn rất nhỏ. Người con gái thì theo chồng. Người đàn ông thứ 2 vẫn tiếp diễn làm nghề giết thịt mổ lợn bất chấp lời cảnh cáo của cha mình.

1 hôm anh ta dùng hết gia tài của mình sắm 1 bầy lợn. Khi anh lùa bầy lợn qua 1 bờ đê, 1 cơn gió mạnh đột ngột đến làm thành bão cát bao phủ cả vùng trời. Gió rất mạnh và tràn khắp vùng làm anh ta ko cách nào mở mắt ra được. Anh ta ko còn lựa chọn nào khác đành phải ngồi xuống bờ đê và đợi hết gió. Cơn gió kéo dài 4 giờ đồng hồ. lúc anh ta mở mắt ra, ko thấy còn con lợn nào cả. Anh ta đã mất sạch hết tiền. Anh ta cảm thấy ăn năn, và ngồi ở ấy khóc và khóc tới lúc đôi mắt bị mù.

Hãy từ bỏ nghề sát sinh
Hãy từ bỏ nghề sát sinh
Nghiệp quả của sát sinh
Nghiệp quả của sát sinh

Nhờ bố thí mới cứu được mạng

Thủ Huồng tên thật Võ Hữu Hoằng, theo chuyện kể thì ông là người châu Đại Phố (tức Cù lao Phố), huyện Phước Chính, phủ Phước Long, nước Đại Nam (nay là Biên Hòa, Việt Nam).Theo Đại Nam nhất thống chí, ông có tên Võ Hữu Hoằng. Nhưng có nơi gọi là Thủ Huồng, Thủ Hoằng, Võ Thủ Hoằng.

Khoảng 5 1755, ở châu Đại Phố có 1 người tên là Võ Hữu Hoằng. Ông xuất thân làm thư lại. Trong 2 mươi 5 làm việc trong quan nha, ông đã nhận được nhiều tiền tài. Sau lúc vợ mất sớm lại ko con, nhưng tiền nong thì quá thừa mứa, Thủ Huồng xin nghỉ việc về nhà.

Thủ Huồng rất yêu vợ, bởi vậy lúc nghe người méc rằng ở chợ Mãnh Ma (Quảng Yên) là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau, ông quyết đi tìm vợ. Gặp nhau, trong khi chuyện trò, Thủ Huồng ngỏ ý muốn xuống địa ngục chơi. Ở cõi âm, ông tận mắt nhận ra những cực hình dành cho những kẻ phạm nhiều tội ác lúc còn sống. Và ông cũng đã nhận ra 1 cái gông phệ, nhưng cai ngục cho biết là để dành cho ông vì ông phạm tội ăn trộm.

Khi quay về cõi dương, Thủ Huồng sợ bị đọa vào tuyền đài, liền đem toàn thể của nả dùng vào việc bố thí, xây dựng những công trình phúc lợi, đặc thù là làm nhà để giúp dân nghèo tránh nước triều dâng ở ngã 3 sông.

Sách Gia Định thành thông chí có ghi:

“Thuở đó, dân cư còn loáng thoáng, ghe đò hẹp bé, hành khách thổi cơm, đun trà rất khổ, thành ra có người phú hộ ở tổng Tân Chánh tên là Võ Thủ Hoằng kết tre lại làm bè, trên che lợp phòng ốc, mua đủ bếp nước, gạo, củi, và đồ ăn để dưới bè cho hành khách tùy ý dùng nhưng ko bắt phải thanh toán. Sau ấy khách buôn cũng kết bè nổi bán đồ ăn nhiều tới 20, 30 chiếc, nhóm thành chợ trên sông, nên mới gọi xứ đó là Nhà Bè. Sau này đường thủy, đường bộ lưu thông, dân cư đông đúc, người qua lại đều dùng ghe nhà nên đò dọc phải dẹp bỏ…Vì kỵ húy tên vua Hoằng Lịch (Càn Long) nhà Đại Thanh nên phải đọc trại đi là Võ Thủ Huồng. Chiếc cầu Thủ Huồng giữa Tân Vạn và chợ Đồn (Biên Hòa) tục truyền do Võ Thủ Huồng xây dựng đến giờ vẫn còn. Sau, Thủ Huồng được vợ đưa xuống cõi âm lần nữa, và thấy cái gông ngày cũ đã bé lại rất nhiều. Từ ấy, ông tiếp diễn làm việc thiện, việc nghĩa cho tới lúc mất. Khá lâu sau, có ông vua nhà Thanh (Trung Hoa) tên là Đạo Quang (1782-1850) khi mới lên ngôi (1820) có cho sứ sang Việt Nam hỏi lai lịch 1 người hầu Gia Định. Số là lúc mới sinh, trong lòng bàn tay vua đã có mấy chữ “Đại Nam, Gia Định, Thủ Hoằng”. Khi rõ chuyện, nhà vua có gửi cúng chùa Chúc Thọ (chùa Thủ Huồng) ở Biên Hòa 1 bộ tượng Phật Tam Thế bằng gỗ trầm hương. Do việc này, nhưng có người bảo rằng: Nhờ thành thật ân hận, Thủ Huồng không những làm tiêu tán cái gông đang chờ ông ở cõi âm, nhưng còn được tiên phong thai làm vua ở Trung Hoa.

Nhờ bố thí mới cứu được mạng
Nhờ bố thí mới cứu được mạng
Bố thí đúng cách hưởng phước cả đời
Bố thí đúng cách hưởng phước cả đời

Nghiệp báo ứng nặng vì sát sinh

Có 1 sư thầy tên gọi là thầy Giác Liên, trụ trì tại chùa Phước Hải, Tỉnh Vĩnh Long đã từng kể về những câu chuyện nhân quả nhưng chính thầy đã chứng kiến trong kiếp tu hành của mình. 1 trong nhiều câu chuyện hay được đề cập nhất ấy là câu chuyện về 1 cậu nhỏ tên Hiền, sống ngày qua ngày bằng việc xin ăn tại chợ Trà Vinh với dạng hình và cơ thể giống như cơ thể của 1 con bò.


Hiền được sinh ra và bự lên trong 1 gia đình với nghề mổ bò truyền thống ở Trà Vinh. Ông nội của Hiền cũng nhờ nghề này nhưng đã phát triển thành khấm khá, giàu sang. 1 ngày nọ, trước lúc sẵn sàng giết mổ 1 con bò cái, đột nhiên ông liền nằm thấy mộng mị, trong giấc mơ có 1 người phụ nữ đi tới bên ông và nhìn ông khóc lóc, nài xin rằng: “Tôi nài xin ông, ông làm ơn đừng giết thịt tôi, hãy để tôi sinh con xong rồi thì ông có thể giết thịt”.


Điều lạ là trong 1 đêm, chẳng những ông chỉ mơ thấy 1 lần nhưng đến 3 lần cùng 1 giấc mơ. Ông bèn mang câu chuyện này đi kể cho vợ nghe thì người vợ có khuyên ông rằng ko nên mổ thịt con bò này nhưng hãy tiếp diễn nuôi nó để cho nó đẻ. Suy đi tính lại, ko hiểu sao rốt cuộc ông vẫn quyết định giết mổ nó để bán.

Sáng hôm sớm sau, con bò này kêu la phệ và kinh khủng hơn so với nhiều con bò khác nhưng ông đã từng thịt, nó lăn lộn, giãy giụa đến mức bứt cả sợi dây trói. Cuối cùng thì nó vẫn phải chết, cái cảnh tượng của con bò lúc ấy khiến ông nội Hiền nhớ mãi cho tới sau này vẫn chẳng thể quên được, chính là cái đầu nó cứ lắc lư qua lại mãi như thể nó vẫn đang còn sống.

Điều ngẫu nhiên ở đây là 1 thời kì sau lúc ông giết thịt con bò ấy thì con dâu ông trở dạ sinh đứa cháu nội trước hết – cháu đích tôn của ông. Sẽ ko có gì đáng nói ví như cháu của ông lúc sinh ra ko mang trên người những dị tật rất giống với dạng hình của 1 con bò. Đấy là con vật môi thì bị sứt, mắt thì lồi tay chân thì ngoằn ngoèo ko đi được, phải bò, riêng cái đầu thì cứ lắc lư qua lại ko thôi.

Đứa trẻ ấy chính là Hiền. Khi nhìn hình ảnh của cháu mình, người ông chẳng thể nào ko liên tưởng tới cái chết của con bò cái nhưng ông đã giết thịt, đặc thù là về động tác lắc lư cái đầu. Nhìn hình ảnh cháu và những chuyện đã qua, ông như đã hiểu nguyên do sâu xa tại sao nhưng cháu mình lúc mới sinh ra đã bị tương tự.

Ông cực kỳ ăn năn và muốn sửa sai, muốn chuộc lại lầm lỗi của mình, ông quyết định bỏ cái nghề đã tồn lại từ lâu đời và là nguồn làm giàu của gia đình từ xưa đến giờ. Ông bỏ hẳn việc sát sinh bò. Kế bên ấy, vì lo chữa trị cho cháu, có bao lăm tài sản, tiền nong ông đều dốc hết. Tuy nhiên cậu nhỏ vẫn phải sống và mang trên mình những dị tật tương tự.


Không những thế, đắng cay hơn, lúc lên 10, Hiền đã phải tuần tự mất đi những người nhà của mình vì người nào cũng mang trọng bệnh và chết bất thình lình, em phải bò lê lết ra chợ để xin ăn. Cứ mỗi lần xin ăn, ko hiểu như có người nào ấy xui khiến, Hiền vừa lết vừa kêu gào, khóc lóc rất thảm thiết: “Xin mọi người, xin các chú các bác, các cô các dì đừng giết thịt con, con là con bò…”.

Đây là 1 câu chuyện về luật nhân quả, về nghiệp báo nhưng đối với mỗi người dân Vĩnh Long, câu chuyện này của sư thầy hình như in sâu vào tâm não họ như những bài học về đạo lý, để biết cách sống và định hướng sống sao cho ko đi theo vết xe đổ của những người được kể trong những câu chuyện của sư thầy.

Giết heo đền tội
Giết heo đền tội
Các con vật đều có tính linh
Các con vật đều có tính linh

Đập phá miếu thờ, làm ô nhục tiên tổ

Trong suốt giai đoạn mở mang cuộc đi lại, chính quyền cưỡng ép người dân phải tàn phá vô kể đồ cổ, đền thờ. Tuy nhiên chỉ có độc nhất vô nhị 1 ngôi miếu bé và linh vị tiên tổ ở trong miếu ấy là ko 1 người nào dám động tới. Nhưng có 2 thanh niên trẻ trong làng thuộc dạng phá phách, hay vỗ ngực xưng tên, thẳng thắn tuyên bố rằng 2 người họ sẽ đập tan cái miếu ấy nếu ko có người nào dám đập.


Cuối cùng, ngôi miếu bị đập phá, linh vị tiên tổ còn bị 2 thanh niên kia dùng chân giẫm nát sau ấy đem lại con sông ở trước thôn vứt đi. Sau lúc đập phá xong, 1 người thì trở về nhà, người còn lại thì ngồi hóng mát và ngơi nghỉ ở ven sông.

Thanh niên trở về nhà, sau lúc vừa về tới nhà bất chợt bị đau bụng oằn oại, khóc thét lăn lộn khắp nhà. Người mẹ của thanh niên này là 1 người vốn tin vào đạo Phật, chứng kiến cảnh đàn ông sau lúc đập phá miếu thờ trở về nhà lại tự dưng bị bạo bệnh, biết tính mệnh đàn ông mình khó giữ nên bà đã chân tình quỳ gối lê la từ nhà tới tận ngôi miếu bé vừa bị đập phá kia để thay đàn ông nhận tội và cầu xin thánh thần.

Riêng người thanh niên này sau lúc bị đau bụng dữ dội cũng đã nhìn thấy mình đã bị nghiệp báo, trong lòng anh ta cảm thấy cực kỳ ăn năn, hối hận tự phát tâm kính trọng Phật. Sau ấy kết quả thực khó tin, anh ta cảm thấy bụng mình giảm đau dần dần và sau ấy hết hẳn. Biết mình được tha thứ, ngày đêm chân tình đọc kinh thỉnh Phật.

Còn người thanh niên ngồi bên bờ sông ngơi nghỉ thì lại ko được gặp may tương tự. Sau lúc hóng mát và ngơi nghỉ xong, anh ta sẵn sàng đi về, ngay khi anh ta vừa đứng dậy dù ko vấp phải thứ gì nhưng mà tự dưng lại bị ngã nhào xuống mặt đất. Anh ta mất bình tĩnh đứng dậy 1 cách quyết tâm, thì đột nhiên phát hiện 2 chân của mình bị uốn cong lại 1 cách phi lí, cho dù dùng vô cùng lực như thế nào thì anh ta cũng chẳng thể nào đứng thẳng dậy được.

Không những thế, 2 chân của anh ta còn bị dính chập vào nhau ở 1 chỗ, chẳng thể nào mở tách ra được. Chưa ngừng lại ở ấy, lưng của anh ta thiên nhiên cũng bị gì và gập xuống, 1 cách khó tin, cứ thế đầu anh ta cứ áp sát, cắm xuống mặt đất dù rằng anh ta cũng đã cố vô cùng để đứng thẳng lưng dậy nhưng mà bất lực.

Trên đường đi về, cứ như thế vừa đi anh ta phải dùng cả 2 tay để chống xuống đất. Diễn ra từ ấy về sau, anh ta đều phải đi với tư thế này trong suốt quãng đời còn lại của mình, 1 cách cực kỳ đau khổ. Động tác và dáng đi này của anh ta làm người khác liên tưởng đến động tác vừa đi vừa dập đầu vái Phật.

Mọi người trong thôn này đều cho rằng vì đập phá miếu, hạ nhục và vứt linh vị tiên tổ nhưng đã bị báo ứng như thế. Anh ta phải chịu tư thế đi này trong suốt quãng đời còn lại của mình.

Quả báo khi đập phá miếu thờ
Quả báo lúc đập phá miếu thờ
Quả báo khi đập phá miếu thờ
Quả báo lúc đập phá miếu thờ

Phí phạm thức ăn trả nghiệp chết đói

Chuyện này do chị Lê Thị Hoa trong phái bộ của Úc kể lại. Đây là chuyện có thật xảy ra ngay trongchính gia đình chị. Những kỉ niệm tính từ lúc chị mới 4 tuổi cho đến nay chị nhớ rất rõ dù rằng đã gần 50 5 trôi qua, nhưng mà sự thực về những câu chuyện nhân quả xảy ra trong gia đình chị thì ko bao giờ nhạt phai. Chị kể lại nhưng đôi lúc ngưng lại vì đôi dòng nước mắt cứ tuôn chảy, có nhẽ vì những quả báo thương tâm xảy ra trong gia đình chị 5 xưa.

Nhà chị có 6 anh em, 2 trai , 4 gái. Gia đình vừa đủ sống ko thiếu thốn chi hết. Ba chị thường đi làm về trễ, nhiều khi 3 chị bị bằng hữu rủ đi nhậu đến khuya mới về, thế là đồ ăn do má chị để lại cho 3 hôm sau đều bị ôi thiu, vì thời ấy nhà chị chưa có tủ lạnh nên đồ ăn chẳng thể để lâu được. Mỗi lúc đồ ăn để lại bị ôi thiu má chị phải đem đi đổ với vẻ mặt buồn bực, lúc đổ má chị thường kêu lên “trời ơi…trời ơi” rồi đổ. Cử chỉ hành động này kéo dài nhiều 5 nhiều tháng. Sau lúc chị bự lên thì gia đình ly tán, 3 thì đi lấy vợ khác có thêm 7 người con, cuộc sống với má mới và 7 người con cực kỳ khó nhọc, cơm ko đủ ăn áo ko đủ mặc, đời sống đói nghèo xuất hiện rất rõ ràng trên từng gương mặt mỗi người trong gia đình. Khi ấy, chị mới 19 tuổi nhưng phải bước chân vào đời làm công, làm thuê để kiếm sống, dành dụm được chút xíu nhưng mà thấy cảnh ngộ của 3 thiếu thốn trăm bề nên chị cầm lòng ko đặng, dù ko có nhiều tiền nhưng mà chị vẫn thầm lặng tương trợ 3, nhưng mà phải thật khôn khéo vì sợ dì và mấy đứa con làm khó Ba. Mỗi tuần chị đều sắm thịt, gạo tới cho Ba, lần nào tới thăm chị đều cho 3 chị 20 đồng, má mới 30 đồng để dì khỏi suy bì. Nhưng lúc Dì quay mặt đi thì chị nhanh tay nhét vào túi 3 thêm 50 đồng nữa, phòng hờ lúc Dì có lấy của Ba 20 đồng thì Ba vẫn còn 50 đồng nhưng xài. Thỉnh thoảng các anh em than đói nhà ko còn gạo, thế là chị phải sang nhà bên mượn đỡ để anh em sống tạm qua ngày. Cuộc sống túng bấn của gia đình 3 chị mỗi ngày trầm trọng hơn ko thấy tín hiệu khá lên. 1 hôm chị tới thăm 3 thì thấy 3 đang nhai các mắt mía của người ta bỏ. Chị hỏi vì sao 3 lại ăn những thứ này? Ba chị đáp ăn để sạch mồm. Sau này chị mới biết vì quá đói nghèo nên ăn mắt mía nhưng sống qua ngày. Cuối cùng 3 chị chết trong cảnh đói nghèo thật âu sầu!

Má chị thường nói có nhẽ khi trước đồ ăn để cho 3 mày ổng ko ăn khiến cho ôi thiu rồi đổ đi bởi vậy hiện thời phải trả nghiệp báo chết trong sự đói nghèo. Chị kể đến đây thì khóc sập sùi khi mà xe đang chở phái bộ trên những đoạn đường khấp khểnh của xứ Ấn. Chị nói thêm về người anh thứ 2 của chị cũng bị đói nghèo, bệnh tật chết trong nỗi lẻ loi vì tính bỏn xẻn với chính gia đình và các người khác. Anh thứ 2 rất sáng dạ, bạt thiệp khó người nào trong gia đình chị sánh bằng. Sau lúc lập gia đình, anh làm ăn rất khá, tiền tài dư dả thi công nhà cửa khang trang 5, 6 lầu. Tiền bạc vô như nước thế nhưng anh chưa bao giờ tương trợ 3 má hay anh em trong gia đình dù đang gặp trắc trở, ko người nào có thể ăn được của anh dù 1 đồng. Anh chỉ biết góp nhặt của người khác cho mình và gia đình anh, anh ko cần ân cần tới âu sầu của người nào cả. Tuy anh rất giàu sang, nhưng mà cái gì hữu ích thì anh tìm cách đưa về cho gia đình Anh, dù ấy là anh em ruột hay bất kỳ ai khác, ko bao giờ anh biết tương trợ dù chuyện bé nhặt. Đối với mọi người anh đối xử rất tệ hại. Càng kể chị càng thấy đau lòng cho 1 con người đặc thù này.

Ngay lúc 3 chị chết anh tự động tới trại hòm và tự đặt sắm hòm loại tốt nhất, cuốn hút nhất để về lịm 3 nhưng mà anh lại bắt chị thanh toán. Chị ko đồng ý và chỉ lấy loại hòm hạng nhị, chị bằng lòng thanh toán. Tới lúc làm đám cho 3, anh gọi thợ chụp hình tới để chụp ảnh cũng nói chị thanh toán. Lần này chị ko trả thì anh lại có cử chỉ hành động ko hay. Những 5 1978 tình hình kinh tế tổ quốc Việt nam còn nhiều gian truân, dù rằng thời khắc đó anh rất giàu, tiền tài dôi thừa nhưng mà anh ko bao giờ tương trợ người nào kể cả anh em trong gia đình mình. Sau lúc chị vượt biên sang nước Úc vật lộn với cuộc sống đất khách quê người ko người nào thân quyến, suốt 25 5 sống ở xứ người, đời sống từ từ bất biến. Khi chị trở về lại Việt nam sau 25 5 cách biệt, nhìn tổ quốc thay đổi chị thấy lòng vui vui. Những con người trước kia rất nghèo thì nay đã phát triển thành giàu sang cuộc sống bất biến no ấm. Nhưng người anh thứ 2 của chị 5 xưa giàu sang thì nay lại biến thành 1 người ko mái nhà che thân vì nhà cửa tiền nong của anh đã bị vợ anh chiếm đoạt và đuổi anh ra khỏi nhà.

Chị về tìm những người nhà 5 xưa, tìm nhiều nơi hỏi nhiều người mới biết anh thứ 2 đang nằm nhà thương vì bị bệnh lao thời gian thứ 3. Gặp được mặt chị anh khóc nức nở như 1 đứa trẻ em mất mẹ. Anh nói với chị hiện thời anh mới thấy nghiệp báo của đời người, đúng là nghiệp báo nhãn tiền xảy ra ngay trong gia đình anh.

Phí phạm thức ăn trả nghiệp chết đói
Phí phạm thức ăn trả nghiệp chết đói
Phí phạm thức ăn trả nghiệp chết đói
Phí phạm thức ăn trả nghiệp chết đói

Háo sắc giết thịt người, bị oan hồn lấy mạng

Vào 1 ngày 5 Canh Ngọ thời vua Càn Long, quan khố bị phát hiện mất ngọc quý, thành ra nghi ngại vào viên quan tạp vụ. Trong ấy có 1 vị tên là Thường Minh, lúc bị thẩm vấn, đột nhiên giọng nói chỉnh sửa, dùng giọng nói của 1 đứa trẻ nói: “Ngọc quý không hề hắn trộm, nhưng mà hắn là người đã hại ta. Ta chính là oan hồn của người bị hắn giết thịt”.

Quan thẩm án nghe vậy thì kinh hoàng, càng tra hỏi thì càng đúng sự thực. Nếu là chuyện xảy ra ở thời đương đại, khẳng định là đã mau chóng đưa đi xét nghiệm thần kinh. Nhưng thời đó, từ triều đình cho tới quần chúng, đều tin quỷ thần. Đề cập chuyện quỷ thần, quan phá án kia vẫn có chút sợ, ông ko dám tùy tiện quyết định, bèn lệnh đưa Thường Minh tới Hình bộ. Hình bộ vừa hay khi ấy là cha của Kỷ Hiểu Lam tiếp thu bản án này. Ông cộng với quan phủ Giang Tô thụ lý vụ án. Phụ thể bám trên người Thường Minh nói: “Ta tên là Nhị Cách, 5 nay 14 tuổi, nhà ở Hải Điến. Cha ta tên là Tinh Vọng. Ngày 15 tháng Giêng tức Tết Nguyên Tiêu 5 kia, Thường Minh cùng ta đi xem hội đèn lồng. Ngờ đâu Thường Minh thích ta, khi về đã trêu chọc ta. Ta liền liều mình kháng cự, hò hét. Thường Minh nghe vậy liền cuống cuồng, dùng thắt lưng siết cổ ta tới chết, rồi chôn xác ta ở dưới bờ sông. Sau ấy, cha ta nghi ngại Thường Minh hại ta, nên đã tới tuần thành Ngự Sử khiếu nại hắn. Vụ án được đưa tới hình bộ, nhưng mà vì ko có bằng chứng, kết luận cần truy bắt thủ phạm khác. Thành ra, oan hồn của ta xoành xoạch bám theo Thường Minh, thoạt đầu đứng cách hắn chừng 4-5 thước đã thấy hot hừng hực, chẳng thể đến gần. Sau thì nhiệt độ tiêu giảm dần, ta có thể đến gần hắn chừng 2-3 thước, rồi có thể gần hắn 1 thước. Ngày bữa qua ta cảm thấy ko còn hot, rốt cuộc có thể bám vào trên người hắn”.

Hình bộ tìm lại giấy má vụ án trước kia, quả nhiên đúng như lời oan hồn nói. Quan chủ thẩm hỏi: “Xác của ngươi hiện nay ở đâu?”. Oan hồn Nhị Cách nói rằng xác chôn kế bên cây liễu ở bờ sông. Quan chủ thẩm cho người tới khảo sát, quả nhiên đã đào thấy 1 xác chết, vẫn chưa bị thối rữa. Quan chủ thẩm triệu cha của Nhị Cách đến nhận dạng, vừa nhận ra cái xác, ông liền khóc phệ: “Con ơi, cha hiện thời mới tìm được con!…”. Vụ án tưởng chừng ko có bằng chứng, đường đường là Hình bộ triều đình, rồi bao lăm quan phủ thẩm án cùng đám bà cốt vẫn ko tìm ra chút manh mối. Nhưng nhưng oan hồn Nhị Cách đã chứng minh từng cốt truyện vụ án, đều là sự thực, bằng chứng cực kỳ chính xác. Sau ấy lại tra hỏi thêm Thường Minh, vừa gọi tên Thường Minh, thìa là giọng của Thường Minh rất tỉnh ngủ ngụy biện; nhưng mà vừa gọi tên Nhị Cách, thì lại là giọng nói của Nhị Cách, mê mê tỉnh tỉnh. Tra thẩm tới rốt cuộc, bằng chứng đã vô cùng chính xác, chẳng thể chối cãi, Thường Minh chỉ có thể nhận tội.

Bản án tới đây đã rõ ràng, Hình bộ trình báo với vua Càn Long. Kết quả, Thường Minh bị phán quyết xử trảm. Vừa đưa ra phán xét, oan hồn Nhị Cách hưng phấn lạ đời, đột nhiên bự tiếng hét phệ “Bán… bánh” – chính là khi còn sống Nhị Cách đi bán bánh vẫn thường rao tương tự. Tiếng rao ấy so với khi Nhị Cách còn sống là giống nhau như đúc. Cha của Nhị Cách nghe thấy vậy thì xúc động nói: “Lâu rồi ta mới được nghe thấy tiếng con!”. Ông lại hỏi: “Con ơi, hiện thời con muốn đi đâu?”. Oan hồn Nhị Cách nói: “Con cũng ko biết, cha, con phải đi rồi!”. Từ ấy về sau, lúc hỏi lại Thường Minh, thì ko thấy hắn nói giọng của Nhị Cách nữa.

Háo sắc giết người, bị oan hồn lấy mạng
Háo sắc giết thịt người, bị oan hồn lấy mạng
Nhân quả báo ứng
Nhân nghiệp báo ứng

Rùa phóng sinh trả ơn cứu mạng

1 ngày, ngư gia dùng lưới bắt được 1 con rùa bự, đúng khi lúc họ sẵn sàng giết thịt giết mổ bán thì ông Lâm đi ngang qua, và thấy 1 đám đông vây quanh con rùa sẵn sàng giết thịt nó, nhận ra cảnh tượng con rùa ko dừng vươn cổ cúi đầu lậy người bao quanh, 2 mắt của chú rùa đầy nước mắt, hình như cầu cứu mọi người. Ông Lâm đã xuất tâm từ bi, ko tiếc bỏ ra 1 số tiền bự để sắm con rùa, cùng lúc nhờ mọi người giúp đưa nó quay về biển để phóng sinh. Do lo âu rằng người nào ấy sẽ lại bắt lấy nó và giết thịt, thành ra ông đã viết lên mai của rùa 5 chữ là “Gặp duyên số phóng sinh”, phê duyệt ấy kì vọng rằng người sau sẽ từ bi, khai ân cho nó được sống tự do, đừng tùy ý sát hại nó. Sau lúc viết xong họ liền đưa chú rùa ra biển phóng sinh, rất nhiều người dân tại bãi biển khi ấy đều nhận ra con rùa đồ sộ nổi lên, ko dừng liên tiếp khấu đầu tạ ơn ông Lâm.


Mọi người chứng kiến cảnh tượng ấy đều cảm thấy rất cảm động. Thành ra, họ cũng tự hẹn với nhau, nếu sau này gặp phải 1 con rùa bự tương tự, thì họ sẽ ko bắt, ko giết thịt và cũng ko ăn. Với khẩu hiệu và phương châm “3 ko” này, cho tới bữa nay nó vẫn còn được lưu giữ ở khu vực này.


Sự việc đã trôi qua 16 5, cậu đàn ông thứ 2 của ông Lâm đã được nhận vào trường thương mại tại Đài Bắc, trong dịp nghỉ lễ cậu tranh thủ về thăm nhà. Lần ấy, lúc đang trong chuyến hành trình trở về, do thuyền đi ngược dòng biển, thật rủi ro con tàu bị mắc cạn và chìm. Hơn 100 hành khách trên tàu, thì có đến 90 người bị dòng nước nhấn chìm. Tại thời khắc này, con thuyền chứa chan tiếng hò hét cứu mạng, đích thực đinh tai nhức óc. Con trai ông Lâm dù rằng biết bơi, nhưng mà do sóng biển quá bự, anh phần đông bị nhấn chìm, quyết tâm phấn đấu rốt cuộc để sinh tồn trên biển. Tự dưng anh cảm thấy thân thể mình như được đẩy lên bởi 1 vật giống như chiếc bàn tròn bự, nhìn kỹ, thì hóa ra anh đang nằm trên lưng 1 con rùa, sau ấy nhìn kĩ hơn, anh thấy mồm của con rùa phệ giống như 1 chậu rửa mặt. Anh chợt hoảng loạn, nghĩ rằng không lẽ mình sẽ phải chôn thân trong bụng con rùa này. Thành ra, anh định quay người nhảy xuống dòng nước, nhưng mà do khi ấy đã quá đuối sức, ko còn sức lực nào để nhưng đấu tranh tiếp nữa.


Sau ấy, ko biết đã qua 1 khoảng thời kì bao lâu, lúc quay lưng lại, tự dưng anh nhận ra trên lưng con rùa viết đúng 5 chữ “gặp duyên số phóng sinh”. Anh mới biết rằng, con rùa biển này chính là con rùa nhưng cha anh đã từng cứu mạng. Tự dưng, tâm cảnh của anh bỗng chuyển từ đau thương, khiếp sợ thành thú vui vô biên cùng sự xoa dịu, hóa ra chú rùa chính là tới cứu mình. Thành ra, anh đã ôm con rùa biển, để cho con rùa mang mình đi, trong mồm liên tụng niệm Phật hiệu và nguyện cầu.


Con rùa rất thư thái khuấy động 4 chân, giống như đang chèo thuyền, quyết tâm đương đầu lại với sóng phệ gió bự để đưa anh lên bờ, lúc vẫn còn chưa lên tới bờ, anh liền nhảy xuống vùng nước nông. Con trai ông Lâm liền hợp thập bái tạ ơn cứu mạng của con rùa. Con rùa cũng vương cổ lên, gật gật đầu, giống như trả lễ lại, hơn nữa còn mở mồm cố nói gì ấy, phát ra âm thanh, có vẻ như rất vui vẻ hạnh phúc chúc mừng, sau ấy mới quay đầu và bơi đi, người dân trên bờ đều lo âu vội đến chúc mừng.


Trong vụ đắm tàu lần này, chỉ có vài chục hành khách còn sinh tồn, sau cuộc khảo sát mọi người phát xuất hiện hóa ra họ đích thực đều là những người con hiếu hạnh, những người đàn bà tiết hạnh, và thường nhật hay làm những việc thiện, chúng ta có thể nhận ra ông Trời đều đang ban phúc lành bảo hộ cho những người lương thiện, nhân hậu và tốt bụng.

Rùa phóng sinh trả ơn cứu mạng
Rùa phóng sinh trả ơn cứu mạng
Phóng sinh phước đức vô lượng
Phóng sinh phước đức vô lượng

.

Xem thêm thông tin Top 10 Câu chuyện hay về luật nhân quả

Top 10 Câu chuyện hay về luật nhân quả

Luật nhân quả là quy luật khách quan của sự sống trong vũ trụ. Có tu học Phật pháp hay ko thì mọi người đều sống trong luật nhân quả. Từ sự vận hành của thiên thể, sự di chuyển của núi sông, cho tới cành cây ngọn cỏ, tất cả đều là kết quả của sự vận hành luật nhân quả. Cùng Toplist điểm qua 1 số câu chuyện hay và ý nghĩa về luật nhân quả để chiêm nghiệm cuộc sống nhé!

1

6

1

6

Ác giả ác báo

Thập niên 70 có 1 sự việc xảy ra tại thị thành Bắc Kinh. 1 người đàn bà hơn 60 tuổi, thân hình cao bự mạnh khỏe tên là Lưu Thị, gia đình có 6 người thuê vài căn phòng ở trọ, 1 gian là mẹ chồng ở, 2 gian là người đàn bà ấy và cháu trai cháu gái ở, còn 2 gian khác là đàn ông và con gái ở. Chồng của Lưu Thị mất tính từ lúc nào thì ko rõ, chỉ biết lúc gia đình chuyển về đây anh đã ko còn nữa. Mẹ chồng không hề là mẹ ruột của chồng Lưu Thị, bởi chồng Lưu Thị chỉ là con nuôi của cụ bà. 7, 8 mươi 5 trước, theo tục lệ ở làng, con gái ko được kế thừa gia tư của gia đình, và đàn bà có gia tư nhưng ko có đàn ông thì nhất mực phải nhận đàn ông của người nhà làm con nuôi, nếu ko toàn thể gia tài đều bị người nhà kế thừa. Việc nhận con nuôi này là cực kỳ nghiêm chỉnh, tuy rằng ko có thủ tục hồ sơ pháp lý nhưng mà còn nghiêm chỉnh hơn nhiều so với thủ tục pháp lý hiện nay. Chồng Lưu Thị đã chết nhưng mà cả gia đình cô đều phải có phận sự nuôi dưỡng cụ bà. Cuộc sống hàng ngày của cụ bà ra sao, ko người nào được biết, chỉ biết từ trước đến nay cụ bà ko bao giờ ăn cơm chung cùng mọi người, cơm cháo đều được đem đến phòng cho bà. 1 ngày rủi ro, cụ bà bị ngã gãy xương phải nằm trên giường, ấy là căn phòng phía nam, mùa đông ko có ánh mặt trời, cũng ko bao giờ thấy có người đưa cụ ra ngoài phòng tắm nắng, càng ko có người lật mình cho cụ, phía dưới mông của cụ thịt bị thối loét vì nằm liệt giường liệt chiếu. Từ ấy láng giềng đều dần dần ko nhận ra cụ bà nữa. Sau này mọi người thường xuyên nghe thấy lời ân oán trách của Lưu Thị rằng cụ bà hay đi ngoài trên giường, và mọi người cũng thường xuyên nghe thấy tiếng kêu đói kêu khát của cụ bà. Rồi 1 ngày người ta nghe nói mẹ chồng của Lưu Thị chết đói trên sàn nhà, vì Lưu Thị sợ cụ bà sẽ đi ngoài tại chỗ nên thường để cơm dưới đất cho cụ bà ăn. Cụ bà vốn gãy chân, vì để lấy bát cơm nên đã ngã từ trên giường xuống và chết ở ấy, tới đây câu chuyện mới khởi đầu xảy ra. Không nhớ rõ chuẩn xác là mấy 5 sau, Lưu Thị từ 1 người cơ thể phệ cao mạnh khỏe, bước đi nhanh nhảu, giọng nói vang vang, tự dưng trúng gió bị tê liệt, mồm méo mắt lệch, trò chuyện ko rõ, vệ sinh đi ngoài đều trên giường.Lưu Thị có 1 người đàn ông, 2 người con gái, đàn ông Lưu Thị là 1 bác sỹ có tay nghề tinh vi, ấy là niềm kiêu căng của Lưu Thị, Lưu Thị đời này toàn lực chăm nom cho đàn ông, sau lúc đàn ông lấy vợ sinh con đều do 1 tay Lưu Thị chăm nom. Khi Lưu Thị bị liệt, vệ sinh đi ngoài đều trên giường, khi này con gái bự đành đón mẹ về nhà mình ở, vì tránh để mẹ bị lở loét lúc nằm 1 chỗ, người con gái tuy bị cao huyết áp nhưng mà cứ 1 khi lại lật người cho mẹ, nhưng mà Lưu Thị thân người phệ bự, con gái bị cao huyết áp mỗi lần lật mình cho mẹ là lại bị mệt, huyết áp tăng cao phải uống thuốc, con rể đau lòng nhưng nói: Như vậy ko được, chẳng thể tiếp diễn tương tự thêm được nữa. 1 buổi sáng, người đàn ông trên 50 tuổi của Lưu Thị bất giác ko dậy được rồi ra đi, nghe nói tim có vấn đề, cơ mà người đàn ông này từ trước đến nay chẳng phải có bệnh về tim. Lưu Thị 1 thời kì dài ko thấy đàn ông tới thăm mình, mồm nói ko rõ câu nhưng hỏi thăm người thân, tuy mọi người đều nói là bận công tác, nhưng mà trên gương mặt đã biểu đạt ra câu giải đáp, Lưu Thị nước mắt ko dừng rơi.Con người thường cho rằng mình nghĩ gì thì làm nấy, muốn hành ác như thế nào thì hành ác như thế ấy, có bao lăm sự việc đã biểu lộ rõ ràng, cơ bản không hề là vậy.

Luật nhân quả
Luật nhân quả

(adsbygoogle = window.adsbygoogle || []).push({});

2

0

2

0

Giết lợn bị đọa vào tuyền đài

Truyện Pháp Cú kể rằng: Khi Thế Tôn cùng các Tỳ kheo ở tại tinh xá Trúc Lâm, cách ấy ko xa, có đồ tể Cunda sống bằng nghề mổ lợn. Mỗi lần giết thịt lợn, ông ta trói thật chặt vào cột và nện nó bằng 1 cây chày vuông, rồi banh hàm và rót nước sôi vào họng, kế tới đổ nước sôi lên lưng, làm tuột lớp da đen và thui lớp lông cứng bằng 1 bó đuốc. Cuối cùng ông cắt đầu lợn bằng 1 thanh kiếm nhọn rồi xẻ thịt, lột da. Và Cunda đã sống bằng nghề mổ và bán thịt như thế gần 2 mươi 5.
Dù đức Ðạo Sư ở tinh xá cách ấy ko xa nhưng chẳng lúc nào Cunda cúng dường Ngài, dù là 1 cành hoa hay 1 nắm cơm, cũng ko làm 1 việc công đức nào cả. 1 hôm ông mắc bệnh, và dù ông ta vẫn còn sống nhưng mà lửa của tuyền đài A Tỳ đã bốc cháy trước mặt. Khi cực hình tuyền đài giáng xuống đồ tể Cunda, ông ta khởi đầu kêu eng éc và bò bằng tay và đầu gối. Người nhà rất kinh khiếp tìm mọi cách bịt mồm ông ta, chặn các cửa và giam cầm ông ở trong nhà. Suốt 7 ngày, chịu sự âu sầu, ông luôn miệng rống eng éc như lợn.
Vài tỳ kheo đi ngang qua cửa nhà ông, nghe tiếng lợn kêu eng éc ồn ã, lúc về tinh xá, bạch với Đạo Sư: “Bạch Thế Tôn, trong 7 ngày qua cửa nhà đồ tể Cunda đóng kín và ông đó vẫn tiếp diễn giết thịt lợn. Thế Tôn nghĩ xem, biết bao lăm con bị giết thịt. Thật từ trước đến nay chưa thấy người nào ác nghiệt và man rợ như thế!”.
Đức Đạo Sư nói: “Này các Tỳ kheo! Ông ta ko giết thịt lợn trong 7 ngày qua đâu. Sự trừng trị thích hợp với việc làm ác đã xảy tới đối với ông ta. Ngay lúc ông ta còn sống, cực hình của tuyền đài A Tỳ đã tới. Vì cực hình này, ông ta bò đến bò lui trong nhà, kêu la eng éc như 1 con lợn suốt 7 ngày. Bữa nay ông ta đã chết và bị đọa vào tuyền đài A Tỳ”.

Giết lợn bị đọa vào tuyền đài
Ăn chay bố thí công đức vô lượng vô bờ

3

0

3

0

Ngoại tình gánh nghiệp nặng

Hoàng L. là người Thái Bình. Cha anh ta là 1 người bạn tốt của 1 vị Hòa thượng tên tuổi và tu luyện tốt, ông cũng giỏi về thơ văn và xem thuật tướng. Trước ấy, vị Hòa thượng này đã xem thuật tướng cho Hòang L. và bảo rằng anh ta có 1 tướng mạo làm giàu, sau này sẽ rất thành đạt trong đường đời của anh ta.

Vào tuổi 20, Hoàng L. đã cưới 1 cô vợ xinh đep. Vài 5 sau, anh ta đã được bổ nhậm làm việc như 1 nhân viên chính phủ tại thủ đô nhưng mà vợ của anh ta thì ở quê nhà. Ít 5 sau ấy, Hoàng L. gặp lại vị Hòa thượng, ông rất mực kinh ngạc về những gì nhưng ông ta đã nhận ra ở anh ta và ông nói, “Cách đây nhiều 5, tôi đã thấy anh có 1 dung mạo làm giàu nhưng mà vì sao điều ấy đã lại chỉnh sửa? Trán của anh khi ấy đầy đặn nhưng mà hiện thời nó hình như đã sụp xuống, cằm của anh đã rất tròn nhưng mà giờ đây nó lại rất nhọn. Ngoài ra, lại có khí đen bao quanh trung tâm của lòng bàn tay của anh. Điều này có nghĩa có tai họa đang kì vọng anh, anh cần phải cẩn thận. Thuật tướng của anh đã chỉnh sửa rất nhiều. Tôi thắc mắc anh đã làm điều gì ko đúng luân thường đạo lý?”

Hoàng L. đã ngẫm nghĩ lại những hành vi của anh ta trong vài 5 qua và chỉ 1 điều nhưng anh có thể nghĩ tới là việc bồ bịch của anh ta với nhiều đàn bà khác chỉ cần khoảng anh ta làm việc ở thủ đô. Sau lúc nghe điều này, vị hòa thượng đã thở dài và nói, “Ban đầu anh được duyên cơ có 1 cuộc đời tốt, nhưng mà anh đã ko quí nó và đã có hành vi dâm loạn với những đàn bà khác. Đấy là 1 điều hổ hang nhưng anh đã hủy diệt chính sự may mắn của anh trong hành vi này”. Không lâu sau ấy, Hoàng L. quả thực đã gánh tai nghiệp vào mình như vị Hòa thượng đã được tiên lượng. 1 hôm, khi mà Hoàng L. đang tắm, người cấp dưới của anh đã hại anh ta. Anh đã bị giết thịt bởi 1 thanh kiếm. Bụng anh ta bị cắt đi và tất cả các nội tạng lọt ra ngoài.

Ngoại tình gánh nghiệp nặng
Gian dâm báo ứng thê thảm

4

2

4

2

Hãy từ bỏ nghề sát sinh

Câu chuyện này xảy ra ở Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc vào cuối thời nhà Thanh. 1 người con trai sinh sống bằng nghề giết thịt mổ lợn. Ông có 4 đàn ông và 1 con gái. Ba người đàn ông bự theo nghề của cha kiếm tiền, cuộc sống gia đình rất sung túc. Sau lúc ông chết đi 3 người đàn ông bự vẫn tiếp diễn nghề ấy. 1 ngày nọ, họ sắm 1 con lợn về sẵn sàng mổ thịt, thì họ bị quá bất ngờ lúc nghe con lợn nói “Làm ơn đừng giết thịt tôi, đừng giết thịt tôi.” Họ hỏi: Ngươi vừa mới nói gì? Con lợn nói: “Ta là cha của các con. Đừng giết thịt ta. Ta được đầu thai thành lợn, bởi vì ta phạm phải tội rất bự ấy là giết thịt rất nhiều lợn lúc còn sống. Bữa nay ta được sắp đặt để gặp các con để truyền đạt 1 điều quan trọng: “Hãy từ bỏ nghề mổ lợn và tìm nghề khác nhưng làm.”Con lợn chết sau lúc nói xong. Mấy anh em buồn khóc thảm thiết và đem chôn con lợn này. Họ chia nhau của nả của gia đình và mỗi người đi 1 đường. Người đàn ông đầu biến thành đại lý bán gạo; người đàn ông thứ 3 mở 1 cửa tiệm bán áo quần. Người đàn ông út vẫn còn rất nhỏ. Người con gái thì theo chồng. Người đàn ông thứ 2 vẫn tiếp diễn làm nghề giết thịt mổ lợn bất chấp lời cảnh cáo của cha mình.
1 hôm anh ta dùng hết gia tài của mình sắm 1 bầy lợn. Khi anh lùa bầy lợn qua 1 bờ đê, 1 cơn gió mạnh đột ngột đến làm thành bão cát bao phủ cả vùng trời. Gió rất mạnh và tràn khắp vùng làm anh ta ko cách nào mở mắt ra được. Anh ta ko còn lựa chọn nào khác đành phải ngồi xuống bờ đê và đợi hết gió. Cơn gió kéo dài 4 giờ đồng hồ. lúc anh ta mở mắt ra, ko thấy còn con lợn nào cả. Anh ta đã mất sạch hết tiền. Anh ta cảm thấy ăn năn, và ngồi ở ấy khóc và khóc tới lúc đôi mắt bị mù.

Hãy từ bỏ nghề sát sinh
Nghiệp quả của sát sinh

5

0

5

0

Nhờ bố thí mới cứu được mạng

Thủ Huồng tên thật Võ Hữu Hoằng, theo chuyện kể thì ông là người châu Đại Phố (tức Cù lao Phố), huyện Phước Chính, phủ Phước Long, nước Đại Nam (nay là Biên Hòa, Việt Nam).Theo Đại Nam nhất thống chí, ông có tên Võ Hữu Hoằng. Nhưng có nơi gọi là Thủ Huồng, Thủ Hoằng, Võ Thủ Hoằng.

Khoảng 5 1755, ở châu Đại Phố có 1 người tên là Võ Hữu Hoằng. Ông xuất thân làm thư lại. Trong 2 mươi 5 làm việc trong quan nha, ông đã nhận được nhiều tiền tài. Sau lúc vợ mất sớm lại ko con, nhưng tiền nong thì quá thừa mứa, Thủ Huồng xin nghỉ việc về nhà.

Thủ Huồng rất yêu vợ, bởi vậy lúc nghe người méc rằng ở chợ Mãnh Ma (Quảng Yên) là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau, ông quyết đi tìm vợ. Gặp nhau, trong khi chuyện trò, Thủ Huồng ngỏ ý muốn xuống địa ngục chơi. Ở cõi âm, ông tận mắt nhận ra những cực hình dành cho những kẻ phạm nhiều tội ác lúc còn sống. Và ông cũng đã nhận ra 1 cái gông phệ, nhưng cai ngục cho biết là để dành cho ông vì ông phạm tội ăn trộm.

Khi quay về cõi dương, Thủ Huồng sợ bị đọa vào tuyền đài, liền đem toàn thể của nả dùng vào việc bố thí, xây dựng những công trình phúc lợi, đặc thù là làm nhà để giúp dân nghèo tránh nước triều dâng ở ngã 3 sông.

Sách Gia Định thành thông chí có ghi:

“Thuở đó, dân cư còn loáng thoáng, ghe đò hẹp bé, hành khách thổi cơm, đun trà rất khổ, thành ra có người phú hộ ở tổng Tân Chánh tên là Võ Thủ Hoằng kết tre lại làm bè, trên che lợp phòng ốc, mua đủ bếp nước, gạo, củi, và đồ ăn để dưới bè cho hành khách tùy ý dùng nhưng ko bắt phải thanh toán. Sau ấy khách buôn cũng kết bè nổi bán đồ ăn nhiều tới 20, 30 chiếc, nhóm thành chợ trên sông, nên mới gọi xứ đó là Nhà Bè. Sau này đường thủy, đường bộ lưu thông, dân cư đông đúc, người qua lại đều dùng ghe nhà nên đò dọc phải dẹp bỏ…Vì kỵ húy tên vua Hoằng Lịch (Càn Long) nhà Đại Thanh nên phải đọc trại đi là Võ Thủ Huồng. Chiếc cầu Thủ Huồng giữa Tân Vạn và chợ Đồn (Biên Hòa) tục truyền do Võ Thủ Huồng xây dựng đến giờ vẫn còn. Sau, Thủ Huồng được vợ đưa xuống cõi âm lần nữa, và thấy cái gông ngày cũ đã bé lại rất nhiều. Từ ấy, ông tiếp diễn làm việc thiện, việc nghĩa cho tới lúc mất. Khá lâu sau, có ông vua nhà Thanh (Trung Hoa) tên là Đạo Quang (1782-1850) khi mới lên ngôi (1820) có cho sứ sang Việt Nam hỏi lai lịch 1 người hầu Gia Định. Số là lúc mới sinh, trong lòng bàn tay vua đã có mấy chữ “Đại Nam, Gia Định, Thủ Hoằng”. Khi rõ chuyện, nhà vua có gửi cúng chùa Chúc Thọ (chùa Thủ Huồng) ở Biên Hòa 1 bộ tượng Phật Tam Thế bằng gỗ trầm hương. Do việc này, nhưng có người bảo rằng: Nhờ thành thật ân hận, Thủ Huồng không những làm tiêu tán cái gông đang chờ ông ở cõi âm, nhưng còn được tiên phong thai làm vua ở Trung Hoa.

Nhờ bố thí mới cứu được mạng
Bố thí đúng cách hưởng phước cả đời

6

1

6

1

Nghiệp báo ứng nặng vì sát sinh

Có 1 sư thầy tên gọi là thầy Giác Liên, trụ trì tại chùa Phước Hải, Tỉnh Vĩnh Long đã từng kể về những câu chuyện nhân quả nhưng chính thầy đã chứng kiến trong kiếp tu hành của mình. 1 trong nhiều câu chuyện hay được đề cập nhất ấy là câu chuyện về 1 cậu nhỏ tên Hiền, sống ngày qua ngày bằng việc xin ăn tại chợ Trà Vinh với dạng hình và cơ thể giống như cơ thể của 1 con bò. Hiền được sinh ra và bự lên trong 1 gia đình với nghề mổ bò truyền thống ở Trà Vinh. Ông nội của Hiền cũng nhờ nghề này nhưng đã phát triển thành khấm khá, giàu sang. 1 ngày nọ, trước lúc sẵn sàng giết mổ 1 con bò cái, đột nhiên ông liền nằm thấy mộng mị, trong giấc mơ có 1 người phụ nữ đi tới bên ông và nhìn ông khóc lóc, nài xin rằng: “Tôi nài xin ông, ông làm ơn đừng giết thịt tôi, hãy để tôi sinh con xong rồi thì ông có thể giết thịt”. Điều lạ là trong 1 đêm, chẳng những ông chỉ mơ thấy 1 lần nhưng đến 3 lần cùng 1 giấc mơ. Ông bèn mang câu chuyện này đi kể cho vợ nghe thì người vợ có khuyên ông rằng ko nên mổ thịt con bò này nhưng hãy tiếp diễn nuôi nó để cho nó đẻ. Suy đi tính lại, ko hiểu sao rốt cuộc ông vẫn quyết định giết mổ nó để bán.Sáng hôm sớm sau, con bò này kêu la phệ và kinh khủng hơn so với nhiều con bò khác nhưng ông đã từng thịt, nó lăn lộn, giãy giụa đến mức bứt cả sợi dây trói. Cuối cùng thì nó vẫn phải chết, cái cảnh tượng của con bò lúc ấy khiến ông nội Hiền nhớ mãi cho tới sau này vẫn chẳng thể quên được, chính là cái đầu nó cứ lắc lư qua lại mãi như thể nó vẫn đang còn sống.Điều ngẫu nhiên ở đây là 1 thời kì sau lúc ông giết thịt con bò ấy thì con dâu ông trở dạ sinh đứa cháu nội trước hết – cháu đích tôn của ông. Sẽ ko có gì đáng nói ví như cháu của ông lúc sinh ra ko mang trên người những dị tật rất giống với dạng hình của 1 con bò. Đấy là con vật môi thì bị sứt, mắt thì lồi tay chân thì ngoằn ngoèo ko đi được, phải bò, riêng cái đầu thì cứ lắc lư qua lại ko thôi.Đứa trẻ ấy chính là Hiền. Khi nhìn hình ảnh của cháu mình, người ông chẳng thể nào ko liên tưởng tới cái chết của con bò cái nhưng ông đã giết thịt, đặc thù là về động tác lắc lư cái đầu. Nhìn hình ảnh cháu và những chuyện đã qua, ông như đã hiểu nguyên do sâu xa tại sao nhưng cháu mình lúc mới sinh ra đã bị tương tự.Ông cực kỳ ăn năn và muốn sửa sai, muốn chuộc lại lầm lỗi của mình, ông quyết định bỏ cái nghề đã tồn lại từ lâu đời và là nguồn làm giàu của gia đình từ xưa đến giờ. Ông bỏ hẳn việc sát sinh bò. Kế bên ấy, vì lo chữa trị cho cháu, có bao lăm tài sản, tiền nong ông đều dốc hết. Tuy nhiên cậu nhỏ vẫn phải sống và mang trên mình những dị tật tương tự.Không những thế, đắng cay hơn, lúc lên 10, Hiền đã phải tuần tự mất đi những người nhà của mình vì người nào cũng mang trọng bệnh và chết bất thình lình, em phải bò lê lết ra chợ để xin ăn. Cứ mỗi lần xin ăn, ko hiểu như có người nào ấy xui khiến, Hiền vừa lết vừa kêu gào, khóc lóc rất thảm thiết: “Xin mọi người, xin các chú các bác, các cô các dì đừng giết thịt con, con là con bò…”.Đây là 1 câu chuyện về luật nhân quả, về nghiệp báo nhưng đối với mỗi người dân Vĩnh Long, câu chuyện này của sư thầy hình như in sâu vào tâm não họ như những bài học về đạo lý, để biết cách sống và định hướng sống sao cho ko đi theo vết xe đổ của những người được kể trong những câu chuyện của sư thầy.

Giết heo đền tội
Các con vật đều có tính linh

7

1

7

1

Đập phá miếu thờ, làm ô nhục tiên tổ

Trong suốt giai đoạn mở mang cuộc đi lại, chính quyền cưỡng ép người dân phải tàn phá vô kể đồ cổ, đền thờ. Tuy nhiên chỉ có độc nhất vô nhị 1 ngôi miếu bé và linh vị tiên tổ ở trong miếu ấy là ko 1 người nào dám động tới. Nhưng có 2 thanh niên trẻ trong làng thuộc dạng phá phách, hay vỗ ngực xưng tên, thẳng thắn tuyên bố rằng 2 người họ sẽ đập tan cái miếu ấy nếu ko có người nào dám đập. Cuối cùng, ngôi miếu bị đập phá, linh vị tiên tổ còn bị 2 thanh niên kia dùng chân giẫm nát sau ấy đem lại con sông ở trước thôn vứt đi. Sau lúc đập phá xong, 1 người thì trở về nhà, người còn lại thì ngồi hóng mát và ngơi nghỉ ở ven sông.Thanh niên trở về nhà, sau lúc vừa về tới nhà bất chợt bị đau bụng oằn oại, khóc thét lăn lộn khắp nhà. Người mẹ của thanh niên này là 1 người vốn tin vào đạo Phật, chứng kiến cảnh đàn ông sau lúc đập phá miếu thờ trở về nhà lại tự dưng bị bạo bệnh, biết tính mệnh đàn ông mình khó giữ nên bà đã chân tình quỳ gối lê la từ nhà tới tận ngôi miếu bé vừa bị đập phá kia để thay đàn ông nhận tội và cầu xin thánh thần.Riêng người thanh niên này sau lúc bị đau bụng dữ dội cũng đã nhìn thấy mình đã bị nghiệp báo, trong lòng anh ta cảm thấy cực kỳ ăn năn, hối hận tự phát tâm kính trọng Phật. Sau ấy kết quả thực khó tin, anh ta cảm thấy bụng mình giảm đau dần dần và sau ấy hết hẳn. Biết mình được tha thứ, ngày đêm chân tình đọc kinh thỉnh Phật.Còn người thanh niên ngồi bên bờ sông ngơi nghỉ thì lại ko được gặp may tương tự. Sau lúc hóng mát và ngơi nghỉ xong, anh ta sẵn sàng đi về, ngay khi anh ta vừa đứng dậy dù ko vấp phải thứ gì nhưng mà tự dưng lại bị ngã nhào xuống mặt đất. Anh ta mất bình tĩnh đứng dậy 1 cách quyết tâm, thì đột nhiên phát hiện 2 chân của mình bị uốn cong lại 1 cách phi lí, cho dù dùng vô cùng lực như thế nào thì anh ta cũng chẳng thể nào đứng thẳng dậy được.Không những thế, 2 chân của anh ta còn bị dính chập vào nhau ở 1 chỗ, chẳng thể nào mở tách ra được. Chưa ngừng lại ở ấy, lưng của anh ta thiên nhiên cũng bị gì và gập xuống, 1 cách khó tin, cứ thế đầu anh ta cứ áp sát, cắm xuống mặt đất dù rằng anh ta cũng đã cố vô cùng để đứng thẳng lưng dậy nhưng mà bất lực.Trên đường đi về, cứ như thế vừa đi anh ta phải dùng cả 2 tay để chống xuống đất. Diễn ra từ ấy về sau, anh ta đều phải đi với tư thế này trong suốt quãng đời còn lại của mình, 1 cách cực kỳ đau khổ. Động tác và dáng đi này của anh ta làm người khác liên tưởng đến động tác vừa đi vừa dập đầu vái Phật.Mọi người trong thôn này đều cho rằng vì đập phá miếu, hạ nhục và vứt linh vị tiên tổ nhưng đã bị báo ứng như thế. Anh ta phải chịu tư thế đi này trong suốt quãng đời còn lại của mình.

Quả báo lúc đập phá miếu thờ
Quả báo lúc đập phá miếu thờ

8

0

8

0

Phí phạm thức ăn trả nghiệp chết đói

Chuyện này do chị Lê Thị Hoa trong phái bộ của Úc kể lại. Đây là chuyện có thật xảy ra ngay trongchính gia đình chị. Những kỉ niệm tính từ lúc chị mới 4 tuổi cho đến nay chị nhớ rất rõ dù rằng đã gần 50 5 trôi qua, nhưng mà sự thực về những câu chuyện nhân quả xảy ra trong gia đình chị thì ko bao giờ nhạt phai. Chị kể lại nhưng đôi lúc ngưng lại vì đôi dòng nước mắt cứ tuôn chảy, có nhẽ vì những quả báo thương tâm xảy ra trong gia đình chị 5 xưa.

Nhà chị có 6 anh em, 2 trai , 4 gái. Gia đình vừa đủ sống ko thiếu thốn chi hết. Ba chị thường đi làm về trễ, nhiều khi 3 chị bị bằng hữu rủ đi nhậu đến khuya mới về, thế là đồ ăn do má chị để lại cho 3 hôm sau đều bị ôi thiu, vì thời ấy nhà chị chưa có tủ lạnh nên đồ ăn chẳng thể để lâu được. Mỗi lúc đồ ăn để lại bị ôi thiu má chị phải đem đi đổ với vẻ mặt buồn bực, lúc đổ má chị thường kêu lên “trời ơi…trời ơi” rồi đổ. Cử chỉ hành động này kéo dài nhiều 5 nhiều tháng. Sau lúc chị bự lên thì gia đình ly tán, 3 thì đi lấy vợ khác có thêm 7 người con, cuộc sống với má mới và 7 người con cực kỳ khó nhọc, cơm ko đủ ăn áo ko đủ mặc, đời sống đói nghèo xuất hiện rất rõ ràng trên từng gương mặt mỗi người trong gia đình. Khi ấy, chị mới 19 tuổi nhưng phải bước chân vào đời làm công, làm thuê để kiếm sống, dành dụm được chút xíu nhưng mà thấy cảnh ngộ của 3 thiếu thốn trăm bề nên chị cầm lòng ko đặng, dù ko có nhiều tiền nhưng mà chị vẫn thầm lặng tương trợ 3, nhưng mà phải thật khôn khéo vì sợ dì và mấy đứa con làm khó Ba. Mỗi tuần chị đều sắm thịt, gạo tới cho Ba, lần nào tới thăm chị đều cho 3 chị 20 đồng, má mới 30 đồng để dì khỏi suy bì. Nhưng lúc Dì quay mặt đi thì chị nhanh tay nhét vào túi 3 thêm 50 đồng nữa, phòng hờ lúc Dì có lấy của Ba 20 đồng thì Ba vẫn còn 50 đồng nhưng xài. Thỉnh thoảng các anh em than đói nhà ko còn gạo, thế là chị phải sang nhà bên mượn đỡ để anh em sống tạm qua ngày. Cuộc sống túng bấn của gia đình 3 chị mỗi ngày trầm trọng hơn ko thấy tín hiệu khá lên. 1 hôm chị tới thăm 3 thì thấy 3 đang nhai các mắt mía của người ta bỏ. Chị hỏi vì sao 3 lại ăn những thứ này? Ba chị đáp ăn để sạch mồm. Sau này chị mới biết vì quá đói nghèo nên ăn mắt mía nhưng sống qua ngày. Cuối cùng 3 chị chết trong cảnh đói nghèo thật âu sầu!

Má chị thường nói có nhẽ khi trước đồ ăn để cho 3 mày ổng ko ăn khiến cho ôi thiu rồi đổ đi bởi vậy hiện thời phải trả nghiệp báo chết trong sự đói nghèo. Chị kể đến đây thì khóc sập sùi khi mà xe đang chở phái bộ trên những đoạn đường khấp khểnh của xứ Ấn. Chị nói thêm về người anh thứ 2 của chị cũng bị đói nghèo, bệnh tật chết trong nỗi lẻ loi vì tính bỏn xẻn với chính gia đình và các người khác. Anh thứ 2 rất sáng dạ, bạt thiệp khó người nào trong gia đình chị sánh bằng. Sau lúc lập gia đình, anh làm ăn rất khá, tiền tài dư dả thi công nhà cửa khang trang 5, 6 lầu. Tiền bạc vô như nước thế nhưng anh chưa bao giờ tương trợ 3 má hay anh em trong gia đình dù đang gặp trắc trở, ko người nào có thể ăn được của anh dù 1 đồng. Anh chỉ biết góp nhặt của người khác cho mình và gia đình anh, anh ko cần ân cần tới âu sầu của người nào cả. Tuy anh rất giàu sang, nhưng mà cái gì hữu ích thì anh tìm cách đưa về cho gia đình Anh, dù ấy là anh em ruột hay bất kỳ ai khác, ko bao giờ anh biết tương trợ dù chuyện bé nhặt. Đối với mọi người anh đối xử rất tệ hại. Càng kể chị càng thấy đau lòng cho 1 con người đặc thù này.

Ngay lúc 3 chị chết anh tự động tới trại hòm và tự đặt sắm hòm loại tốt nhất, cuốn hút nhất để về lịm 3 nhưng mà anh lại bắt chị thanh toán. Chị ko đồng ý và chỉ lấy loại hòm hạng nhị, chị bằng lòng thanh toán. Tới lúc làm đám cho 3, anh gọi thợ chụp hình tới để chụp ảnh cũng nói chị thanh toán. Lần này chị ko trả thì anh lại có cử chỉ hành động ko hay. Những 5 1978 tình hình kinh tế tổ quốc Việt nam còn nhiều gian truân, dù rằng thời khắc đó anh rất giàu, tiền tài dôi thừa nhưng mà anh ko bao giờ tương trợ người nào kể cả anh em trong gia đình mình. Sau lúc chị vượt biên sang nước Úc vật lộn với cuộc sống đất khách quê người ko người nào thân quyến, suốt 25 5 sống ở xứ người, đời sống từ từ bất biến. Khi chị trở về lại Việt nam sau 25 5 cách biệt, nhìn tổ quốc thay đổi chị thấy lòng vui vui. Những con người trước kia rất nghèo thì nay đã phát triển thành giàu sang cuộc sống bất biến no ấm. Nhưng người anh thứ 2 của chị 5 xưa giàu sang thì nay lại biến thành 1 người ko mái nhà che thân vì nhà cửa tiền nong của anh đã bị vợ anh chiếm đoạt và đuổi anh ra khỏi nhà.

Chị về tìm những người nhà 5 xưa, tìm nhiều nơi hỏi nhiều người mới biết anh thứ 2 đang nằm nhà thương vì bị bệnh lao thời gian thứ 3. Gặp được mặt chị anh khóc nức nở như 1 đứa trẻ em mất mẹ. Anh nói với chị hiện thời anh mới thấy nghiệp báo của đời người, đúng là nghiệp báo nhãn tiền xảy ra ngay trong gia đình anh.

Phí phạm thức ăn trả nghiệp chết đói
Phí phạm thức ăn trả nghiệp chết đói

9

1

9

1

Háo sắc giết thịt người, bị oan hồn lấy mạng

Vào 1 ngày 5 Canh Ngọ thời vua Càn Long, quan khố bị phát hiện mất ngọc quý, thành ra nghi ngại vào viên quan tạp vụ. Trong ấy có 1 vị tên là Thường Minh, lúc bị thẩm vấn, đột nhiên giọng nói chỉnh sửa, dùng giọng nói của 1 đứa trẻ nói: “Ngọc quý không hề hắn trộm, nhưng mà hắn là người đã hại ta. Ta chính là oan hồn của người bị hắn giết thịt”.

Quan thẩm án nghe vậy thì kinh hoàng, càng tra hỏi thì càng đúng sự thực. Nếu là chuyện xảy ra ở thời đương đại, khẳng định là đã mau chóng đưa đi xét nghiệm thần kinh. Nhưng thời đó, từ triều đình cho tới quần chúng, đều tin quỷ thần. Đề cập chuyện quỷ thần, quan phá án kia vẫn có chút sợ, ông ko dám tùy tiện quyết định, bèn lệnh đưa Thường Minh tới Hình bộ. Hình bộ vừa hay khi ấy là cha của Kỷ Hiểu Lam tiếp thu bản án này. Ông cộng với quan phủ Giang Tô thụ lý vụ án. Phụ thể bám trên người Thường Minh nói: “Ta tên là Nhị Cách, 5 nay 14 tuổi, nhà ở Hải Điến. Cha ta tên là Tinh Vọng. Ngày 15 tháng Giêng tức Tết Nguyên Tiêu 5 kia, Thường Minh cùng ta đi xem hội đèn lồng. Ngờ đâu Thường Minh thích ta, khi về đã trêu chọc ta. Ta liền liều mình kháng cự, hò hét. Thường Minh nghe vậy liền cuống cuồng, dùng thắt lưng siết cổ ta tới chết, rồi chôn xác ta ở dưới bờ sông. Sau ấy, cha ta nghi ngại Thường Minh hại ta, nên đã tới tuần thành Ngự Sử khiếu nại hắn. Vụ án được đưa tới hình bộ, nhưng mà vì ko có bằng chứng, kết luận cần truy bắt thủ phạm khác. Thành ra, oan hồn của ta xoành xoạch bám theo Thường Minh, thoạt đầu đứng cách hắn chừng 4-5 thước đã thấy hot hừng hực, chẳng thể đến gần. Sau thì nhiệt độ tiêu giảm dần, ta có thể đến gần hắn chừng 2-3 thước, rồi có thể gần hắn 1 thước. Ngày bữa qua ta cảm thấy ko còn hot, rốt cuộc có thể bám vào trên người hắn”.

Hình bộ tìm lại giấy má vụ án trước kia, quả nhiên đúng như lời oan hồn nói. Quan chủ thẩm hỏi: “Xác của ngươi hiện nay ở đâu?”. Oan hồn Nhị Cách nói rằng xác chôn kế bên cây liễu ở bờ sông. Quan chủ thẩm cho người tới khảo sát, quả nhiên đã đào thấy 1 xác chết, vẫn chưa bị thối rữa. Quan chủ thẩm triệu cha của Nhị Cách đến nhận dạng, vừa nhận ra cái xác, ông liền khóc phệ: “Con ơi, cha hiện thời mới tìm được con!…”. Vụ án tưởng chừng ko có bằng chứng, đường đường là Hình bộ triều đình, rồi bao lăm quan phủ thẩm án cùng đám bà cốt vẫn ko tìm ra chút manh mối. Nhưng nhưng oan hồn Nhị Cách đã chứng minh từng cốt truyện vụ án, đều là sự thực, bằng chứng cực kỳ chính xác. Sau ấy lại tra hỏi thêm Thường Minh, vừa gọi tên Thường Minh, thìa là giọng của Thường Minh rất tỉnh ngủ ngụy biện; nhưng mà vừa gọi tên Nhị Cách, thì lại là giọng nói của Nhị Cách, mê mê tỉnh tỉnh. Tra thẩm tới rốt cuộc, bằng chứng đã vô cùng chính xác, chẳng thể chối cãi, Thường Minh chỉ có thể nhận tội.

Bản án tới đây đã rõ ràng, Hình bộ trình báo với vua Càn Long. Kết quả, Thường Minh bị phán quyết xử trảm. Vừa đưa ra phán xét, oan hồn Nhị Cách hưng phấn lạ đời, đột nhiên bự tiếng hét phệ “Bán… bánh” – chính là khi còn sống Nhị Cách đi bán bánh vẫn thường rao tương tự. Tiếng rao ấy so với khi Nhị Cách còn sống là giống nhau như đúc. Cha của Nhị Cách nghe thấy vậy thì xúc động nói: “Lâu rồi ta mới được nghe thấy tiếng con!”. Ông lại hỏi: “Con ơi, hiện thời con muốn đi đâu?”. Oan hồn Nhị Cách nói: “Con cũng ko biết, cha, con phải đi rồi!”. Từ ấy về sau, lúc hỏi lại Thường Minh, thì ko thấy hắn nói giọng của Nhị Cách nữa.

Háo sắc giết thịt người, bị oan hồn lấy mạng
Nhân nghiệp báo ứng

10

0

10

0

Rùa phóng sinh trả ơn cứu mạng

1 ngày, ngư gia dùng lưới bắt được 1 con rùa bự, đúng khi lúc họ sẵn sàng giết thịt giết mổ bán thì ông Lâm đi ngang qua, và thấy 1 đám đông vây quanh con rùa sẵn sàng giết thịt nó, nhận ra cảnh tượng con rùa ko dừng vươn cổ cúi đầu lậy người bao quanh, 2 mắt của chú rùa đầy nước mắt, hình như cầu cứu mọi người. Ông Lâm đã xuất tâm từ bi, ko tiếc bỏ ra 1 số tiền bự để sắm con rùa, cùng lúc nhờ mọi người giúp đưa nó quay về biển để phóng sinh. Do lo âu rằng người nào ấy sẽ lại bắt lấy nó và giết thịt, thành ra ông đã viết lên mai của rùa 5 chữ là “Gặp duyên số phóng sinh”, phê duyệt ấy kì vọng rằng người sau sẽ từ bi, khai ân cho nó được sống tự do, đừng tùy ý sát hại nó. Sau lúc viết xong họ liền đưa chú rùa ra biển phóng sinh, rất nhiều người dân tại bãi biển khi ấy đều nhận ra con rùa đồ sộ nổi lên, ko dừng liên tiếp khấu đầu tạ ơn ông Lâm.

Mọi người chứng kiến cảnh tượng ấy đều cảm thấy rất cảm động. Thành ra, họ cũng tự hẹn với nhau, nếu sau này gặp phải 1 con rùa bự tương tự, thì họ sẽ ko bắt, ko giết thịt và cũng ko ăn. Với khẩu hiệu và phương châm “3 ko” này, cho tới bữa nay nó vẫn còn được lưu giữ ở khu vực này.

Sự việc đã trôi qua 16 5, cậu đàn ông thứ 2 của ông Lâm đã được nhận vào trường thương mại tại Đài Bắc, trong dịp nghỉ lễ cậu tranh thủ về thăm nhà. Lần ấy, lúc đang trong chuyến hành trình trở về, do thuyền đi ngược dòng biển, thật rủi ro con tàu bị mắc cạn và chìm. Hơn 100 hành khách trên tàu, thì có đến 90 người bị dòng nước nhấn chìm. Tại thời khắc này, con thuyền chứa chan tiếng hò hét cứu mạng, đích thực đinh tai nhức óc. Con trai ông Lâm dù rằng biết bơi, nhưng mà do sóng biển quá bự, anh phần đông bị nhấn chìm, quyết tâm phấn đấu rốt cuộc để sinh tồn trên biển. Tự dưng anh cảm thấy thân thể mình như được đẩy lên bởi 1 vật giống như chiếc bàn tròn bự, nhìn kỹ, thì hóa ra anh đang nằm trên lưng 1 con rùa, sau ấy nhìn kĩ hơn, anh thấy mồm của con rùa phệ giống như 1 chậu rửa mặt. Anh chợt hoảng loạn, nghĩ rằng không lẽ mình sẽ phải chôn thân trong bụng con rùa này. Thành ra, anh định quay người nhảy xuống dòng nước, nhưng mà do khi ấy đã quá đuối sức, ko còn sức lực nào để nhưng đấu tranh tiếp nữa.

Sau ấy, ko biết đã qua 1 khoảng thời kì bao lâu, lúc quay lưng lại, tự dưng anh nhận ra trên lưng con rùa viết đúng 5 chữ “gặp duyên số phóng sinh”. Anh mới biết rằng, con rùa biển này chính là con rùa nhưng cha anh đã từng cứu mạng. Tự dưng, tâm cảnh của anh bỗng chuyển từ đau thương, khiếp sợ thành thú vui vô biên cùng sự xoa dịu, hóa ra chú rùa chính là tới cứu mình. Thành ra, anh đã ôm con rùa biển, để cho con rùa mang mình đi, trong mồm liên tụng niệm Phật hiệu và nguyện cầu.

Con rùa rất thư thái khuấy động 4 chân, giống như đang chèo thuyền, quyết tâm đương đầu lại với sóng phệ gió bự để đưa anh lên bờ, lúc vẫn còn chưa lên tới bờ, anh liền nhảy xuống vùng nước nông. Con trai ông Lâm liền hợp thập bái tạ ơn cứu mạng của con rùa. Con rùa cũng vương cổ lên, gật gật đầu, giống như trả lễ lại, hơn nữa còn mở mồm cố nói gì ấy, phát ra âm thanh, có vẻ như rất vui vẻ hạnh phúc chúc mừng, sau ấy mới quay đầu và bơi đi, người dân trên bờ đều lo âu vội đến chúc mừng.

Trong vụ đắm tàu lần này, chỉ có vài chục hành khách còn sinh tồn, sau cuộc khảo sát mọi người phát xuất hiện hóa ra họ đích thực đều là những người con hiếu hạnh, những người đàn bà tiết hạnh, và thường nhật hay làm những việc thiện, chúng ta có thể nhận ra ông Trời đều đang ban phúc lành bảo hộ cho những người lương thiện, nhân hậu và tốt bụng.

Rùa phóng sinh trả ơn cứu mạng
Phóng sinh phước đức vô lượng

[rule_3_plain]

#Top #Câu #chuyện #hay #về #luật #nhân #quả

Top 10 Câu chuyện hay về luật nhân quả

Luật nhân quả là quy luật khách quan của sự sống trong vũ trụ. Có tu học Phật pháp hay ko thì mọi người đều sống trong luật nhân quả. Từ sự vận hành của thiên thể, sự di chuyển của núi sông, cho tới cành cây ngọn cỏ, tất cả đều là kết quả của sự vận hành luật nhân quả. Cùng Toplist điểm qua 1 số câu chuyện hay và ý nghĩa về luật nhân quả để chiêm nghiệm cuộc sống nhé!

1

6

1

6

Ác giả ác báo

Thập niên 70 có 1 sự việc xảy ra tại thị thành Bắc Kinh. 1 người đàn bà hơn 60 tuổi, thân hình cao bự mạnh khỏe tên là Lưu Thị, gia đình có 6 người thuê vài căn phòng ở trọ, 1 gian là mẹ chồng ở, 2 gian là người đàn bà ấy và cháu trai cháu gái ở, còn 2 gian khác là đàn ông và con gái ở. Chồng của Lưu Thị mất tính từ lúc nào thì ko rõ, chỉ biết lúc gia đình chuyển về đây anh đã ko còn nữa. Mẹ chồng không hề là mẹ ruột của chồng Lưu Thị, bởi chồng Lưu Thị chỉ là con nuôi của cụ bà. 7, 8 mươi 5 trước, theo tục lệ ở làng, con gái ko được kế thừa gia tư của gia đình, và đàn bà có gia tư nhưng ko có đàn ông thì nhất mực phải nhận đàn ông của người nhà làm con nuôi, nếu ko toàn thể gia tài đều bị người nhà kế thừa. Việc nhận con nuôi này là cực kỳ nghiêm chỉnh, tuy rằng ko có thủ tục hồ sơ pháp lý nhưng mà còn nghiêm chỉnh hơn nhiều so với thủ tục pháp lý hiện nay. Chồng Lưu Thị đã chết nhưng mà cả gia đình cô đều phải có phận sự nuôi dưỡng cụ bà. Cuộc sống hàng ngày của cụ bà ra sao, ko người nào được biết, chỉ biết từ trước đến nay cụ bà ko bao giờ ăn cơm chung cùng mọi người, cơm cháo đều được đem đến phòng cho bà. 1 ngày rủi ro, cụ bà bị ngã gãy xương phải nằm trên giường, ấy là căn phòng phía nam, mùa đông ko có ánh mặt trời, cũng ko bao giờ thấy có người đưa cụ ra ngoài phòng tắm nắng, càng ko có người lật mình cho cụ, phía dưới mông của cụ thịt bị thối loét vì nằm liệt giường liệt chiếu. Từ ấy láng giềng đều dần dần ko nhận ra cụ bà nữa. Sau này mọi người thường xuyên nghe thấy lời ân oán trách của Lưu Thị rằng cụ bà hay đi ngoài trên giường, và mọi người cũng thường xuyên nghe thấy tiếng kêu đói kêu khát của cụ bà. Rồi 1 ngày người ta nghe nói mẹ chồng của Lưu Thị chết đói trên sàn nhà, vì Lưu Thị sợ cụ bà sẽ đi ngoài tại chỗ nên thường để cơm dưới đất cho cụ bà ăn. Cụ bà vốn gãy chân, vì để lấy bát cơm nên đã ngã từ trên giường xuống và chết ở ấy, tới đây câu chuyện mới khởi đầu xảy ra. Không nhớ rõ chuẩn xác là mấy 5 sau, Lưu Thị từ 1 người cơ thể phệ cao mạnh khỏe, bước đi nhanh nhảu, giọng nói vang vang, tự dưng trúng gió bị tê liệt, mồm méo mắt lệch, trò chuyện ko rõ, vệ sinh đi ngoài đều trên giường.Lưu Thị có 1 người đàn ông, 2 người con gái, đàn ông Lưu Thị là 1 bác sỹ có tay nghề tinh vi, ấy là niềm kiêu căng của Lưu Thị, Lưu Thị đời này toàn lực chăm nom cho đàn ông, sau lúc đàn ông lấy vợ sinh con đều do 1 tay Lưu Thị chăm nom. Khi Lưu Thị bị liệt, vệ sinh đi ngoài đều trên giường, khi này con gái bự đành đón mẹ về nhà mình ở, vì tránh để mẹ bị lở loét lúc nằm 1 chỗ, người con gái tuy bị cao huyết áp nhưng mà cứ 1 khi lại lật người cho mẹ, nhưng mà Lưu Thị thân người phệ bự, con gái bị cao huyết áp mỗi lần lật mình cho mẹ là lại bị mệt, huyết áp tăng cao phải uống thuốc, con rể đau lòng nhưng nói: Như vậy ko được, chẳng thể tiếp diễn tương tự thêm được nữa. 1 buổi sáng, người đàn ông trên 50 tuổi của Lưu Thị bất giác ko dậy được rồi ra đi, nghe nói tim có vấn đề, cơ mà người đàn ông này từ trước đến nay chẳng phải có bệnh về tim. Lưu Thị 1 thời kì dài ko thấy đàn ông tới thăm mình, mồm nói ko rõ câu nhưng hỏi thăm người thân, tuy mọi người đều nói là bận công tác, nhưng mà trên gương mặt đã biểu đạt ra câu giải đáp, Lưu Thị nước mắt ko dừng rơi.Con người thường cho rằng mình nghĩ gì thì làm nấy, muốn hành ác như thế nào thì hành ác như thế ấy, có bao lăm sự việc đã biểu lộ rõ ràng, cơ bản không hề là vậy.

Luật nhân quả
Luật nhân quả

(adsbygoogle = window.adsbygoogle || []).push({});

2

0

2

0

Giết lợn bị đọa vào tuyền đài

Truyện Pháp Cú kể rằng: Khi Thế Tôn cùng các Tỳ kheo ở tại tinh xá Trúc Lâm, cách ấy ko xa, có đồ tể Cunda sống bằng nghề mổ lợn. Mỗi lần giết thịt lợn, ông ta trói thật chặt vào cột và nện nó bằng 1 cây chày vuông, rồi banh hàm và rót nước sôi vào họng, kế tới đổ nước sôi lên lưng, làm tuột lớp da đen và thui lớp lông cứng bằng 1 bó đuốc. Cuối cùng ông cắt đầu lợn bằng 1 thanh kiếm nhọn rồi xẻ thịt, lột da. Và Cunda đã sống bằng nghề mổ và bán thịt như thế gần 2 mươi 5.
Dù đức Ðạo Sư ở tinh xá cách ấy ko xa nhưng chẳng lúc nào Cunda cúng dường Ngài, dù là 1 cành hoa hay 1 nắm cơm, cũng ko làm 1 việc công đức nào cả. 1 hôm ông mắc bệnh, và dù ông ta vẫn còn sống nhưng mà lửa của tuyền đài A Tỳ đã bốc cháy trước mặt. Khi cực hình tuyền đài giáng xuống đồ tể Cunda, ông ta khởi đầu kêu eng éc và bò bằng tay và đầu gối. Người nhà rất kinh khiếp tìm mọi cách bịt mồm ông ta, chặn các cửa và giam cầm ông ở trong nhà. Suốt 7 ngày, chịu sự âu sầu, ông luôn miệng rống eng éc như lợn.
Vài tỳ kheo đi ngang qua cửa nhà ông, nghe tiếng lợn kêu eng éc ồn ã, lúc về tinh xá, bạch với Đạo Sư: “Bạch Thế Tôn, trong 7 ngày qua cửa nhà đồ tể Cunda đóng kín và ông đó vẫn tiếp diễn giết thịt lợn. Thế Tôn nghĩ xem, biết bao lăm con bị giết thịt. Thật từ trước đến nay chưa thấy người nào ác nghiệt và man rợ như thế!”.
Đức Đạo Sư nói: “Này các Tỳ kheo! Ông ta ko giết thịt lợn trong 7 ngày qua đâu. Sự trừng trị thích hợp với việc làm ác đã xảy tới đối với ông ta. Ngay lúc ông ta còn sống, cực hình của tuyền đài A Tỳ đã tới. Vì cực hình này, ông ta bò đến bò lui trong nhà, kêu la eng éc như 1 con lợn suốt 7 ngày. Bữa nay ông ta đã chết và bị đọa vào tuyền đài A Tỳ”.

Giết lợn bị đọa vào tuyền đài
Ăn chay bố thí công đức vô lượng vô bờ

3

0

3

0

Ngoại tình gánh nghiệp nặng

Hoàng L. là người Thái Bình. Cha anh ta là 1 người bạn tốt của 1 vị Hòa thượng tên tuổi và tu luyện tốt, ông cũng giỏi về thơ văn và xem thuật tướng. Trước ấy, vị Hòa thượng này đã xem thuật tướng cho Hòang L. và bảo rằng anh ta có 1 tướng mạo làm giàu, sau này sẽ rất thành đạt trong đường đời của anh ta.

Vào tuổi 20, Hoàng L. đã cưới 1 cô vợ xinh đep. Vài 5 sau, anh ta đã được bổ nhậm làm việc như 1 nhân viên chính phủ tại thủ đô nhưng mà vợ của anh ta thì ở quê nhà. Ít 5 sau ấy, Hoàng L. gặp lại vị Hòa thượng, ông rất mực kinh ngạc về những gì nhưng ông ta đã nhận ra ở anh ta và ông nói, “Cách đây nhiều 5, tôi đã thấy anh có 1 dung mạo làm giàu nhưng mà vì sao điều ấy đã lại chỉnh sửa? Trán của anh khi ấy đầy đặn nhưng mà hiện thời nó hình như đã sụp xuống, cằm của anh đã rất tròn nhưng mà giờ đây nó lại rất nhọn. Ngoài ra, lại có khí đen bao quanh trung tâm của lòng bàn tay của anh. Điều này có nghĩa có tai họa đang kì vọng anh, anh cần phải cẩn thận. Thuật tướng của anh đã chỉnh sửa rất nhiều. Tôi thắc mắc anh đã làm điều gì ko đúng luân thường đạo lý?”

Hoàng L. đã ngẫm nghĩ lại những hành vi của anh ta trong vài 5 qua và chỉ 1 điều nhưng anh có thể nghĩ tới là việc bồ bịch của anh ta với nhiều đàn bà khác chỉ cần khoảng anh ta làm việc ở thủ đô. Sau lúc nghe điều này, vị hòa thượng đã thở dài và nói, “Ban đầu anh được duyên cơ có 1 cuộc đời tốt, nhưng mà anh đã ko quí nó và đã có hành vi dâm loạn với những đàn bà khác. Đấy là 1 điều hổ hang nhưng anh đã hủy diệt chính sự may mắn của anh trong hành vi này”. Không lâu sau ấy, Hoàng L. quả thực đã gánh tai nghiệp vào mình như vị Hòa thượng đã được tiên lượng. 1 hôm, khi mà Hoàng L. đang tắm, người cấp dưới của anh đã hại anh ta. Anh đã bị giết thịt bởi 1 thanh kiếm. Bụng anh ta bị cắt đi và tất cả các nội tạng lọt ra ngoài.

Ngoại tình gánh nghiệp nặng
Gian dâm báo ứng thê thảm

4

2

4

2

Hãy từ bỏ nghề sát sinh

Câu chuyện này xảy ra ở Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc vào cuối thời nhà Thanh. 1 người con trai sinh sống bằng nghề giết thịt mổ lợn. Ông có 4 đàn ông và 1 con gái. Ba người đàn ông bự theo nghề của cha kiếm tiền, cuộc sống gia đình rất sung túc. Sau lúc ông chết đi 3 người đàn ông bự vẫn tiếp diễn nghề ấy. 1 ngày nọ, họ sắm 1 con lợn về sẵn sàng mổ thịt, thì họ bị quá bất ngờ lúc nghe con lợn nói “Làm ơn đừng giết thịt tôi, đừng giết thịt tôi.” Họ hỏi: Ngươi vừa mới nói gì? Con lợn nói: “Ta là cha của các con. Đừng giết thịt ta. Ta được đầu thai thành lợn, bởi vì ta phạm phải tội rất bự ấy là giết thịt rất nhiều lợn lúc còn sống. Bữa nay ta được sắp đặt để gặp các con để truyền đạt 1 điều quan trọng: “Hãy từ bỏ nghề mổ lợn và tìm nghề khác nhưng làm.”Con lợn chết sau lúc nói xong. Mấy anh em buồn khóc thảm thiết và đem chôn con lợn này. Họ chia nhau của nả của gia đình và mỗi người đi 1 đường. Người đàn ông đầu biến thành đại lý bán gạo; người đàn ông thứ 3 mở 1 cửa tiệm bán áo quần. Người đàn ông út vẫn còn rất nhỏ. Người con gái thì theo chồng. Người đàn ông thứ 2 vẫn tiếp diễn làm nghề giết thịt mổ lợn bất chấp lời cảnh cáo của cha mình.
1 hôm anh ta dùng hết gia tài của mình sắm 1 bầy lợn. Khi anh lùa bầy lợn qua 1 bờ đê, 1 cơn gió mạnh đột ngột đến làm thành bão cát bao phủ cả vùng trời. Gió rất mạnh và tràn khắp vùng làm anh ta ko cách nào mở mắt ra được. Anh ta ko còn lựa chọn nào khác đành phải ngồi xuống bờ đê và đợi hết gió. Cơn gió kéo dài 4 giờ đồng hồ. lúc anh ta mở mắt ra, ko thấy còn con lợn nào cả. Anh ta đã mất sạch hết tiền. Anh ta cảm thấy ăn năn, và ngồi ở ấy khóc và khóc tới lúc đôi mắt bị mù.

Hãy từ bỏ nghề sát sinh
Nghiệp quả của sát sinh

5

0

5

0

Nhờ bố thí mới cứu được mạng

Thủ Huồng tên thật Võ Hữu Hoằng, theo chuyện kể thì ông là người châu Đại Phố (tức Cù lao Phố), huyện Phước Chính, phủ Phước Long, nước Đại Nam (nay là Biên Hòa, Việt Nam).Theo Đại Nam nhất thống chí, ông có tên Võ Hữu Hoằng. Nhưng có nơi gọi là Thủ Huồng, Thủ Hoằng, Võ Thủ Hoằng.

Khoảng 5 1755, ở châu Đại Phố có 1 người tên là Võ Hữu Hoằng. Ông xuất thân làm thư lại. Trong 2 mươi 5 làm việc trong quan nha, ông đã nhận được nhiều tiền tài. Sau lúc vợ mất sớm lại ko con, nhưng tiền nong thì quá thừa mứa, Thủ Huồng xin nghỉ việc về nhà.

Thủ Huồng rất yêu vợ, bởi vậy lúc nghe người méc rằng ở chợ Mãnh Ma (Quảng Yên) là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau, ông quyết đi tìm vợ. Gặp nhau, trong khi chuyện trò, Thủ Huồng ngỏ ý muốn xuống địa ngục chơi. Ở cõi âm, ông tận mắt nhận ra những cực hình dành cho những kẻ phạm nhiều tội ác lúc còn sống. Và ông cũng đã nhận ra 1 cái gông phệ, nhưng cai ngục cho biết là để dành cho ông vì ông phạm tội ăn trộm.

Khi quay về cõi dương, Thủ Huồng sợ bị đọa vào tuyền đài, liền đem toàn thể của nả dùng vào việc bố thí, xây dựng những công trình phúc lợi, đặc thù là làm nhà để giúp dân nghèo tránh nước triều dâng ở ngã 3 sông.

Sách Gia Định thành thông chí có ghi:

“Thuở đó, dân cư còn loáng thoáng, ghe đò hẹp bé, hành khách thổi cơm, đun trà rất khổ, thành ra có người phú hộ ở tổng Tân Chánh tên là Võ Thủ Hoằng kết tre lại làm bè, trên che lợp phòng ốc, mua đủ bếp nước, gạo, củi, và đồ ăn để dưới bè cho hành khách tùy ý dùng nhưng ko bắt phải thanh toán. Sau ấy khách buôn cũng kết bè nổi bán đồ ăn nhiều tới 20, 30 chiếc, nhóm thành chợ trên sông, nên mới gọi xứ đó là Nhà Bè. Sau này đường thủy, đường bộ lưu thông, dân cư đông đúc, người qua lại đều dùng ghe nhà nên đò dọc phải dẹp bỏ…Vì kỵ húy tên vua Hoằng Lịch (Càn Long) nhà Đại Thanh nên phải đọc trại đi là Võ Thủ Huồng. Chiếc cầu Thủ Huồng giữa Tân Vạn và chợ Đồn (Biên Hòa) tục truyền do Võ Thủ Huồng xây dựng đến giờ vẫn còn. Sau, Thủ Huồng được vợ đưa xuống cõi âm lần nữa, và thấy cái gông ngày cũ đã bé lại rất nhiều. Từ ấy, ông tiếp diễn làm việc thiện, việc nghĩa cho tới lúc mất. Khá lâu sau, có ông vua nhà Thanh (Trung Hoa) tên là Đạo Quang (1782-1850) khi mới lên ngôi (1820) có cho sứ sang Việt Nam hỏi lai lịch 1 người hầu Gia Định. Số là lúc mới sinh, trong lòng bàn tay vua đã có mấy chữ “Đại Nam, Gia Định, Thủ Hoằng”. Khi rõ chuyện, nhà vua có gửi cúng chùa Chúc Thọ (chùa Thủ Huồng) ở Biên Hòa 1 bộ tượng Phật Tam Thế bằng gỗ trầm hương. Do việc này, nhưng có người bảo rằng: Nhờ thành thật ân hận, Thủ Huồng không những làm tiêu tán cái gông đang chờ ông ở cõi âm, nhưng còn được tiên phong thai làm vua ở Trung Hoa.

Nhờ bố thí mới cứu được mạng
Bố thí đúng cách hưởng phước cả đời

6

1

6

1

Nghiệp báo ứng nặng vì sát sinh

Có 1 sư thầy tên gọi là thầy Giác Liên, trụ trì tại chùa Phước Hải, Tỉnh Vĩnh Long đã từng kể về những câu chuyện nhân quả nhưng chính thầy đã chứng kiến trong kiếp tu hành của mình. 1 trong nhiều câu chuyện hay được đề cập nhất ấy là câu chuyện về 1 cậu nhỏ tên Hiền, sống ngày qua ngày bằng việc xin ăn tại chợ Trà Vinh với dạng hình và cơ thể giống như cơ thể của 1 con bò. Hiền được sinh ra và bự lên trong 1 gia đình với nghề mổ bò truyền thống ở Trà Vinh. Ông nội của Hiền cũng nhờ nghề này nhưng đã phát triển thành khấm khá, giàu sang. 1 ngày nọ, trước lúc sẵn sàng giết mổ 1 con bò cái, đột nhiên ông liền nằm thấy mộng mị, trong giấc mơ có 1 người phụ nữ đi tới bên ông và nhìn ông khóc lóc, nài xin rằng: “Tôi nài xin ông, ông làm ơn đừng giết thịt tôi, hãy để tôi sinh con xong rồi thì ông có thể giết thịt”. Điều lạ là trong 1 đêm, chẳng những ông chỉ mơ thấy 1 lần nhưng đến 3 lần cùng 1 giấc mơ. Ông bèn mang câu chuyện này đi kể cho vợ nghe thì người vợ có khuyên ông rằng ko nên mổ thịt con bò này nhưng hãy tiếp diễn nuôi nó để cho nó đẻ. Suy đi tính lại, ko hiểu sao rốt cuộc ông vẫn quyết định giết mổ nó để bán.Sáng hôm sớm sau, con bò này kêu la phệ và kinh khủng hơn so với nhiều con bò khác nhưng ông đã từng thịt, nó lăn lộn, giãy giụa đến mức bứt cả sợi dây trói. Cuối cùng thì nó vẫn phải chết, cái cảnh tượng của con bò lúc ấy khiến ông nội Hiền nhớ mãi cho tới sau này vẫn chẳng thể quên được, chính là cái đầu nó cứ lắc lư qua lại mãi như thể nó vẫn đang còn sống.Điều ngẫu nhiên ở đây là 1 thời kì sau lúc ông giết thịt con bò ấy thì con dâu ông trở dạ sinh đứa cháu nội trước hết – cháu đích tôn của ông. Sẽ ko có gì đáng nói ví như cháu của ông lúc sinh ra ko mang trên người những dị tật rất giống với dạng hình của 1 con bò. Đấy là con vật môi thì bị sứt, mắt thì lồi tay chân thì ngoằn ngoèo ko đi được, phải bò, riêng cái đầu thì cứ lắc lư qua lại ko thôi.Đứa trẻ ấy chính là Hiền. Khi nhìn hình ảnh của cháu mình, người ông chẳng thể nào ko liên tưởng tới cái chết của con bò cái nhưng ông đã giết thịt, đặc thù là về động tác lắc lư cái đầu. Nhìn hình ảnh cháu và những chuyện đã qua, ông như đã hiểu nguyên do sâu xa tại sao nhưng cháu mình lúc mới sinh ra đã bị tương tự.Ông cực kỳ ăn năn và muốn sửa sai, muốn chuộc lại lầm lỗi của mình, ông quyết định bỏ cái nghề đã tồn lại từ lâu đời và là nguồn làm giàu của gia đình từ xưa đến giờ. Ông bỏ hẳn việc sát sinh bò. Kế bên ấy, vì lo chữa trị cho cháu, có bao lăm tài sản, tiền nong ông đều dốc hết. Tuy nhiên cậu nhỏ vẫn phải sống và mang trên mình những dị tật tương tự.Không những thế, đắng cay hơn, lúc lên 10, Hiền đã phải tuần tự mất đi những người nhà của mình vì người nào cũng mang trọng bệnh và chết bất thình lình, em phải bò lê lết ra chợ để xin ăn. Cứ mỗi lần xin ăn, ko hiểu như có người nào ấy xui khiến, Hiền vừa lết vừa kêu gào, khóc lóc rất thảm thiết: “Xin mọi người, xin các chú các bác, các cô các dì đừng giết thịt con, con là con bò…”.Đây là 1 câu chuyện về luật nhân quả, về nghiệp báo nhưng đối với mỗi người dân Vĩnh Long, câu chuyện này của sư thầy hình như in sâu vào tâm não họ như những bài học về đạo lý, để biết cách sống và định hướng sống sao cho ko đi theo vết xe đổ của những người được kể trong những câu chuyện của sư thầy.

Giết heo đền tội
Các con vật đều có tính linh

7

1

7

1

Đập phá miếu thờ, làm ô nhục tiên tổ

Trong suốt giai đoạn mở mang cuộc đi lại, chính quyền cưỡng ép người dân phải tàn phá vô kể đồ cổ, đền thờ. Tuy nhiên chỉ có độc nhất vô nhị 1 ngôi miếu bé và linh vị tiên tổ ở trong miếu ấy là ko 1 người nào dám động tới. Nhưng có 2 thanh niên trẻ trong làng thuộc dạng phá phách, hay vỗ ngực xưng tên, thẳng thắn tuyên bố rằng 2 người họ sẽ đập tan cái miếu ấy nếu ko có người nào dám đập. Cuối cùng, ngôi miếu bị đập phá, linh vị tiên tổ còn bị 2 thanh niên kia dùng chân giẫm nát sau ấy đem lại con sông ở trước thôn vứt đi. Sau lúc đập phá xong, 1 người thì trở về nhà, người còn lại thì ngồi hóng mát và ngơi nghỉ ở ven sông.Thanh niên trở về nhà, sau lúc vừa về tới nhà bất chợt bị đau bụng oằn oại, khóc thét lăn lộn khắp nhà. Người mẹ của thanh niên này là 1 người vốn tin vào đạo Phật, chứng kiến cảnh đàn ông sau lúc đập phá miếu thờ trở về nhà lại tự dưng bị bạo bệnh, biết tính mệnh đàn ông mình khó giữ nên bà đã chân tình quỳ gối lê la từ nhà tới tận ngôi miếu bé vừa bị đập phá kia để thay đàn ông nhận tội và cầu xin thánh thần.Riêng người thanh niên này sau lúc bị đau bụng dữ dội cũng đã nhìn thấy mình đã bị nghiệp báo, trong lòng anh ta cảm thấy cực kỳ ăn năn, hối hận tự phát tâm kính trọng Phật. Sau ấy kết quả thực khó tin, anh ta cảm thấy bụng mình giảm đau dần dần và sau ấy hết hẳn. Biết mình được tha thứ, ngày đêm chân tình đọc kinh thỉnh Phật.Còn người thanh niên ngồi bên bờ sông ngơi nghỉ thì lại ko được gặp may tương tự. Sau lúc hóng mát và ngơi nghỉ xong, anh ta sẵn sàng đi về, ngay khi anh ta vừa đứng dậy dù ko vấp phải thứ gì nhưng mà tự dưng lại bị ngã nhào xuống mặt đất. Anh ta mất bình tĩnh đứng dậy 1 cách quyết tâm, thì đột nhiên phát hiện 2 chân của mình bị uốn cong lại 1 cách phi lí, cho dù dùng vô cùng lực như thế nào thì anh ta cũng chẳng thể nào đứng thẳng dậy được.Không những thế, 2 chân của anh ta còn bị dính chập vào nhau ở 1 chỗ, chẳng thể nào mở tách ra được. Chưa ngừng lại ở ấy, lưng của anh ta thiên nhiên cũng bị gì và gập xuống, 1 cách khó tin, cứ thế đầu anh ta cứ áp sát, cắm xuống mặt đất dù rằng anh ta cũng đã cố vô cùng để đứng thẳng lưng dậy nhưng mà bất lực.Trên đường đi về, cứ như thế vừa đi anh ta phải dùng cả 2 tay để chống xuống đất. Diễn ra từ ấy về sau, anh ta đều phải đi với tư thế này trong suốt quãng đời còn lại của mình, 1 cách cực kỳ đau khổ. Động tác và dáng đi này của anh ta làm người khác liên tưởng đến động tác vừa đi vừa dập đầu vái Phật.Mọi người trong thôn này đều cho rằng vì đập phá miếu, hạ nhục và vứt linh vị tiên tổ nhưng đã bị báo ứng như thế. Anh ta phải chịu tư thế đi này trong suốt quãng đời còn lại của mình.

Quả báo lúc đập phá miếu thờ
Quả báo lúc đập phá miếu thờ

8

0

8

0

Phí phạm thức ăn trả nghiệp chết đói

Chuyện này do chị Lê Thị Hoa trong phái bộ của Úc kể lại. Đây là chuyện có thật xảy ra ngay trongchính gia đình chị. Những kỉ niệm tính từ lúc chị mới 4 tuổi cho đến nay chị nhớ rất rõ dù rằng đã gần 50 5 trôi qua, nhưng mà sự thực về những câu chuyện nhân quả xảy ra trong gia đình chị thì ko bao giờ nhạt phai. Chị kể lại nhưng đôi lúc ngưng lại vì đôi dòng nước mắt cứ tuôn chảy, có nhẽ vì những quả báo thương tâm xảy ra trong gia đình chị 5 xưa.

Nhà chị có 6 anh em, 2 trai , 4 gái. Gia đình vừa đủ sống ko thiếu thốn chi hết. Ba chị thường đi làm về trễ, nhiều khi 3 chị bị bằng hữu rủ đi nhậu đến khuya mới về, thế là đồ ăn do má chị để lại cho 3 hôm sau đều bị ôi thiu, vì thời ấy nhà chị chưa có tủ lạnh nên đồ ăn chẳng thể để lâu được. Mỗi lúc đồ ăn để lại bị ôi thiu má chị phải đem đi đổ với vẻ mặt buồn bực, lúc đổ má chị thường kêu lên “trời ơi…trời ơi” rồi đổ. Cử chỉ hành động này kéo dài nhiều 5 nhiều tháng. Sau lúc chị bự lên thì gia đình ly tán, 3 thì đi lấy vợ khác có thêm 7 người con, cuộc sống với má mới và 7 người con cực kỳ khó nhọc, cơm ko đủ ăn áo ko đủ mặc, đời sống đói nghèo xuất hiện rất rõ ràng trên từng gương mặt mỗi người trong gia đình. Khi ấy, chị mới 19 tuổi nhưng phải bước chân vào đời làm công, làm thuê để kiếm sống, dành dụm được chút xíu nhưng mà thấy cảnh ngộ của 3 thiếu thốn trăm bề nên chị cầm lòng ko đặng, dù ko có nhiều tiền nhưng mà chị vẫn thầm lặng tương trợ 3, nhưng mà phải thật khôn khéo vì sợ dì và mấy đứa con làm khó Ba. Mỗi tuần chị đều sắm thịt, gạo tới cho Ba, lần nào tới thăm chị đều cho 3 chị 20 đồng, má mới 30 đồng để dì khỏi suy bì. Nhưng lúc Dì quay mặt đi thì chị nhanh tay nhét vào túi 3 thêm 50 đồng nữa, phòng hờ lúc Dì có lấy của Ba 20 đồng thì Ba vẫn còn 50 đồng nhưng xài. Thỉnh thoảng các anh em than đói nhà ko còn gạo, thế là chị phải sang nhà bên mượn đỡ để anh em sống tạm qua ngày. Cuộc sống túng bấn của gia đình 3 chị mỗi ngày trầm trọng hơn ko thấy tín hiệu khá lên. 1 hôm chị tới thăm 3 thì thấy 3 đang nhai các mắt mía của người ta bỏ. Chị hỏi vì sao 3 lại ăn những thứ này? Ba chị đáp ăn để sạch mồm. Sau này chị mới biết vì quá đói nghèo nên ăn mắt mía nhưng sống qua ngày. Cuối cùng 3 chị chết trong cảnh đói nghèo thật âu sầu!

Má chị thường nói có nhẽ khi trước đồ ăn để cho 3 mày ổng ko ăn khiến cho ôi thiu rồi đổ đi bởi vậy hiện thời phải trả nghiệp báo chết trong sự đói nghèo. Chị kể đến đây thì khóc sập sùi khi mà xe đang chở phái bộ trên những đoạn đường khấp khểnh của xứ Ấn. Chị nói thêm về người anh thứ 2 của chị cũng bị đói nghèo, bệnh tật chết trong nỗi lẻ loi vì tính bỏn xẻn với chính gia đình và các người khác. Anh thứ 2 rất sáng dạ, bạt thiệp khó người nào trong gia đình chị sánh bằng. Sau lúc lập gia đình, anh làm ăn rất khá, tiền tài dư dả thi công nhà cửa khang trang 5, 6 lầu. Tiền bạc vô như nước thế nhưng anh chưa bao giờ tương trợ 3 má hay anh em trong gia đình dù đang gặp trắc trở, ko người nào có thể ăn được của anh dù 1 đồng. Anh chỉ biết góp nhặt của người khác cho mình và gia đình anh, anh ko cần ân cần tới âu sầu của người nào cả. Tuy anh rất giàu sang, nhưng mà cái gì hữu ích thì anh tìm cách đưa về cho gia đình Anh, dù ấy là anh em ruột hay bất kỳ ai khác, ko bao giờ anh biết tương trợ dù chuyện bé nhặt. Đối với mọi người anh đối xử rất tệ hại. Càng kể chị càng thấy đau lòng cho 1 con người đặc thù này.

Ngay lúc 3 chị chết anh tự động tới trại hòm và tự đặt sắm hòm loại tốt nhất, cuốn hút nhất để về lịm 3 nhưng mà anh lại bắt chị thanh toán. Chị ko đồng ý và chỉ lấy loại hòm hạng nhị, chị bằng lòng thanh toán. Tới lúc làm đám cho 3, anh gọi thợ chụp hình tới để chụp ảnh cũng nói chị thanh toán. Lần này chị ko trả thì anh lại có cử chỉ hành động ko hay. Những 5 1978 tình hình kinh tế tổ quốc Việt nam còn nhiều gian truân, dù rằng thời khắc đó anh rất giàu, tiền tài dôi thừa nhưng mà anh ko bao giờ tương trợ người nào kể cả anh em trong gia đình mình. Sau lúc chị vượt biên sang nước Úc vật lộn với cuộc sống đất khách quê người ko người nào thân quyến, suốt 25 5 sống ở xứ người, đời sống từ từ bất biến. Khi chị trở về lại Việt nam sau 25 5 cách biệt, nhìn tổ quốc thay đổi chị thấy lòng vui vui. Những con người trước kia rất nghèo thì nay đã phát triển thành giàu sang cuộc sống bất biến no ấm. Nhưng người anh thứ 2 của chị 5 xưa giàu sang thì nay lại biến thành 1 người ko mái nhà che thân vì nhà cửa tiền nong của anh đã bị vợ anh chiếm đoạt và đuổi anh ra khỏi nhà.

Chị về tìm những người nhà 5 xưa, tìm nhiều nơi hỏi nhiều người mới biết anh thứ 2 đang nằm nhà thương vì bị bệnh lao thời gian thứ 3. Gặp được mặt chị anh khóc nức nở như 1 đứa trẻ em mất mẹ. Anh nói với chị hiện thời anh mới thấy nghiệp báo của đời người, đúng là nghiệp báo nhãn tiền xảy ra ngay trong gia đình anh.

Phí phạm thức ăn trả nghiệp chết đói
Phí phạm thức ăn trả nghiệp chết đói

9

1

9

1

Háo sắc giết thịt người, bị oan hồn lấy mạng

Vào 1 ngày 5 Canh Ngọ thời vua Càn Long, quan khố bị phát hiện mất ngọc quý, thành ra nghi ngại vào viên quan tạp vụ. Trong ấy có 1 vị tên là Thường Minh, lúc bị thẩm vấn, đột nhiên giọng nói chỉnh sửa, dùng giọng nói của 1 đứa trẻ nói: “Ngọc quý không hề hắn trộm, nhưng mà hắn là người đã hại ta. Ta chính là oan hồn của người bị hắn giết thịt”.

Quan thẩm án nghe vậy thì kinh hoàng, càng tra hỏi thì càng đúng sự thực. Nếu là chuyện xảy ra ở thời đương đại, khẳng định là đã mau chóng đưa đi xét nghiệm thần kinh. Nhưng thời đó, từ triều đình cho tới quần chúng, đều tin quỷ thần. Đề cập chuyện quỷ thần, quan phá án kia vẫn có chút sợ, ông ko dám tùy tiện quyết định, bèn lệnh đưa Thường Minh tới Hình bộ. Hình bộ vừa hay khi ấy là cha của Kỷ Hiểu Lam tiếp thu bản án này. Ông cộng với quan phủ Giang Tô thụ lý vụ án. Phụ thể bám trên người Thường Minh nói: “Ta tên là Nhị Cách, 5 nay 14 tuổi, nhà ở Hải Điến. Cha ta tên là Tinh Vọng. Ngày 15 tháng Giêng tức Tết Nguyên Tiêu 5 kia, Thường Minh cùng ta đi xem hội đèn lồng. Ngờ đâu Thường Minh thích ta, khi về đã trêu chọc ta. Ta liền liều mình kháng cự, hò hét. Thường Minh nghe vậy liền cuống cuồng, dùng thắt lưng siết cổ ta tới chết, rồi chôn xác ta ở dưới bờ sông. Sau ấy, cha ta nghi ngại Thường Minh hại ta, nên đã tới tuần thành Ngự Sử khiếu nại hắn. Vụ án được đưa tới hình bộ, nhưng mà vì ko có bằng chứng, kết luận cần truy bắt thủ phạm khác. Thành ra, oan hồn của ta xoành xoạch bám theo Thường Minh, thoạt đầu đứng cách hắn chừng 4-5 thước đã thấy hot hừng hực, chẳng thể đến gần. Sau thì nhiệt độ tiêu giảm dần, ta có thể đến gần hắn chừng 2-3 thước, rồi có thể gần hắn 1 thước. Ngày bữa qua ta cảm thấy ko còn hot, rốt cuộc có thể bám vào trên người hắn”.

Hình bộ tìm lại giấy má vụ án trước kia, quả nhiên đúng như lời oan hồn nói. Quan chủ thẩm hỏi: “Xác của ngươi hiện nay ở đâu?”. Oan hồn Nhị Cách nói rằng xác chôn kế bên cây liễu ở bờ sông. Quan chủ thẩm cho người tới khảo sát, quả nhiên đã đào thấy 1 xác chết, vẫn chưa bị thối rữa. Quan chủ thẩm triệu cha của Nhị Cách đến nhận dạng, vừa nhận ra cái xác, ông liền khóc phệ: “Con ơi, cha hiện thời mới tìm được con!…”. Vụ án tưởng chừng ko có bằng chứng, đường đường là Hình bộ triều đình, rồi bao lăm quan phủ thẩm án cùng đám bà cốt vẫn ko tìm ra chút manh mối. Nhưng nhưng oan hồn Nhị Cách đã chứng minh từng cốt truyện vụ án, đều là sự thực, bằng chứng cực kỳ chính xác. Sau ấy lại tra hỏi thêm Thường Minh, vừa gọi tên Thường Minh, thìa là giọng của Thường Minh rất tỉnh ngủ ngụy biện; nhưng mà vừa gọi tên Nhị Cách, thì lại là giọng nói của Nhị Cách, mê mê tỉnh tỉnh. Tra thẩm tới rốt cuộc, bằng chứng đã vô cùng chính xác, chẳng thể chối cãi, Thường Minh chỉ có thể nhận tội.

Bản án tới đây đã rõ ràng, Hình bộ trình báo với vua Càn Long. Kết quả, Thường Minh bị phán quyết xử trảm. Vừa đưa ra phán xét, oan hồn Nhị Cách hưng phấn lạ đời, đột nhiên bự tiếng hét phệ “Bán… bánh” – chính là khi còn sống Nhị Cách đi bán bánh vẫn thường rao tương tự. Tiếng rao ấy so với khi Nhị Cách còn sống là giống nhau như đúc. Cha của Nhị Cách nghe thấy vậy thì xúc động nói: “Lâu rồi ta mới được nghe thấy tiếng con!”. Ông lại hỏi: “Con ơi, hiện thời con muốn đi đâu?”. Oan hồn Nhị Cách nói: “Con cũng ko biết, cha, con phải đi rồi!”. Từ ấy về sau, lúc hỏi lại Thường Minh, thì ko thấy hắn nói giọng của Nhị Cách nữa.

Háo sắc giết thịt người, bị oan hồn lấy mạng
Nhân nghiệp báo ứng

10

0

10

0

Rùa phóng sinh trả ơn cứu mạng

1 ngày, ngư gia dùng lưới bắt được 1 con rùa bự, đúng khi lúc họ sẵn sàng giết thịt giết mổ bán thì ông Lâm đi ngang qua, và thấy 1 đám đông vây quanh con rùa sẵn sàng giết thịt nó, nhận ra cảnh tượng con rùa ko dừng vươn cổ cúi đầu lậy người bao quanh, 2 mắt của chú rùa đầy nước mắt, hình như cầu cứu mọi người. Ông Lâm đã xuất tâm từ bi, ko tiếc bỏ ra 1 số tiền bự để sắm con rùa, cùng lúc nhờ mọi người giúp đưa nó quay về biển để phóng sinh. Do lo âu rằng người nào ấy sẽ lại bắt lấy nó và giết thịt, thành ra ông đã viết lên mai của rùa 5 chữ là “Gặp duyên số phóng sinh”, phê duyệt ấy kì vọng rằng người sau sẽ từ bi, khai ân cho nó được sống tự do, đừng tùy ý sát hại nó. Sau lúc viết xong họ liền đưa chú rùa ra biển phóng sinh, rất nhiều người dân tại bãi biển khi ấy đều nhận ra con rùa đồ sộ nổi lên, ko dừng liên tiếp khấu đầu tạ ơn ông Lâm.

Mọi người chứng kiến cảnh tượng ấy đều cảm thấy rất cảm động. Thành ra, họ cũng tự hẹn với nhau, nếu sau này gặp phải 1 con rùa bự tương tự, thì họ sẽ ko bắt, ko giết thịt và cũng ko ăn. Với khẩu hiệu và phương châm “3 ko” này, cho tới bữa nay nó vẫn còn được lưu giữ ở khu vực này.

Sự việc đã trôi qua 16 5, cậu đàn ông thứ 2 của ông Lâm đã được nhận vào trường thương mại tại Đài Bắc, trong dịp nghỉ lễ cậu tranh thủ về thăm nhà. Lần ấy, lúc đang trong chuyến hành trình trở về, do thuyền đi ngược dòng biển, thật rủi ro con tàu bị mắc cạn và chìm. Hơn 100 hành khách trên tàu, thì có đến 90 người bị dòng nước nhấn chìm. Tại thời khắc này, con thuyền chứa chan tiếng hò hét cứu mạng, đích thực đinh tai nhức óc. Con trai ông Lâm dù rằng biết bơi, nhưng mà do sóng biển quá bự, anh phần đông bị nhấn chìm, quyết tâm phấn đấu rốt cuộc để sinh tồn trên biển. Tự dưng anh cảm thấy thân thể mình như được đẩy lên bởi 1 vật giống như chiếc bàn tròn bự, nhìn kỹ, thì hóa ra anh đang nằm trên lưng 1 con rùa, sau ấy nhìn kĩ hơn, anh thấy mồm của con rùa phệ giống như 1 chậu rửa mặt. Anh chợt hoảng loạn, nghĩ rằng không lẽ mình sẽ phải chôn thân trong bụng con rùa này. Thành ra, anh định quay người nhảy xuống dòng nước, nhưng mà do khi ấy đã quá đuối sức, ko còn sức lực nào để nhưng đấu tranh tiếp nữa.

Sau ấy, ko biết đã qua 1 khoảng thời kì bao lâu, lúc quay lưng lại, tự dưng anh nhận ra trên lưng con rùa viết đúng 5 chữ “gặp duyên số phóng sinh”. Anh mới biết rằng, con rùa biển này chính là con rùa nhưng cha anh đã từng cứu mạng. Tự dưng, tâm cảnh của anh bỗng chuyển từ đau thương, khiếp sợ thành thú vui vô biên cùng sự xoa dịu, hóa ra chú rùa chính là tới cứu mình. Thành ra, anh đã ôm con rùa biển, để cho con rùa mang mình đi, trong mồm liên tụng niệm Phật hiệu và nguyện cầu.

Con rùa rất thư thái khuấy động 4 chân, giống như đang chèo thuyền, quyết tâm đương đầu lại với sóng phệ gió bự để đưa anh lên bờ, lúc vẫn còn chưa lên tới bờ, anh liền nhảy xuống vùng nước nông. Con trai ông Lâm liền hợp thập bái tạ ơn cứu mạng của con rùa. Con rùa cũng vương cổ lên, gật gật đầu, giống như trả lễ lại, hơn nữa còn mở mồm cố nói gì ấy, phát ra âm thanh, có vẻ như rất vui vẻ hạnh phúc chúc mừng, sau ấy mới quay đầu và bơi đi, người dân trên bờ đều lo âu vội đến chúc mừng.

Trong vụ đắm tàu lần này, chỉ có vài chục hành khách còn sinh tồn, sau cuộc khảo sát mọi người phát xuất hiện hóa ra họ đích thực đều là những người con hiếu hạnh, những người đàn bà tiết hạnh, và thường nhật hay làm những việc thiện, chúng ta có thể nhận ra ông Trời đều đang ban phúc lành bảo hộ cho những người lương thiện, nhân hậu và tốt bụng.

Rùa phóng sinh trả ơn cứu mạng
Phóng sinh phước đức vô lượng

[rule_3_plain]

#Top #Câu #chuyện #hay #về #luật #nhân #quả


#Top #Câu #chuyện #hay #về #luật #nhân #quả

Vik News

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button