Tài Liệu

Top 8 bài phân tích nhân vật Vũ Nương siêu hay

Phân tích đối tượng Vũ Nương – Vũ Nương chính là đối tượng chính của tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ. Sau đây là dàn ý phân tách đối tượng Vũ Nương và bài  văn mẫu phân tách đối tượng Vũ Nương cụ thể để các bạn thông suốt hơn về đối tượng và tác phẩm.

  • Top 7 mẫu cảm nhận về đối tượng Vũ Nương siêu hay

1. Dàn ý phân tách đối tượng Vũ Nương

I. Mở bài

Giới thiệu nhà văn Nguyễn Dữ, tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”.

Giới thiệu về đối tượng Vũ Nương – đối tượng chính của truyện.

II. Thân bài

1. Hoàn cảnh sống của Vũ Nương

Xã hội phong kiến Nam quyền với những bất công với người đàn bà.
Chiến tranh binh lửa xảy ra chia cắt nhiều gia đình.

2. Vẻ đẹp của Vũ Nương

Vũ Nương là người vợ hiền, mực thước: biết chồng đa nghi nên cực kỳ gìn giữ mực thước, lúc chồng phải đi lính thì ko mong công danh nhưng mà chỉ chờ đợi chồng trở về bình yên, hết dạ thủy chung kì vọng chồng.

Vũ Nương là người con dâu hiếu hạnh, người bà xã thương con rất mực: chăm nom mẹ chồng khi ốm đau, lúc mẹ chồng chết lo tang như đối với mẹ đẻ, thương con phải xa cha từ bé…

3. Căn số của Vũ Nương

Không được quyết định cuộc đời nhưng mà phải chịu sự bố trí của thầy u: hôn nhân ko môn đăng hộ đối.

Lấy chồng nhưng mà phải chịu sự chia ly bởi chiến tranh.

Bị chồng nghi là thất tiết, phải lấy cái chết để chứng minh sự trong lành.

Khi chết rồi, muốn trở về bên gia đình nhưng mà ko được nữa.

4. Nghệ thuật

Nghệ thuật kể chuyện lạ mắt cho thấy chân dung người đàn bà với vẻ đẹp toàn diện.

Nghệ thuật xây dựng đối tượng: mô tả tâm lí, nội tâm đối tượng Vũ Nương phê chuẩn hội thoại, độc thoại…

Nhân tố huyền ảo góp phần xây dựng tình tiết.

III. Kết bài

Vũ Nương là đối tượng điển hình cho người đàn bà trong xã hội cũ.

“Chuyện người con gái Nam Xương” nói riêng, “Truyền kì mạn lục” khái quát gửi gắm nhiều ý nghĩa nhân bản thâm thúy.

2. Phân tích đối tượng Vũ Nương – mẫu 1

Truyện Người con gái Nam Sương là câu chuyện về căn số oan trái của 1 người đàn bà có sắc đẹp, có tiết hạnh dưới cơ chế phong kiến, chỉ vì 1 lời nói thơ ngây của trẻ nhỏ nhưng mà bị nghi ngại, bị xỉ nhục, bị đẩy tới bước đường cùng, phải kết liễu cuộc đời mình để giãi tỏ tấm lòng trong lành. Ấy là số phậm, hình ảnh của Vũ Nương 1 đối tượng chịu nhiều oan trái.

Nguyễn Dữ đã thật tài tình lúc xây dựng hình ảnh người đàn bà nhưng mà chi tiết ở đây là Vũ Nương, ông đã đặt đối tượng vào cảnh huống không giống nhau để trình bày rõ được phẩm giá của người đàn bà thương chồng, yêu con, hiếu thỏa với thầy u chồng cùng lúc cũng rất mực chung thủy son sắc. Trong cuộc sống vợ chồng phổ biến, nàng đã gìn giữ khuân phép, ko lúc nào vợ chồng phải để tới thất hòa dù rằng Trương Sinh là người chồng tính hay ghen tuông tuông đối với vợ thì phòng phòng ngừa quá mức.

Thật là 1 cảnh khiến cho mọi người phải xúc động, lúc Vũ Nương tiễn chồng đi lính. Thông thường thì lúc chồng đi lính nhiều người mong chồng có được công danh gì mang về để vinh hiển trở về, còn đối với Vũ Nương thi lại ko chông mong vinh hiển nhưng mà chỉ cầu chồng được bình an trở về; nàng còn thông cảm với những khó nhọc, gian khó nhưng mà chồng mình sẽ phải chịu đựng; nàng nhắc đến nỗi nhớ nhung khắc khoải của mình, bằng những lời rất quan tâm; thắm thiết tình cảm.

Khi xa chồng. Vũ Nương lại là 1 người vợ chung thủy, yêu chồng khẩn thiết, nỗi buồn nhớ cứ dài theo măm tháng “bướm lượn đầy vườn”, “mây che kín núi” tác giả đã dùng hình ảnh ước lệ biểu tượng, mượn cảnh vật tự nhiên để diễn đạt sự lưu loát của thời kì. Nàng còn là người con dâu hiếu hạnh, người mẹ hiền, 1 mình vừa nuôi con bé, vừa tận tụy chăm nom mẹ chồng đau ốm, nàng lo thuốc men, cầu khấn phật trời, và khi nào cũng quan tâm, dịu dàng, lấy lời ngon ý ngọt khôn khéo khuyên mẹ gắng dưỡng sức để chờ Trương Sinh quay trở về, thành ra do vậy trước lúc mẹ chồng nhắm mắt nhắm mũi bà đã nói với Vũ Nương rằng Vũ Nương là người con dâu tốt lúc Trương Sinh về sẽ ko phụ lòng tốt của nàng. Rồi nàng cũng cực kỳ thương sót mẹ và lo hậu sự tế lễ như lo cho thầy u ruột của mình.

Tưởng rằng lúc Trương sinh về thì Vũ nương được sống chứa chan trong thú vui và hạnh phúc và nàng cũng san sẻ bớt gánh nặng cuộc sống cho chồng ngờ đâu nàng bị 1 nỗi oan ko tài nào thanh minh nổi, dù rằng nàng đã hết lời phân bua tấm long son sắc chung thủy của mình cho chồng hiểu như: Nàng nhắc đến thân phận mình nghèo được nương nhờ nơi giầu có.. , nghĩa tình vợ chồng bao 5 và khẳng định tấm lòng chung thủy trong sáng, cầu xin chồng đừng nghi oan. Như vậy đã chứng tỏ nàng đã cực kỳ cứu vãn, mong hàn gắn cái hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ đổ vỡ. Sau nữa nàng nói lên nỗi đớn đau, tuyệt vọng lúc ko hiểu tại sao bị đối sử bất công, ko có quyền được tự bảo vệ, ngay cả lúc có họ hàng, anh em tới nói giúp. Hạnh phúc gia đình niềm khao khát của cả cuộc đời nàng đã đổ vỡ như bong bong. Tất cả những nỗi đau buồn chờ chồng trước đây ko còn có thể làm lại được nữa.

Thất vọng tới tột đỉnh, cuộc hôn nhân đã tới độ chẳng thể nào cứu vãn được, Vũ Nương đành phải mượn dòng nước quê hương để giải nỗi oan cho mình. Những lời than trước lúc vĩnh viễn cuộc đời đầy đau buồn của mình nhưng mà cũng đầy luyến tiếc, như 1 lời nguyền xin thần sông chứng giám nỗi oan khúc và tiết sạch giá trong của nàng. Ở đoạn truyện này, cốt truyện được bố trí đầy kịch tính, Vũ Nương bị đẩy tới bước đường cùng, nàng đã mất tất cả, đành phải chấp thuận căn số sau mọi nỗ lực ko thành. Hành động tự trầm mình của nàng là 1 hành động quyết liệt rốt cuộc để bảo toàn danh dự, có nỗi thất vọng cay đắng, nhưng mà cũng có sự chỉ huy của lí trí. Đây chẳng hề là hành động bộc phát trong cơn hot giận.

Vũ nương đúng là 1 người đàn bà dễ nhìn nết na thùy mị, hiền thục, lại đảm đang tháo vát, thờ kính mẹ chồng rất đỗi hiếu hạnh, 1 lòng 1 dạ thủy chung với chồng, hết dạ vun vén cho hạnh phúc gia đình. 1 con người như thế lẽ ra phải được hạnh phúc toàn vẹn, vậy nhưng mà phải chết 1 cách oan uổng, đớn đau. vậy nguyên cớ nào dẫn đến kết quả đáng buồn đấy. Có phải chăng vì cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương ko đồng đẳng chính sự cách bức về thân phận nghèo nàn của Vũ Nương đã cộng thêm cái thế cho Trương Sinh kế bên cái thế của 1 người chồng, người con trai gia trưởng trong cơ chế phong kiến. Hay ấy là những lời nói thơ ngây của đứa trẻ, chứa đầy những dữ kiện nghi ngại khiến cho Trương Sinh 1 người chồng hay có tính đa nghi ghen tuông tuông, hàm hồ và độc đoán kia biến thành kẻ thô bạo, vũ phu là kẻ bức tử vợ mình trong sự mù quáng, kẻ giết thịt người lại hoàn toàn vô can trong vụ án.

Bi kịch của Vũ Nương là lời cáo giác cái xã hội phong kiến xem trọng uy quyền của kẻ giàu và của con trai trong gia đình, cùng lúc bộc bạch niềm bi cảm của tác giả đối với căn số oan trái của người đàn bà. Người đàn bà xấu số ở đây chẳng những ko được bênh vực, che trở nhưng mà còn bị đối sử 1 cách bất công, phi lí, chỉ vì lời nói thơ ngây của đứa trẻ mồm còn hơi sữa và vì sự hàm hồ, vũ phu của anh chồng ghen tuông tuông nhưng mà phải kết liễu đời mình.

3. Phân tích đối tượng Vũ Nương – mẫu 2

Trong văn chương dân gian và văn chương viết của nước ta, người đàn bà bình dân đã nêu cao những trị giá cao đẹp về đạo đức, phẩm giá. Nhưng sống trong xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công, oan nghiệt, họ phải chịu nhiều đau buồn và xấu số. Đọc “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ ta thương Vũ Thị Thiết phải chịu nỗi oan khúc và để giải nỗi oan, nàng đã tìm tới cái mệnh chung thương tâm.

Nguyễn Dữ giới thiệu với ta đối tượng Vũ Nương – 1 đàn bà đẹp người, đẹp nết. Nàng có tư dung đẹp, tâm tính lại hiền dịu, nết na. Khi làm vợ Trương Sinh, 1 người chồng có tính đa nghi, nàng vẫn gìn giữ mực thước để ko xảy ra cảnh bất hoà. Hạnh phúc chồng vợ đoàn viên chưa được bao lâu, chiến tranh xảy ra, chồng phải ra trận, nàng tiễn chồng lên đường với tâm cảnh đau buồn. Lời nói với chồng trong giờ khắc chia tay thật thật tâm, cảm động khiến cho “mọi người đều ứa 2 hàng lệ”. “Nàng chẳng cầu mong chồng đeo ấn phong hầu nhưng mà chỉ cầu xin chồng trở về bình an vô sự”. Nguyện vọng của nàng thật giản dị nhưng mà thâm thúy.

Mấy 5 chồng đi xa, ở nhà 1 tay nàng toan lo mọi công tác gia đình, nuôi con từ trứng nước tới lúc mập khôn. Nàng còn là người con dâu hiếu hạnh rất đỗi, lúc mẹ chồng đau ốm nàng “cực kỳ thuốc men lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khéo léo khuyên nhủ”. Khi bà cụ nhắm mắt xuôi tay, nàng hết dạ thương xót, lo hậu sự tế lễ toàn vẹn. Sự ăn ở đối xử hết dạ với mẹ chồng chẳng khác nào đối với thầy u mình vậy. Tóm lại, Vũ Nương là 1 đàn bà toàn vẹn, trình bày được những phẩm giá đạo đức cao quý của người vợ, người mẹ, người con. Con người tương tự lẽ ra phải được lợi hạnh phúc yên ấm của gia đình.

Chiến tranh xong xuôi, chồng trở về, thú vui chưa toàn vẹn thì thảm kịch xảy ra. Trương Sinh – 1 kẻ vô học, thô tục, đa nghi, hay ghen tuông đã nghe lời đứa con thơ ngây, ko dò xét ngành ngọn, nghi ngại vợ mình ko thủy chung. Nàng đau buồn, khóc lóc bộc bạch nỗi oan với chồng nhưng mà Trương Sinh 1 mực vẫn cáo buộc vợ, thậm chí còn nhiếc mắng, đánh, đuổi nàng đi. Họ hàng, xóm làng đều biện minh cho nàng nhưng mà cũng ko chỉnh sửa được thái độ của Trường Sinh. Không còn cách nào để giải oan được nữa, nàng chọn cái chết để thổ lộ tấm lòng thủy chung, trong sáng của mình. Thật khổ thân cho Vũ Nương, 3 5 trời xa cách vẫn gìn giữ 1 tiết, đấy nhưng mà lúc chồng trở về lại bị nghi oan, 1 con người phẩm hạnh như thế, lại mang tai mang tiếng nhuốc nhơ. Bi kịch bị dồn nén tới cao độ, trong tình cảnh ấy, Vũ Nương chỉ có 1 tuyến đường tìm tới cái chết. Thương Vũ Nương, thiên hạ càng trách giận Trương Sinh phũ phàng:

Khá trách chàng Trương Sinh khéo phũ phàng

(“Lại bài Viếng Vũ Thị”của Lê Thánh Tông)

Và ngay cả lúc chết rồi, ở dưới thủy cung, nàng vẫn ôm mối hận bị chồng ruồng rẫy, nàng nghĩ: “Thà già ở chốn làng mây cung nước, chứ còn mặt mày nào về nhận ra người ta nữa”. Nhưng có khi nàng lại băn khoăn: “Không thể gửi hình ẩn bóng ở đây được mãi, để mang tai mang tiếng xấu xa”. Nàng mong muốn tha thiết trở về quê hương sum vầy với chồng và để giải được nỗi oan. Nhưng âm dương xa cách nàng “không thể trở về trần gian được nữa”.

Trong xã hội phong kiến, những người đàn bà tiết hạnh, hiền thục như Vũ Nương đều chịu chung căn số bi ai. Câu chuyện về cái chết thương tâm của Vũ Nương càng khiến cho ta cảm thông với những nỗi đau của người đàn bà trong xã hội cũ. Tác phẩm còn là ngôn ngữ cáo giác chiến tranh phong kiến đã làm đổ vỡ hạnh phúc của nhiều đôi lứa, gia đình. Trong 1 xã hội nhưng mà quyền sống con người được tôn trọng như xã hội ta hiện tại, những người đàn bà có sắc đẹp, phẩm hạnh như nàng Vũ Thị Thiết cứng cáp sẽ sống cuộc đời hạnh phúc.

Từ 1 câu chuyện lưu truyền trong dân gian, Nguyễn Dữ đã sáng tác nên 1 tác phẩm rực rỡ. Mặc dầu có nhiều ít nhân tố hoang đường nhưng mà “Chuyện người con gái Nam Xương” đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng ko phai mờ.

4. Phân tích đối tượng Vũ Nương – mẫu 3

“Truyền kì mạn lục” là 1 tác phẩm văn xuôi có trị giá của văn chương cổ nước ta ở thế kỉ XVI, 1 tập truyện văn xuôi trước nhất viết bằng chữ Hán ở Việt Nam. “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, tác phẩm truyền kì mạn lục là 1 tác phẩm hay trong tập truyện ấy. Nhân vật chính là Vũ Nương, 1 đàn bà đẹp người, đẹp nết đã phải lấy cái chết để giải oan trước sự ghen tuông tuông vô cớ của chồng mình. Có thể nói Nguyễn Dữ là tác giả văn xuôi điển hình của văn chương cổ thế kỉ XVI. Hình ảnh người con gái Nam Xương là đối tượng từng có tác động thâm thúy tới lòng người mọi thời. Lê Thánh Tông đã từng xúc động viết trong bài thơ “Miếu vợ chàng Trương”:

“Nghi ngút đầu ghềnh toả khỏi hương,

Miếu người nào như miếu vợ chàng Trương…”

Câu chuyện về Vũ Nương đề đạt cuộc đời đau buồn và bi thương của Vũ Nương – người đàn bà dưới cơ chế xã hội phong kiến. Người vợ phải tự sát để giải oan cho sự thuỷ chung của mình. Tác phẩm nêu cao chủ nghĩa nhân đạo khiến ta xúc động lúc về đối tượng Vũ Nương trong truyện. Trước hết, đọc truyện, người đọc càng thương cho thân phận Vũ Nương và dễ dãi nhận thấy được Vũ Nương là 1 người đàn bà nết na, tiết hạnh, đối xử với mẹ chồng và chồng rất phải đạo; là người vợ rất đỗi đảm đang, nhân đức, giàu đức khiêm tốn.

Có tư dung tốt đẹp, nhưng mà trong cuộc sống gia đình, nàng can tâm làm 1 người vợ hiền, ngoan nết “chẳng khi nào vợ chồng phải tới thất hoà”, và cho dù Trương Sinh, chồng của nàng, tuy là con nhà hào phú, lại ít học, đa nghi quá sức. Sự khiêm nhượng, cam chịu của Vũ Nương là điều kiện hình thành sự yên ấm của gia đình, mặc cho cơ chế nam quyền độc đoán đè nặng trong đầu óc kẻ vị kỉ ít học như chồng mình.

Nếu lấy sự kiện ngày Trương Sinh đi lính thú thì hành động và lời lẽ tống biệt chồng của người vợ hiền, lời tha thiết cầu mong của Vũ Nương: “Chẳng mong chàng áo gấm trở về quê cũ, chỉ mong được 2 chữ bình an thế là đủ rồi”…, “thư tín ngàn hàng, áo rét gửi người cửa ải xa…”, là cụ thể cho cái “công-dung-ngôn-hạnh” nhưng mà Vũ Nương đã làm được 1 cách thành tâm. Thế rồi, nỗi nhớ nhung, sự độc thân, giữ mình của người vợ trẻ càng khiến chúng ta phải truyền tụng con người nhân đức và đảm đang ấy. Tính cách cao đẹp của Vũ Nương còn là lòng hiếu hạnh với mẹ chồng, lòng chung thuỷ son sắt với chồng của nàng.

Khi chồng vào lính, Vũ Nương 1 mình đảm đang, nuôi dạy con thơ, chăm nom thuốc men cho mẹ chồng đau yếu, làm hậu sự tống tang lúc mẹ chồng nhắm mắt xuôi tay. Vũ Nương giữ tròn hiếu đạo với mẹ chồng, giữ tròn nghĩa tình với chồng. Cái thói thường bấy lâu thường chẳng thể hoà hợp giữa mẹ chồng nàng dâu, nhất là trong gia đình phong kiến. Thế nhưng mà, dù chỉ có 2 mẹ con sống với nhau (Vũ Nương với mẹ chồng) nhưng mà nàng xem mẹ chồng như mẹ đẻ, điều ấy còn được trình bày qua lời trăng trối của mẹ chồng nàng trước lúc bà nhắm mắt xuôi tay: “Xanh kia sẽ chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ …”. Rồi sự chăm chút của Vũ Nương trong việc hậu sự, cúng lễ đã trình bày tấm lòng thơm thảo của người con dâu đáng quý như Vũ Nương. Lòng chung thuỷ của Vũ Nương còn được trình bày ở hành động nuôi con, chờ chồng suốt những ngày tháng Trương Sinh đi lính nhưng mà chưa rõ mặt con. Chỉ có 2 mẹ con cui cút đùm bọc, gắn bó. Cậu nhỏ Đản ngây thơ, đêm tới được mẹ chỉ vào cái bóng của mình trên tường gọi là cha (ấy là 1 cách dụ dỗ con ngủ thật hồn nhiên nhưng mà sau ấy lại là nguyên cớ gây ra cái tội thật vô tình).

Nỗi hàm oan ko được quyền nói, suy xét cho ra là bởi con người độc đoán, phàm phu lại kém văn hoá như Trương Sinh lúc chàng ra lính trở về (nghe lời đứa con non dại) đã gây nên nỗi oan tày đình cho Vũ Nương. Bị chồng ghen tuông tuông vô cớ, bao lăm lời thổ lộ của Vũ Nương và lời khuyên ngăn của hàng xóm, bà con, cô bác, Trương Sinh vẫn ko tin và đinh ninh là “vợ hư, mối nghi ngại ngày càng lún sâu ko có cách gì gỡ ra được. Chàng nhiếc mắng vợ thật thậm tệ rồi “đánh đuổi nàng đi”. Vũ Nương không phải có lầm lỗi gì, nàng thuỷ chung, trinh bạch, tiết hạnh toàn vẹn nhưng mà sự đối xử của chồng khiến cho nàng hoàn toàn tuyệt vọng, ko hiểu nỗi oan khúc từ đâu nhưng mà ra. Không có cách nào để thổ lộ, tuyệt vọng bởi hạnh phúc – thú vui “nghi gia nghi thất” ko còn nữa, nàng phải tìm tới cái chết để giải oan. Hành động tự sát là thái độ rốt cuộc nàng được phép bởi chẳng thể giải bày được với chồng, đức hạnh của nàng sẽ bị hoen ố, biết bao giờ phai mờ đi trong tâm não của chồng.

1 người vợ hiền từ, đầy tiết nghĩa, thuỷ chung phải chết dẫu vô tội tình gì. Mãi tới sau cái chết ấy, người chồng mới hiểu nỗi oan ức của vợ mình. Chính sự độc đoán của người con trai trong gia đình phong kiến nhưng mà Nho giáo nuôi dưỡng dung túng là đề tài nhưng mà Nguyễn Dữ muốn phê phán. Bởi ko chỉ hình ảnh đối tượng Vũ Nương, nhưng mà còn biết bao thân phận đàn bà “7 nổi, 3 chìm” đã phải sống trong cảnh đời tương tự:

“Đớn đau thay phận nữ giới

Lời rằng bạc phận cũng là lời chung”

Cái chết của Vũ Nương là căn số, nhưng mà cũng là lời cáo giác thói ghen tuông tuông ích kỉ, sự hàm hồ, vũ phu của con trai – người chồng vô học, đa nghi như Trương Sinh – là lời cáo giác quy tắc phong kiến khắc nghiệt dung túng cho sự ác nghiệt, bất công – “cơ chế nam quyền” dưới thời phong kiến ngự trị.

Vũ Nương trong truyện là 1 đối tượng rất đẹp, theo đúng quan niệm đặc điểm truyền thống, nhưng mà phải chịu nổi oan tày đình và phải chứng nhận sự không có tội của mình bằng cái chết. Cái chết đớn đau bất công, chỉ vì sự hiểu nhầm, từ 1 câu nói ngây thơ của trẻ nhỏ nhưng mà người chồng Trương Sinh đã nghi oan, đã làm mất đi người vợ quý trên đời. Nguyên nhân sâu xa của thảm kịch nát lòng này chính là do chiến tranh binh lửa và lễ giáo phong kiến trọng nam quyền trong xã hội ngày trước.

5. Phân tích vẻ đẹp của Vũ Nương

Nền văn chương trung đại Việt Nam của chúng ta từ thế kỷ X tới XIX chính yếu kết tinh và ghi dấu thành quả bởi các tác phẩm thơ hoàn hảo, nhưng mà Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du là 1 trong những minh chứng rõ rệt nhất. Nhưng nói như thế ko có nghĩa rằng trong quá trình này nền văn chương nước ta ko có tác phẩm văn xuôi nào đáng chú tâm, bởi Nguyễn Dữ với tập Truyền kỳ mạn lục đã cho chúng ta 1 cái nhìn mới, thổi 1 làn gió lạ mang tên “truyền kỳ” vào với nền văn chương giang san. Trong 20 câu chuyện của tác phẩm này, thì Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là 1 trong số những truyện được biết tới nhiều, song song với ấy thì truyện Chuyện người con gái Nam Xương cũng được nói đến nhiều với hình ảnh nàng Vũ Nương đại diện cho người đàn bà Việt Nam xưa, dẫu mang nhiều phẩm giá tốt đẹp nhưng mà vẫn phải chịu căn số xấu số.

Nguyễn Dữ sống vào khoảng thế kỷ XVI, khi này đây triều đình nhà Lê đã có tín hiệu suy yếu, cuộc sống quần chúng có nhiều gian khổ. Ông là người học rộng tài cao, nhưng mà lại ko ham vinh hoa phú quý, ra làm qua được tầm 1 5 thì ông cáo quan lui về ở ẩn, thanh dưỡng tâm hồn và cho ra áng thiên cổ kỳ bút Truyền kỳ mạn lục. Chuyện người con gái Nam Xương là 1 trong những truyện rực rỡ nhất trong tập Truyền kỳ mạn lục.

Cuộc đời của Vũ Nương ko thật sự yên ả, cuộc sống vợ chồng của nàng dù ko được nói đến nhiều thế nhưng mà việc sống với 1 người chồng luôn ghen tuông tuông ngừa thì nàng hẳn ko lấy làm dễ chịu, sau cuối cũng vì tính ghen tuông xa xôi ích kỷ của Trương Sinh nhưng mà Vũ Nương phải lấy cái chết để giải oan. Và để tô đậm cái xấu số của cuộc đời người con gái này Nguyễn Dữ đã khôn khéo xây dựng Vũ Nương là 1 cô gái tài đức toàn vẹn, công dung ngôn hạnh đầy đủ, chẳng phải khuyết thiếu “tính đã thùy mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp”. Chỉ với vài từ ngắn gọn thế nhưng mà hình ảnh Vũ Nương đã hiện lên là 1 cô gái có sắc đẹp dễ nhìn, lại còn có phẩm giá tốt đẹp cao quý, ấy là vẻ đẹp toàn vẹn. Chính thành ra nên dẫu nghèo nàn nhưng mà Vũ Nương vẫn được Trương Sinh đàn ông 1 nhà hào phú trong làng “xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới về”, điều ấy trình bày trị giá con người Vũ Nương, cùng lúc là lòng trân trọng của Trương Sinh lúc hỏi cưới nàng.

Trong tác phẩm Nguyễn Dữ chỉ lướt nhẹ qua sắc đẹp của Vũ Nương, sau ấy ông tập hợp tô đậm vẻ đẹp phẩm giá của nàng. Ở vai trò người vợ, Vũ Nương rất mực thương mến và lo nghĩ cho chồng, biết chồng có tính hay ghen tuông lại nghi kỵ thế nên trong cuộc sống vợ chồng nàng cực kỳ “gìn giữ mực thước, ko khi nào để vợ chồng phải thất hòa”. Ngày chồng phải tòng quân đi đánh giặc, nàng thương xót căn dặn, thề nguyền, nàng ko ham chồng được phong ấn, mũ quan, vinh hiển về làng nhưng mà chỉ cầu chồng được 2 chữ bình yên, cũng bộc bạch nỗi mong nhớ, lo âu của mình lúc chồng đi vào nơi hiểm trở chẳng may có cớ sự. Lời nàng tha thiết, thâm thúy biểu hiện rõ tình cảm vợ dành cho người chồng đi chinh chiến bóng gió, khiến người nào nấy đều cảm động khôn nguôi. Trương Sinh đi lính chưa đầy mười ngày thì Vũ Nương lại sinh con, cuộc vượt cạn khó nhọc đớn đau lại ko có lang quân, thế nhưng mà nàng vẫn 1 dạ 1 lòng chăm con khôn mập, đợi cho tới ngày giặc tan, Trương Sinh trở về sum vầy. Suốt 3 5 đợi chờ, nàng “buồn nhớ khôn nguôi”, khi gặp cảnh chồng ghen tuông tuông nàng cũng ko mập tiếng cự cãi nhưng mà chỉ dùng lời lẽ mềm dẻo để mong giữ được cái “niềm vui nghi gia nghi thất”, vợ chồng hòa thuận, con có cha có mẹ.

Đối với mẹ chồng, nàng coi như thầy u ruột nhưng mà phụng bồi, chăm nom, mẹ chồng vì thương con chinh chiến ko tới nửa 5 thì ngã bệnh, Vũ Nương 1 mặt thuốc men, cơm cháo quan tâm, 1 mặt “lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khéo léo khuyên nhủ”. Nhưng dầu cạn đèn tắt, sự tình chẳng thể cứu vãn mẹ chồng nhắm mắt nhắm mũi xuôi tay, khi này đây lại 1 tay nàng lo tang sự “hết lời thương xót, hậu sự tế lễ như đối với thầy u đẻ mình”, hiếu thuận chăm chút cực kỳ. Với đứa con bé, tuy Nguyễn Dữ ko nói đến nhiều, nhưng mà đọc truyện cũng có thể cảm thu được lòng thương con của nàng Vũ Nương, 1 tay chăm nó kể từ sơ sinh, tới khi biết nói, đêm nào cũng trỏ bóng mình nhưng mà nói đó là cha để dỗ cho con vui. Lòng mẹ rộng lớn, thương con vô bến bờ, dẫu nói điêu, nói đùa cũng là thương con, có thể thấy việc nuôi con 1 mình khiến Vũ Nương chịu nhiều cay đắng khó nhọc, thế nhưng mà nàng chưa từng than thở 1 lời, chỉ chăm chắm 1 dạ sắt son.

Ngoài là 1 người vợ đảm đang, nết na, chung thủy 1 lòng nhưng mà Vũ Nương còn là 1 người có tấm lòng vị tha, bao dong cực kỳ. Chồng tòng quân xa, nàng ở nhà 1 mình chèo lái cả 1 gia đình, chăm mẹ già, nuôi con bé, thế nhưng mà lúc trở về Trương Sinh chẳng những ko hàm ơn, còn đâm ra nghi ngại vô cớ. Thế nhưng mà nàng ko 1 câu trách móc, vẫn luôn giữ đúng phụ đạo, bé nhẹ thổ lộ, 1 lòng mong muốn chồng thông hiểu, muốn tìm rõ nguyên cớ nhưng mà khổ một nỗi Trương Sinh lại giấu giếm. Điều đấy đã đẩy nàng tới thảm kịch phải chọn lọc cái chết vì nếu sống nhưng mà bị ruồng rẫy, điếm nhục thì còn nghĩa lý gì.

Khi sống dưới thủy cung, nàng vẫn sẵn lòng tha thứ cho chồng, điều đấy trình bày qua cụ thể nàng gửi chiếc thoa vàng cho Phan Lang mang về để nhờ Trương Sinh lập đàn tẩy oan. Khi hiện về ở trên bến Hoàng Giang Vũ Nương vẫn ko trách móc Trương Sinh nhưng mà vẫn đưa lời lạy tạ “Đa tạ tình chàng, thiếp không thể trở về trần gian được nữa”, cho thấy nàng đã hoàn toàn tha thứ cho chồng, đánh tháo chồng khỏi những ăn năn, chua xót vì trách lầm vợ. Lòng Vũ Nương vẫn không phải chỉnh sửa, nàng vẫn dịu dàng, hiền thục như thế, dẫu chồng mình đã gây cho nàng biết bao đau buồn, khiến nàng phải chịu đớn đau tan của nát nhà, xa lìa đứa con mới tập nói.

Dẫu nàng có đầy đủ các phẩm giá tốt đẹp thế nhưng mà cuộc đời nàng lại là 1 chuỗi những xấu số kéo dài. Mới vừa lấy chồng thì đã phải lìa xa chồng, 1 thân 1 mình chèo lái khó nhọc, vừa mỏi mệt thân xác, lẫn mỏi mệt trong tâm hồn. Tới khi tưởng được đoàn tụ thì lại gặp phải nỗi oan lạ đời, xuất hành từ lời nói vô thưởng vô phạt của đứa con bé, bị chồng ruồng rẫy ghen tuông tuông, phải tự vẫn để chứng minh cho tấm lòng thanh sạch.

Nhân tố kỳ ảo đã giúp nàng được sống, Nguyễn Dữ đã cho nàng 1 cái kết có hậu, thế nhưng mà cái kết đấy vẫn ko được toàn vẹn. Bởi tuy được sống cuộc sống nhàn hạ, giàu có dưới thủy cung, thế nhưng mà nàng lại phải chịu nỗi độc thân, thương chồng, nhớ con nhưng mà chẳng thể trở về, chỉ có thể nói lời lạy tạ rồi mất tích. Như vậy nàng đã ko phút nào có được hạnh phúc thực thụ, bởi ở xã hội phong kiến hạnh phúc ko dành cho những người đàn bà như Vũ Nương, hạnh phúc là cái gì ấy quá xa vời, dễ dãi vì 1 lời bâng quơ nhưng mà tan trở thành hư không. Ấy là xấu số chung của thân phận người đàn bà dưới cơ chế phong kiến khắc nghiệt, thủ cựu.

Với những bộc lộ của sắc đẹp, phẩm giá tốt đẹp như thế, nết đảm đang, lòng hiếu hạnh, đức hy sinh, chung thủy son sắt, lòng bao dong, vị tha bự mập, Vũ Nương chính là hiện thân cho vẻ đẹp của người con gái Việt Nam. Vẻ đẹp của nàng chính là những vẻ đẹp nhân sinh cực kỳ quý giá, nàng hoàn toàn xứng đáng được lợi hạnh phúc điền viên, được chồng mến thương, chăm nom chứ chẳng hề chịu nỗi xấu số ghen tuông tuông vô cớ, rồi táng thân nơi sông nước, sau cuối lại sống bất diệt với nỗi độc thân vời vợi. Nguyễn Dữ viết về đối tượng Vũ Nương 1 là bên truyền tụng những phẩm giá tốt đẹp của người đàn bà Việt Nam, 1 bên cũng đề đạt những bất công trong xã hội phong kiến xưa đối với thân phận người đàn bà. Ấy là những trị giá nhân đạo, nhân bản thật thâm thúy nhưng mà tác giả muốn truyền đạt qua câu chuyện cũng như đối tượng của mình.

6. Phân tích đối tượng Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương

Trong văn chương Việt Nam đã có ko ít tác phẩm mang tên gọi truyền kì hoặc mang thuộc tính truyền kí song được suy tôn “thiên cổ kì bút” thì cho tới này chỉ có 1 Truyền Kì Mạn Lục của Nguyễn Dữ. Và Trong ấy đoạn trích Chuyện người con gái Nam Xương rực rỡ nhất: Đã khắc họa thành công căn số của người đàn bà dưới cơ chế xưa.

Truyền Kì Mạn Lục là lọai văn chuyên biên chép rải rác những điều kì dị vẫn được lưu truyền. Cho nên trước ấy Chuyện người con gái Nam Xương cũng đã được lưu truyền phổ thông trong chốn dân gian. Hẳn ko mấy người nào ko biết tới 2 bài thơ thăm viếng nàng vũ thị trong hồng đức quốc âm thi tập. Hai bài thơ ấy chứng tỏ rằng câu chuyện bi thương về người nữ giới họ Vũ vợ chàng Trương là có thật. Đã được dân gian lưu truyền. Nhưng chẳng hề Nguyễn Dữ chỉ có làm công tác dễ ợt: Biển chép lại cho đúng 1 chuyện kể đã có sẵn từ những 5 tháng trước ấy nhưng mà còn phải nhào nặn lại câu chuyện khiến cho nó gần gụi với người đọc, mang dấu ấn của thời đại mình.

Truyện bắt đầu bằng dòng chữ “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương …” Tăm tiếng, quê quán của đối tượng chính đã được giới thiệu rõ ràng như thế. Chứ ko giống như những đối tượng khác: Chàng họ Trương, ông họ Phan. Thật lạ!. Vũ Thị Thiết là người độc nhất vô nhị trong truyện được nêu đầy đủ họ tên, tính danh để lưu truyền cho hậu thế. Nhưng Vũ Thị Thiết chỉ là 1 người nữ giới phổ biến, thuộc giới nghèo hèn “vốn con kẻ khó”, diện mạo thì ko có gì đặc trưng. Vậy nhưng mà nàng đã là 1 đối tượng lưu truyền nơi hậu thế. Có nhẽ Nguyễn Dữ đã có những nhận thức văn minh về xã hội. Những buộc ràng khuôn pháp đã ko còn cứng cáp trong tâm não ông. Ông ân cần tới đời sống của mọi người chứ ko còn mê mải tìm cảm hứng văn học trong hàng ngũ những người quý phái hay tuyệt sắc mĩ nhân nữa.

Phcửa ải Chính từ quan niệm ấy Nguyễn Dữ đã cho có mặt trên thị trường 1 mẫu người đàn bà lí tưởng, tuy chẳng hề là mĩ nhân những lại tụ hội những đức tính phẩm giá tốt đẹp cần có ở người đàn bà Vũ Thị Thiết! “tâm tính thùy mị nết na lại thêm tư Dung tốt đẹp” Tuy tác giả đã nói rằng 2 nhân tố bên trong và bên ngoài của nàng đều vẹn tòan. Chẳng khác nào Kiều xưa kia. Thế nhưng mà càng vào sâu trong tác phẩm ta mới trông thấy rằng. Chữ dung đã thua chữ tài.

Sau mấy lời giới thiệu trước nhất, thì trong toàn truyện sẽ ko còn những câu nào mô tả vẻ đẹp bên ngoài của nàng ta nữa. Vũ Nương đã chiếm được địa điểm trong lòng chúng ta chẳng hề là do tư dung nhưng mà do phẩm hạnh. Phẩm chất ở đây ko như cô gái hái dâu Ỷ Lan hay đào nương nương diệt giặc miền Tiên Lữ. Phẩm chất Vũ Nương là về gia đình. Diễn ra từ về nhà chồng Vũ Nương luôn tỏ ra là 1 người con dâu hiểu thảo, đảm đang, hay làm, biết tính chồng hay ghen tuông Vũ Nương luôn nỗ lực ko để cho vợ chồng thất hòa, rồi còn lo âu thuốc men và hậu sự tế lễ đầy đủ cho mẹ chồng nữa Vũ Nương đã làm tất cả để gìn giữ, vun đắp cho hạnh phúc của gia đình. Thật là 1 con người điển hình cho công dung ngôn hạnh ở xã hội xưa.

Trong xã hội xưa vai vế người đàn bà trong gia đình thường là thấp hèn nhất. Mẹ chồng kiếm con dâu chỉ cốt để đày đọa, hay kiếm đứa cháu nối dõi tông đường. Cho nên mẹ chồng và con dâu thường thất hòa, ko dễ hòa thuận. Nhưng trong tác phẩm ta lại thấy Vũ Nương được chính người mẹ chồng này tô đậm phẩm chất của mình. Những lời khen này càng trở thành ý nghĩa hơn, có trị giá hơn gấp bội “Chồng con nơi bóng gió chưa biết chết sống thế nào chẳng thể về đền ơn được. Sau này, trời xét lòng thành, ban cho phúc đức, giống dòng tốt tươi, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”

Đúng là như thế. Vũ Nương thật là 1 người con gái tài sắc vẹn tòan. Sống trên đời ko để phụ người nào, luôn đối xử quan tâm với mọi người. Vậy nhưng mà người con gái Nam Xương đấy đã bị phụ. Tai họa bỗng chốc ập tới. Thật đột ngột! Thật mau chóng! Tới khó tin kì dị. Mới ngày nào người con gái đấy còn thổn thức cùng chồng những lời nói tha thiết đẫm lệ: “Nhìn trăng soi thành cũ, lại soạn sửa áo rét gửi người cửa ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tư thương người đất khách!. Dù có thư ngàn hàng cũng ko sợ cánh hồng bay bổng “Mới ngày nào cuộc tiễn biệt đầy vấn vương nhớ nhung” Ngước mắt cảnh vật vẫn như cũ nhưng mà lòng người đã nhuộm mối tình muôn dặm quan sơn!”. Những câu viết ko vượt khỏi ước lệ văn học 1 thuở nhưng mà lại có sức lay chuyển lòng người lạ đời!. Vì những tình cảm đấy rất thành tâm.

Vậy nhưng mà trời đã phụ lòng người chỉ “qua 5 sau” thôi tất cả đều tan tành. Thay cho Trăng, cho Liễu, cho “cánh hồng bay bổng” và mối tình muôn dặm quan sơn chỉ còn là nỗi nghi ngại, những lời nhiếc mắng đánh đập tới thậm tệ. Công sức nuôi con dưỡng mẹ, làm tròn nghĩa vụ con dâu đều đổ xuống sông xuông biển, đến mức “ko còn có thể lại lên núi Vọng Phu nữa” Nhưng đáng buồn thay! Tai họa này chỉ do 1 lí do ko đáng nói!. Do cái bóng!. Vì nhớ chồng, con lại cách biệt cha lâu ngày nên nàng chỉ còn biết nói cái bóng là Cha Đản. Và lòng nàng cũng xem nó là chồng. Thế là nhỏ Đản thơ ngây nên đã tin cái bóng ấy là sự thực. Và cứ lầm tưởng rằng cha mình đêm nào cũng tới mẹ Đản đi cũng đi Mẹ Đản ngôi cũng ngồi. Và lúc qua tai Trương Sinh thì những lời nói hồn nhiên ấy lại biến thành sự thực. Cái bóng thành người. Hại cho đời người con gái tài sắc.

Chắc hẳn trong các tác phẩm văn chương, Có được sự thông minh tài tình tinh sảo như cụ thể về chiếc bóng oan trái này sẽ chỉ đếm trên đầu ngón tay 1 sự song trùng thật huyền ảo thật đáng kinh ngạc. Bóng dần trở thành người. Cái thực lộn lạo pha trộn cái hư, cái giả chấp chới trong cái thật. Không phải là người vợ cũng tha thiết với hạnh phúc của 1 gia đình được đoàn viên, sum vầy Vũ Nương chẳng thể nào nghĩ ra tuồng chơi này. Ai ngờ chính nó đã làm tan tành đời nàng. Khi trỏ cái bóng in trên vách chắc hẳn người thiếu phụ chỉ muốn nguôi đi cảm giác con mình đang sống vắng cha. Nhưng hóa ra chính thành ra nhưng mà nàng đã mất chồng, Đản đã mất mẹ. Nếu truyện được kể thật đúng theo trình tự thời kì thì cụ thể chiếc bóng phải được kể trước lúc Trương Sinh chở về. Nhưng ko ngờ Nguyễn Dữ lại tài giỏi tới tương tự. Đã ém ngẹm lại cái cụ thể giật gân đấy. Rồi bùng nén ra ở 1 địa điểm phù hợp đã gây ra bão giông, khuấy lên sóng gió. Không còn gì để ngăn được cơn bực tức của kẻ có tính hay ghen tuông Trương Sinh khỏi nổ bùng. “Thú vui nghi gia nghi thất, hạnh phúc độc nhất vô nhị, niềm mơ ước độc nhất vô nhị của 1 đời Vũ Nương trong phút giây trở thành hoàn toàn đổ vỡ. Bình đã rơi, trâm đã gãy, liễu đã tàn trước gió, sen đã rũ trong ao, người thiếu phụ chung thủy nhưng mà bạc phận chỉ còn có thể tìm tới cái chết để thổ lộ tấm lòng trong sáng của mình

Nàng đã gieo mình xuống sông Hòang Giang tự sát. Và thiên hạ sẽ lưu truyền thêm 1 tấm thảm kịch về căn số người đàn bà. Tấm thảm kịch về cái đẹp bị chà nát phũ phàng. Tấm thảm kịch này là sự đầu hàng căn số nhưng mà cũng là lời cáo giác thói ghen tuông tuông ích kỉ, sự hàm hồ vũ phu của gã con trai và quy tắc phong kiến khắc nghiệt dung túng cho sự ác nghiệt hủ bại. Nàng đã gặp 1 người chồng tuy là con nhà hào phú song ít học lại đa nghi tới mức ghen tuông tuông mù quáng nên chẳng thể trông thấy sự tuyệt vời trong phẩm hạnh của nàng. Rõ ràng sự khuyết thiếu trong tính cách của đối tượng Trương Sinh đã dồn nàng tới bước đường cùng. Giá như Trương Sinh tĩnh tâm mày mò 1 chút thôi thì tấm thảm kịch chết người kia sẽ chẳng thể xảy ra. Nhưng ấy chỉ là giá như thôi vì Nguyễn Dữ đã đặt dấu chấm than cho mọi sự đã rồi.

7. Phân tích vẻ đẹp của đối tượng Vũ Nương

“Chuyện người con gái Nam Xương” rút trong tác phẩm “Truyền kì mạn lục”, áng văn xuôi viết bằng chữ Hán của Nguyễn Dữ trong thế kỉ 16. 1 tuyệt bút văn học cổ được truyền tụng là “thiên cổ kì bút”. Truyện kể lại môt câu chuyện truyền kì có nhiều nhân tố hoang đường lưu truyền trong dân gian về thảm kịch gia đình ở Nam Xương có dòng sông Hoàng Giang vào cuối thế kỉ 14, đầu thế kỉ 15, 1 thời binh lửa, đầy bất định. Nhân vật Vũ Nương là người con gái bạc phận đáng thương ấy có bao phẩm giá tốt đẹp điển hình cho tiết hạnh của người đàn bà trong xã hội phong kiến ngày xưa.

Tên của nàng là Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xương, thuộc phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam hiện tại. Xuất thân trong 1 gia đình “kẻ khó”, nhưng mà Vũ Nương vừa có sắc đẹp vừa có tiết hạnh: “tính đã thùy mị, nết na, lại thêm có tư dung tốt đẹp”. Nàng là 1 cô gái danh giá nên Trương Sinh, con nhà hào phú “mến vì dung hạnh” đã xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Trong đạo vợ chồng, Vũ Nương là 1 người đàn bà sáng dạ, phúc hậu, biết chồng có tính “đa nghi”, nàng đã “gìn giữ mực thước” ko để xảy ra cảnh vợ chồng phải “thất hòa”, sống giũa thời binh lửa Trương Sinh phải tòng quân đi chinh chiến ở biên cửa ải bóng gió. Buổi tiễn chồng ra trận, Vũ Nương đã rót chén rượu đầy chúc chồng “được 2 chữ bình an”: nàng chẳng mong được đeo ấn phong hầu mặc áo gấm trở về quê cũ… Mong ước của nàng thật bình dị, vì nàng đã coi trọng hạnh phúc gia đình hơn mọi công danh phù phiếm ở đời. Những 5 tháng cách biệt, Vũ Nương nhớ thương chồng khôn cùng kể: “… mỗi lúc thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân mây chẳng thể nào ngăn được”. Tâm cảnh thương nhớ đau khổ đấy của Vũ Nương cũng là tâm cảnh chung của những người chinh phụ trong mọi thời binh lửa bấy lâu:

… “Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong…”

(Chinh phụ ngâm)

Thể hiện tâm cảnh đấy, Nguyễn Dữ vừa thông cảm với nỗi đau buồn của Vũ Nương, vừa truyền tụng tấm lòng chung thủy nhớ thương đợi chờ chồng của nàng. Vũ Nương là 1 đàn bà đảm đang, giàu tình thương. Chồng ra trận mới được 1 tuần thì nàng sinh ra 1 đứa cọn trai đặt tên là Đản. Mẹ chồng già yếu, ốm đau, nàng “cực kỳ thuốc men”, “ngọt ngào khéo léo khuyên nhủ”. Vừa phụng dưỡng mẹ già, vừa chăm nom nuôi dạy con thơ. Khi mẹ chồng nhắm mắt xuôi tay, nàng đã “hết lời thương xót”, việc hậu sự tế lễ được tính liệu, tổ chức rất chăm chút “như đối với thầy u đẻ mình”. Qua ấy, ta thấy trong Vũ Nương cùng hiện ra 3 con người tốt đẹp: nàng dâu hiếu hạnh, người vợ đảm đang chung thủy, người mẹ hiền phúc hậu. Ấy là hình ảnh người đàn bà lí tưởng trong xã hội phong kiến ngày xưa.

Qua 5 sau, “việc quân xong xuôi, Trương Sinh từ miền xa chinh chiến trở về. Thế nhưng mà, Vũ Nương ko được lợi hạnh phúc trong cảnh vợ chồng sum vầy. Chỉ vì chuyện chiếc bóng qua mồm đứa con thơ mới tập nói, nhưng mà Trượng Sinh đinh ninh là vợ hư, đã “máng nhiếc” và “đánh đuổi đi”. Vốn là 1 kẻ vô học lại hàm hồ vũ phu. Trương Sinh đã bỏ ngoài tai mọi lời “bộc bạch” của vợ, mọi sự “biện bạch” của họ hàng xóm làng. Vũ Nương đã bị chồng đẩy vào thảm kịch, bị vu vạ là người vợ “mất nết hư ân”. Vũ Nương phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn để tỏ rõ là người đàn bà “đoan trang giữ tiết, sáng tỏ gìn lòng”, mãi mãi soi tỏ với dời “vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin là cỏ Ngu Mĩ”. Bi kịch Vũ Nương là thảm kịch gia đình từ chuyện chồng con, nhưng mà nguyên cớ sâu xa là do chiến tranh binh lửa đã gây nên. Chỉ 1 thời kì ngắn, sau lúc Vũ Nương tự vẫn, 1 đêm khuya dưới ngọn đèn, chợt đứa con nói rằng: “Cha Đản lại tới kia kìa !”. Khi bấy giờ Trương Sinh “mới giác ngộ thấu nỗi oan của vợ, nhưng mà việc trót đã rồi . Người đọc bấy lâu cũng chỉ biết thở dài, cùng Nguyễn Dữ xót thương cho người con gái Nam Xương và bao đàn bà bạc phận khác trong cõi đời. Vũ Nương tự vẫn, nàng cũng chẳng oán thù chồng con “rày xin chén nước cho người thác oan” (Truyện Kiều).

Phần cuối truyện đậm đặc thuộc tính hoang đường. Nào là Phan Lang nằm mê thấy người con gái áo xanh tới kêu xin tha mạng. Phan Lang được biếu 1 con rùa mai xanh nhưng mà ko giết thịt thịt nhưng mà đem thả con rùa xuống sông. Nào là Phan Lang bị chết trôi, xác giạt vào động rùa ở hải đảo. Linh Phi vợ vua biển Nam Hải lấy khăn dấu nhưng mà lau, thuốc thần nhưng mà đổ. Phan Lang sống lại. Linh Phi mở tiệc ở gác Triêu Dương để chiêu đãi Phan Lang, ân nhân cứu sống mình ngày xưa. Cốt truyện Phan Lang gặp Vũ Nương tại bữa tiệc của Linh Phi. Vũ Nương khóc lúc nghe Phan Lang nhắc lại nhà cửa, phần mộ của tiền nhân. Cốt truyện Vũ Nương gửi Phan Lang chiếc bông tai vàng và dặn chồng lập đàn tràng ở bến Hoàng Giang. Hình ảnh Vũ Nương ngồi kiệu hoa, phía sau có 5 mươi chiếc xe cờ tán võng lọng đặc sắc đầy sông, khi ẩn, khi hiện… là những cụ thể hoang đường, nhưng mà đã tô đậm nỗi đau của người đàn bà bạc phận… an phận hẩm hiu, và có trị giá cáo giác lễ giáo phong kiến vô nhân đạo. Câu nói của ma Vũ Nương giữa dòng sông vọng vào: “Đa tạ tình chàng, thiếp không thể trở về trần gian được nữa” đã khiến cho trị giá nhân đạo của truyện thêm phần bi thiết. Nỗi ơn huệ của Vũ Nương đã được giải oan và xả stress? nhưng mà âm – dương đã đôi đường ngăn cách, nàng không thể quay về trần thế, chẳng bao giờ còn được làm vợ, làm mẹ nữa. Nhỏ Đản mãi mãi là đứa con mồ côi mẹ.

Tóm lại, Vũ Nương là 1 người con gái dung hạnh nhưng mà bạc phận. Nguyễn Dữ đã kể lại cuộc đời oan khổ của nàng với bao tình xót thương thâm thúy. Tuy mang nhân tố hoang đường, nhung áng văn “Chuyện người con gái Nam Xương” giàu trị giá nhân đạo. Nhân vật Vũ Nương là 1 tiêu biểu cho thảm kịch của người đàn bà trong gia đình và xã hội. Người đọc càng thêm xúc động lúc nhớ lại vần thơ của vua Lê Thánh Tông trong bài “Lại bài viếng Vũ Thị”:

… “Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt,

Gicửa ải oan chẳng lọ mấy đàn tràng…”

8. Phân tích đối tượng Vũ Nương cụ thể

“Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương

Miếu người nào như miếu vợ chàng Trương”.

Ngàn 5 trôi qua, làn khói viếng “miếu vợ chàng Trương” vẫn muôn thuở lan tỏa, vương vấn, như tiếc như thương cho căn số đầy thảm kịch của Vũ Nương. Bằng ngòi bút đầy trân trọng trong “Chuyện người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ đã tạc vào lịch sử văn chương Việt Nam hình ảnh 1 người đàn bà thời phong kiến, 1 Vũ Nương, đại diện cho cái đẹp hoàn mỹ. Nhưng đáng tiếc thay, cuộc đời nàng lại chất chứa những trang buồn đầy nước mắt.

Tên nàng là “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương”, đã đẹp người lại đẹp nết. Trương Sinh, chồng nàng, là 1 người thất học lại thêm tính đa nghi. Khi binh cách binh lửa, Trương phải ra trận. 1 tuần sau, nàng sinh đàn ông đầu lòng và 1 mình chăm nom mẹ chồng, lo tang ma lúc mẹ chồng mất. Giặc tan, chàng Trương về, nghe lời trẻ nhỏ nhưng mà nghi ngại lòng chung thủy của vợ. Vũ Nương ko giải oan được nên đành trẫm mình, nhưng mà nàng được Linh Phi ở động Rùa cứu giúp. Sau ấy, nàng gặp Phan Lang, người láng giềng đã cứu Linh Phi, nhờ Phan Lang gửi hộ lời với chàng Trương. Trương Sinh cải hối, lập đàn tẩy oan theo lời Vũ Nương. Nàng hiện lên gặp chồng con rồi lại trở lại động Rùa vì 2 người đã “âm dương đôi đường”. Nhưng hình ảnh Vũ Nương ko ngừng lại ở ấy nhưng mà còn mãi vương vấn trong lòng người đọc bởi nét đẹp hoàn mỹ cũng như căn số oan khúc và cái chết đầy bi thương của nàng.

Vũ Nương chính là đại diện cho vẻ đẹp truyền thống của người đàn bà Việt Nam dưới cơ chế phong kiến. Không như Nguyễn Du mô tả thật tinh tế nét đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” của Thúy Kiều, Nguyễn Dữ chỉ điểm qua nhẹ nét đẹp của Vũ Nương: “tư dung tốt đẹp”. Nhưng chỉ bằng 1 cụ thể bé đấy, tác giả đã phần nào khắc họa được hình ảnh 1 cô gái có sắc đẹp dễ nhìn. Cũng bởi “mến vì dung hạnh” nên chàng Trương đã lấy nàng làm vợ. Nhưng chữ “dung” đấy, vẻ đẹp bề ngoài đấy, không thể nào rạng ngời nghìn đời như vẻ đẹp tâm hồn nàng. Vũ Nương “vốn con kẻ khó”, song rất đỗi làm theo “tam tòng tứ đức”, giữ trọn lề lối gia phong và phẩm hạnh của chính mình. Thế nên, nàng rất “thùy mị, nết na”. Trong gia đình chồng, nàng luôn “gìn giữ mực thước, ko để khi nào vợ chồng phải tới thất hòa”. Thế là, “hạnh”, 1 trong những tiêu chuẩn bình chọn con người, nàng đã vẹn tròn. Lễ nghĩa, nàng cũng thông hiểu, am hiểu. Tuy chẳng hề tiểu thư khuê các, con nhà cao sang nhưng mà lời nàng nói ra dịu dàng như vàng như ngọc.

Ngày tiễn chồng ra trận, nàng đã dặn rằng: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được 2 chữ bình an, thế là đủ rồi”. Từng lời, từng chữ nàng thốt ra thấm đẫm nghĩa tình vợ chồng chung thủy, son sắt, khiến “mọi người đều ứa 2 hàng lệ”. Phận làm vợ, người nào chẳng mong trượng phu mình được phong chức tước, áo gấm về làng. Còn nàng thì ko. Nàng chỉ ao ước giản dị rằng chàng Trương trở về được bình an để có thể sum vầy, sum vầy gia đình, hạnh phúc đầm ấm như ngày nào. Nhưng mơ ước của nàng đã ko tiến hành được. Bị chồng 1 mực nghi oan, Vũ Nương tìm mọi lời lẽ để chứng minh sự trong lành của mình. Nàng vẫn đoan trang, đúng đắn, chỉ nhẹ nhõm giảng giải: “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia li vì động việc lửa binh.

Xa cách 3 5 gìn giữ 1 tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng. Ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Xin chàng đừng 1 mực nghi oan cho thiếp”. Lời nói của nàng luôn từ tốn, nhẹ nhõm, ko quá hoa mỹ nhưng mà chất chứa tình nghĩa. Chỉ qua những lời thoại, từ “ngôn” của Vũ Nương đã để lại 1 ấn tượng khó phai trong lòng người đọc bởi vẻ từ tốn, tế nhì của nàng. Và cũng từ những câu nói đấy, chúng ta cảm thu được sự hy sinh vô biên của nàng vì chồng con, gia đình. Khi chồng ra trận, cả nước nhà nhà chồng nặng trĩu trên đôi vai gầy đét, mong manh của nàng. Nàng phải sinh con 1 mình giữa nỗi độc thân lạnh lẽo, thiếu sự vỗ về, xoa dịu của người chồng. Thật là 1 thách thức quá gian khổ với 1 người đàn bà chân yếu tay mềm. Nhưng nàng vẫn vượt qua tất cả, 1 mình vò võ nuôi con khôn mập, đợi chồng về. Không những thế, nàng còn hết dạ chăm lo cho mẹ chồng ốm nặng: “Nàng cực kỳ thuốc men, lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khéo léo khuyên nhủ”. Thời xưa, quan hệ mẹ chồng – nàng dâu hình như chưa bao giờ êm đẹp và chứa đầy những thành kiến khe khắt.

“Mẹ anh nghiệt lắm anh ơi

Biết rằng có được ở đời với nhau

Hay là vào trước ra sau

Cho cực lòng thiếp, cho đau lòng chàng”.

Nhưng nàng đã mến thương mẹ chồng như chính thầy u ruột của mình. Mọi việc trong nhà đều được nàng chăm lo chu tất. Và lời trăn trối rốt cuộc của mẹ chồng như 1 lời nhận xét, bình chọn, 1 phần thưởng xứng đáng với những công sức và sự hy sinh cao cả của nàng vì gia đình nhà chồng: “Xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Tác giả đã 1 lần nữa nhắc lại: “Nàng hết lời thương xót, phàm việc hậu sự tế lễ, tính liệu như với thầy u đẻ mình”, như tô đậm tình mến thương của nàng đối với mẹ chồng. Vũ Nương là 1 nàng dâu đảm đang, thảo hiền trong mắt tất cả mọi người. Vậy là cả “công – dung – ngôn – hạnh” nàng đều toàn vẹn. Nàng chính là đỉnh cao của sự hoàn mỹ về cả vẻ đẹp bề ngoài lẫn tâm hồn của người đàn bà Việt Nam xưa dưới cơ chế phong kiến. Song, căn số chẳng phải mỉm cười với nàng.

Cuộc đời Vũ Nương điển hình cho căn số oan nghiệt của người đàn bà Việt Nam dưới cơ chế phong kiến. Nàng gặp bao xấu số trên đường đời. Chiến tranh ác liệt đã khiến bao gia đình li tán. Trước cảnh quốc gia binh cách binh lửa, Trương Sinh phải đi lính, uỷ thác cả nước nhà nhà chồng trên đôi vai bé bỏng của người thiếu phụ.Tất cả mọi việc trong nhà đều trông cậy vào nàng. “Khi xa chồng vừa đầy tuần thì sinh ra 1 đứa đàn ông, đặt tên là Đản”. Thiếu vắng sự ân cần, chăm bẵm của người chồng, song nàng vẫn cưu mang, dạy bảo con thơ khôn mập, trưởng thành. Vừa 1 mình chăm nom, thuốc men cho mẹ chồng, Vũ Nương vừa sinh đàn ông, lại lặng thầm, tảo tần nuôi con và cũng 1 mình lo hậu sự, an táng mẹ chồng chăm chút. Từng ngày từng ngày trôi, bấy giờ, trên đôi vai bé bỏng của nàng gian khổ lại chồng chất gian khổ. Rồi chiến tranh cũng qua, cứ ngỡ Vũ Nương lại được sum vầy gia đình, đoàn tụ cùng chàng Trương, được sống trong hạnh phúc đôi lứa nhưng mà nàng hằng ước ao.

Nàng đâu biết rằng thảm kịch cuộc đời nàng sắp mở màn. Những ngày xa chồng, nàng đã lặng thầm nuôi con, và nàng xót xa biết bao lúc nhìn cảnh con thơ thiếu vắng sự chăm nom, mến thương của người cha.Thế là nàng đã chỉ bóng mình trên tường nhưng mà bảo với con rằng đấy chính là cha Đản. Hành động đấy chẳng hề vì nàng quá nhớ thương chồng nhưng mà xuất hành từ tấm lòng mến thương con vô biên của 1 người mẹ. Nhưng nàng sẽ chẳng bao giờ ngờ được rằng nàng chết chính bởi cái bóng của chính mình. Ngày Trương Sinh về, nghe lời con thơ ấu nhưng mà hàm oan vợ: “Trước đây có người con trai đêm nào cũng tới. Mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng mà chẳng bao giờ bế Đản cả”. Trương Sinh vốn là tên thất học, lại thêm “tính đa nghi, đối với vợ phòng phòng ngừa quá sức”. Lời nói thơ ngây của nhỏ Đản chứa đầy những cụ thể đáng ngờ, như đổ thêm dầu vào lửa.

Tính đa nghi của Trương Sinh đã dâng lên tới cao trào và 1 mực “đinh ninh là vợ hư”. Chàng ko còn đủ tĩnh tâm để suy đoán, phân tách, bỏ ngoài tai những lời phân bua của vợ, ko tin cả những nhân chứng bênh vực cho nàng, cũng nhất thiết ko nói ra nguyên nhân để nàng có dịp giải oan. Và Trương Sinh thoáng chốc hóa 1 kẻ vũ phu, thô bạo, “nhiếc mắng nàng và đánh đuổi đi”. Vượt qua được mọi gian khó, khó nhọc trong chiến tranh để vẹn tròn phận dâu thảo hiền nhưng mà Vũ Nương chẳng thể vượt qua nổi bức tường của cơ chế nam quyền độc đoán, bất công, hung ác. Lời nói của nàng đầy thương tâm: “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu”. Ngay từ đầu, cuộc hôn nhân giữa nàng và chàng Trương đã có phần ko đồng đẳng và mang thuộc tính 1 cuộc thảo luận, sắm bán: Trương Sinh “xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về”. Điều đấy khiến chúng ta động lòng nhớ tới hoàn cảnh 1 Thúy Kiều lúc phải bán mình chuộc cha:

“Cò kè bớt 1 thêm 2

Giờ lâu ăn giá vàng ngoài 4 trăm”.

Sự cách bức về địa vị xã hội như thế đã tạo cho Trương Sinh 1 cái thế kế bên những quyền uy vốn có của người chồng, người con trai trong gia đình gia trưởng phong kiến. Chính cái gia đình “chồng chúa vợ tôi”, “phu xướng phụ tùy” đấy đã khiến nàng bị khi dể, đối xử bạc nghĩa. 1 người vợ vốn tiết hạnh, ngoan hiền, vâng theo cả “tam tòng tứ đức” lại phải mang tai mang tiếng xấu “hư thân mất nết”. Mọi lời nhiếc mắng của Trương Sinh như giày đạp lên phẩm chất cao đẹp nhưng mà nàng đã giữ gìn cả 1 đời. Khi xa chồng, Vũ Nương là người vợ chung thủy, yêu chồng khẩn thiết, nỗi buồn nhớ cứ dài theo những “bướm lượn đầy vườn”, “mây che kín núi”. Thế nhưng mà lúc vừa mới sum vầy hạnh phúc, nàng lại bị gán cho tội danh: “lừa chồng dối con”. Thật đớn đau, thật tủi hổ! Bi kịch của cuộc đời Vũ Nương chính từ lễ giáo bất công và cơ chế nam quyền. Người con trai với những quyền bính về căn số, cuộc đời người đàn bà đã đẩy Vũ Nương vào đường cùng ko lối thoát.

Cái chết oan khúc, xót xa của Vũ Nương, người nào có thể ngờ người gây ra bi kịch đấy chính là chồng và con nàng, những người nhà nhưng mà nàng rất mực mến thương, chăm nom. Nàng, 1 người con gái luôn khát khao hạnh phúc dù chỉ bé nhoi, bình dị nhưng mà cho tới lúc trẫm mình xuống sông thì cuộc đời nàng đúng là 1 chuỗi dài những thảm kịch. Hạnh phúc đâu quá xa vời nhưng mà xã hội phong kiến đấy ko cho nàng chạm tay tới hưởng thụ “niềm vui nghi gia nghi thất” 1 lần độc nhất vô nhị trong đời. Nỗi oan của nàng thấu cả trời xanh. Ngày xưa, Quan Âm Thị Kính mắc oan giết thịt chồng bởi “tình ngay lý gian”. Nhưng nàng Thị Kính cũng còn hiểu ra nỗi oan khúc của mình từ đâu nhưng mà thành. Còn lúc đã chìm sâu dưới dòng nước, Vũ Nương vẫn không phải biết rằng mình phải chết vì đâu. Bi kịch của Vũ Nương là 1 lời cáo giác xã hội phong kiến xem trọng uy quyền của kẻ giàu và của người con trai trong gia đình, cùng lúc bộc bạch niềm thương cảm đối với căn số oan trái của người đàn bà. Người đàn bà tiết hạnh chẳng những ko được bênh vực, chở che nhưng mà còn bị đối xử 1 cách bất công, vô lý; chỉ vì lời nói thơ ngây của đứa trẻ mồm còn hôi sữa và vì sự hàm hồ, vũ phu của anh chồng ghen tuông tuông nhưng mà tới nỗi phải kết liễu cuộc đời mình. Phcửa ải chăng đằng sau nỗi oan của nàng còn bao lăm nỗi oan của những người đàn bà khác trong cơ chế phong kiến bị rẻ rúng, suốt đời sống trong câm lặng.

Xót thương trước nỗi đau buồn vì bị giày đạp của những người đàn bà, Nguyễn Dữ như muốn giải oan và bù đắp cho những đức tính tốt đẹp của nàng bằng 1 cuộc sống khác với trần thế. Nhưng ở chốn “làng mây cung nước”, Vũ Nương không thể nào nguôi nỗi nhớ về những oan ức, bĩ cực ở cõi tục. Sống giữa cõi tiên ảo huyền, đẹp diệu kỳ nhưng mà nàng hình như ko bao giờ dứt nghĩa tình gia đình, mãi khóc thương cảnh gia đình tiêu điều xác xơ. Nàng xin lập đàn tẩy oan, khát khao được trả lại danh dự của 1 người con gái tiết hạnh. Và rốt cuộc, nỗi oan của nàng đã được giải. Từ chốn thủy cung, Vũ Nương “ngồi trên 1 chiếc kiệu hoa đứng giữa dòng, theo sau có tới 5 mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, đặc sắc sắc màu, khi ẩn, khi hiện”. Nhưng xót xa thay, nàng “không thể trở về trần gian được nữa”. Nỗi oan tình của nàng đã được giải oan, xả stress nhưng mà âm dương đôi đường ngăn cách, nàng chẳng bao giờ được làm vợ, làm mẹ chốn cõi tục. Nhỏ Đản mãi mãi là 1 đứa nhỏ mồ côi mẹ. Nếu nàng được trở về với cõi tục thì liệu xã hội phong kiến bất công ko có nơi dành cho cái đẹp này có dành cho nàng 1 cuộc sống đầm ấm, bình an, hay 1 lần nữa, nàng phải đớn đau, buồn khổ. Dù trở lại chốn tiên giới dễ nhìn, nhưng mà rốt cuộc, ước mong cả đời của nàng, hạnh phúc “nghi gia nghi thất”, chỉ mãi là ước mong hảo huyền.

Hình tượng đối tượng Vũ Nương là hiện thân của lòng vị tha và vẻ đẹp người đàn bà. Song cuộc đời nàng gặp nỗi thảm kịch mập. Đó chính là tấn thảm kịch của người đàn bà Việt Nam trong cơ chế phong kiến gian ác, cơ chế của sự lỗi thời và cả bóng đêm vĩnh cửu. Điều ấy khiến chúng ta phải động lòng trước căn số của người đàn bà.

“Đớn đau thay phận nữ giới

Lời rằng bạc phận cũng là lời chung”

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu dụng khác trên phân mục Văn chương – Tài liệu của Vik News VN.

Xem thêm thông tin Top 8 bài phân tích nhân vật Vũ Nương siêu hay

Top 8 bài phân tách đối tượng Vũ Nương siêu hay

Phân tích đối tượng Vũ Nương – Vũ Nương chính là đối tượng chính của tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ. Sau đây là dàn ý phân tách đối tượng Vũ Nương và bài  văn mẫu phân tách đối tượng Vũ Nương cụ thể để các bạn thông suốt hơn về đối tượng và tác phẩm.
Top 7 mẫu cảm nhận về đối tượng Vũ Nương siêu hay
1. Dàn ý phân tách đối tượng Vũ Nương
I. Mở bài
Giới thiệu nhà văn Nguyễn Dữ, tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”.
Giới thiệu về đối tượng Vũ Nương – đối tượng chính của truyện.
II. Thân bài
1. Hoàn cảnh sống của Vũ Nương
Xã hội phong kiến Nam quyền với những bất công với người đàn bà.Chiến tranh binh lửa xảy ra chia cắt nhiều gia đình.
2. Vẻ đẹp của Vũ Nương
Vũ Nương là người vợ hiền, mực thước: biết chồng đa nghi nên cực kỳ gìn giữ mực thước, lúc chồng phải đi lính thì ko mong công danh nhưng mà chỉ chờ đợi chồng trở về bình yên, hết dạ thủy chung kì vọng chồng.
Vũ Nương là người con dâu hiếu hạnh, người bà xã thương con rất mực: chăm nom mẹ chồng khi ốm đau, lúc mẹ chồng chết lo tang như đối với mẹ đẻ, thương con phải xa cha từ bé…
3. Căn số của Vũ Nương
Không được quyết định cuộc đời nhưng mà phải chịu sự bố trí của thầy u: hôn nhân ko môn đăng hộ đối.
Lấy chồng nhưng mà phải chịu sự chia ly bởi chiến tranh.
Bị chồng nghi là thất tiết, phải lấy cái chết để chứng minh sự trong lành.
Khi chết rồi, muốn trở về bên gia đình nhưng mà ko được nữa.
4. Nghệ thuật
Nghệ thuật kể chuyện lạ mắt cho thấy chân dung người đàn bà với vẻ đẹp toàn diện.
Nghệ thuật xây dựng đối tượng: mô tả tâm lí, nội tâm đối tượng Vũ Nương phê chuẩn hội thoại, độc thoại…
Nhân tố huyền ảo góp phần xây dựng tình tiết.
III. Kết bài
Vũ Nương là đối tượng điển hình cho người đàn bà trong xã hội cũ.
“Chuyện người con gái Nam Xương” nói riêng, “Truyền kì mạn lục” khái quát gửi gắm nhiều ý nghĩa nhân bản thâm thúy.
2. Phân tích đối tượng Vũ Nương – mẫu 1
Truyện Người con gái Nam Sương là câu chuyện về căn số oan trái của 1 người đàn bà có sắc đẹp, có tiết hạnh dưới cơ chế phong kiến, chỉ vì 1 lời nói thơ ngây của trẻ nhỏ nhưng mà bị nghi ngại, bị xỉ nhục, bị đẩy tới bước đường cùng, phải kết liễu cuộc đời mình để giãi tỏ tấm lòng trong lành. Ấy là số phậm, hình ảnh của Vũ Nương 1 đối tượng chịu nhiều oan trái.
Nguyễn Dữ đã thật tài tình lúc xây dựng hình ảnh người đàn bà nhưng mà chi tiết ở đây là Vũ Nương, ông đã đặt đối tượng vào cảnh huống không giống nhau để trình bày rõ được phẩm giá của người đàn bà thương chồng, yêu con, hiếu thỏa với thầy u chồng cùng lúc cũng rất mực chung thủy son sắc. Trong cuộc sống vợ chồng phổ biến, nàng đã gìn giữ khuân phép, ko lúc nào vợ chồng phải để tới thất hòa dù rằng Trương Sinh là người chồng tính hay ghen tuông tuông đối với vợ thì phòng phòng ngừa quá mức.
Thật là 1 cảnh khiến cho mọi người phải xúc động, lúc Vũ Nương tiễn chồng đi lính. Thông thường thì lúc chồng đi lính nhiều người mong chồng có được công danh gì mang về để vinh hiển trở về, còn đối với Vũ Nương thi lại ko chông mong vinh hiển nhưng mà chỉ cầu chồng được bình an trở về; nàng còn thông cảm với những khó nhọc, gian khó nhưng mà chồng mình sẽ phải chịu đựng; nàng nhắc đến nỗi nhớ nhung khắc khoải của mình, bằng những lời rất quan tâm; thắm thiết tình cảm.
Khi xa chồng. Vũ Nương lại là 1 người vợ chung thủy, yêu chồng khẩn thiết, nỗi buồn nhớ cứ dài theo măm tháng “bướm lượn đầy vườn”, “mây che kín núi” tác giả đã dùng hình ảnh ước lệ biểu tượng, mượn cảnh vật tự nhiên để diễn đạt sự lưu loát của thời kì. Nàng còn là người con dâu hiếu hạnh, người mẹ hiền, 1 mình vừa nuôi con bé, vừa tận tụy chăm nom mẹ chồng đau ốm, nàng lo thuốc men, cầu khấn phật trời, và khi nào cũng quan tâm, dịu dàng, lấy lời ngon ý ngọt khôn khéo khuyên mẹ gắng dưỡng sức để chờ Trương Sinh quay trở về, thành ra do vậy trước lúc mẹ chồng nhắm mắt nhắm mũi bà đã nói với Vũ Nương rằng Vũ Nương là người con dâu tốt lúc Trương Sinh về sẽ ko phụ lòng tốt của nàng. Rồi nàng cũng cực kỳ thương sót mẹ và lo hậu sự tế lễ như lo cho thầy u ruột của mình.
Tưởng rằng lúc Trương sinh về thì Vũ nương được sống chứa chan trong thú vui và hạnh phúc và nàng cũng san sẻ bớt gánh nặng cuộc sống cho chồng ngờ đâu nàng bị 1 nỗi oan ko tài nào thanh minh nổi, dù rằng nàng đã hết lời phân bua tấm long son sắc chung thủy của mình cho chồng hiểu như: Nàng nhắc đến thân phận mình nghèo được nương nhờ nơi giầu có.. , nghĩa tình vợ chồng bao 5 và khẳng định tấm lòng chung thủy trong sáng, cầu xin chồng đừng nghi oan. Như vậy đã chứng tỏ nàng đã cực kỳ cứu vãn, mong hàn gắn cái hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ đổ vỡ. Sau nữa nàng nói lên nỗi đớn đau, tuyệt vọng lúc ko hiểu tại sao bị đối sử bất công, ko có quyền được tự bảo vệ, ngay cả lúc có họ hàng, anh em tới nói giúp. Hạnh phúc gia đình niềm khao khát của cả cuộc đời nàng đã đổ vỡ như bong bong. Tất cả những nỗi đau buồn chờ chồng trước đây ko còn có thể làm lại được nữa.
Thất vọng tới tột đỉnh, cuộc hôn nhân đã tới độ chẳng thể nào cứu vãn được, Vũ Nương đành phải mượn dòng nước quê hương để giải nỗi oan cho mình. Những lời than trước lúc vĩnh viễn cuộc đời đầy đau buồn của mình nhưng mà cũng đầy luyến tiếc, như 1 lời nguyền xin thần sông chứng giám nỗi oan khúc và tiết sạch giá trong của nàng. Ở đoạn truyện này, cốt truyện được bố trí đầy kịch tính, Vũ Nương bị đẩy tới bước đường cùng, nàng đã mất tất cả, đành phải chấp thuận căn số sau mọi nỗ lực ko thành. Hành động tự trầm mình của nàng là 1 hành động quyết liệt rốt cuộc để bảo toàn danh dự, có nỗi thất vọng cay đắng, nhưng mà cũng có sự chỉ huy của lí trí. Đây chẳng hề là hành động bộc phát trong cơn hot giận.
Vũ nương đúng là 1 người đàn bà dễ nhìn nết na thùy mị, hiền thục, lại đảm đang tháo vát, thờ kính mẹ chồng rất đỗi hiếu hạnh, 1 lòng 1 dạ thủy chung với chồng, hết dạ vun vén cho hạnh phúc gia đình. 1 con người như thế lẽ ra phải được hạnh phúc toàn vẹn, vậy nhưng mà phải chết 1 cách oan uổng, đớn đau. vậy nguyên cớ nào dẫn đến kết quả đáng buồn đấy. Có phải chăng vì cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương ko đồng đẳng chính sự cách bức về thân phận nghèo nàn của Vũ Nương đã cộng thêm cái thế cho Trương Sinh kế bên cái thế của 1 người chồng, người con trai gia trưởng trong cơ chế phong kiến. Hay ấy là những lời nói thơ ngây của đứa trẻ, chứa đầy những dữ kiện nghi ngại khiến cho Trương Sinh 1 người chồng hay có tính đa nghi ghen tuông tuông, hàm hồ và độc đoán kia biến thành kẻ thô bạo, vũ phu là kẻ bức tử vợ mình trong sự mù quáng, kẻ giết thịt người lại hoàn toàn vô can trong vụ án.
Bi kịch của Vũ Nương là lời cáo giác cái xã hội phong kiến xem trọng uy quyền của kẻ giàu và của con trai trong gia đình, cùng lúc bộc bạch niềm bi cảm của tác giả đối với căn số oan trái của người đàn bà. Người đàn bà xấu số ở đây chẳng những ko được bênh vực, che trở nhưng mà còn bị đối sử 1 cách bất công, phi lí, chỉ vì lời nói thơ ngây của đứa trẻ mồm còn hơi sữa và vì sự hàm hồ, vũ phu của anh chồng ghen tuông tuông nhưng mà phải kết liễu đời mình.
3. Phân tích đối tượng Vũ Nương – mẫu 2
Trong văn chương dân gian và văn chương viết của nước ta, người đàn bà bình dân đã nêu cao những trị giá cao đẹp về đạo đức, phẩm giá. Nhưng sống trong xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công, oan nghiệt, họ phải chịu nhiều đau buồn và xấu số. Đọc “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ ta thương Vũ Thị Thiết phải chịu nỗi oan khúc và để giải nỗi oan, nàng đã tìm tới cái mệnh chung thương tâm.
Nguyễn Dữ giới thiệu với ta đối tượng Vũ Nương – 1 đàn bà đẹp người, đẹp nết. Nàng có tư dung đẹp, tâm tính lại hiền dịu, nết na. Khi làm vợ Trương Sinh, 1 người chồng có tính đa nghi, nàng vẫn gìn giữ mực thước để ko xảy ra cảnh bất hoà. Hạnh phúc chồng vợ đoàn viên chưa được bao lâu, chiến tranh xảy ra, chồng phải ra trận, nàng tiễn chồng lên đường với tâm cảnh đau buồn. Lời nói với chồng trong giờ khắc chia tay thật thật tâm, cảm động khiến cho “mọi người đều ứa 2 hàng lệ”. “Nàng chẳng cầu mong chồng đeo ấn phong hầu nhưng mà chỉ cầu xin chồng trở về bình an vô sự”. Nguyện vọng của nàng thật giản dị nhưng mà thâm thúy.
Mấy 5 chồng đi xa, ở nhà 1 tay nàng toan lo mọi công tác gia đình, nuôi con từ trứng nước tới lúc mập khôn. Nàng còn là người con dâu hiếu hạnh rất đỗi, lúc mẹ chồng đau ốm nàng “cực kỳ thuốc men lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khéo léo khuyên nhủ”. Khi bà cụ nhắm mắt xuôi tay, nàng hết dạ thương xót, lo hậu sự tế lễ toàn vẹn. Sự ăn ở đối xử hết dạ với mẹ chồng chẳng khác nào đối với thầy u mình vậy. Tóm lại, Vũ Nương là 1 đàn bà toàn vẹn, trình bày được những phẩm giá đạo đức cao quý của người vợ, người mẹ, người con. Con người tương tự lẽ ra phải được lợi hạnh phúc yên ấm của gia đình.
Chiến tranh xong xuôi, chồng trở về, thú vui chưa toàn vẹn thì thảm kịch xảy ra. Trương Sinh – 1 kẻ vô học, thô tục, đa nghi, hay ghen tuông đã nghe lời đứa con thơ ngây, ko dò xét ngành ngọn, nghi ngại vợ mình ko thủy chung. Nàng đau buồn, khóc lóc bộc bạch nỗi oan với chồng nhưng mà Trương Sinh 1 mực vẫn cáo buộc vợ, thậm chí còn nhiếc mắng, đánh, đuổi nàng đi. Họ hàng, xóm làng đều biện minh cho nàng nhưng mà cũng ko chỉnh sửa được thái độ của Trường Sinh. Không còn cách nào để giải oan được nữa, nàng chọn cái chết để thổ lộ tấm lòng thủy chung, trong sáng của mình. Thật khổ thân cho Vũ Nương, 3 5 trời xa cách vẫn gìn giữ 1 tiết, đấy nhưng mà lúc chồng trở về lại bị nghi oan, 1 con người phẩm hạnh như thế, lại mang tai mang tiếng nhuốc nhơ. Bi kịch bị dồn nén tới cao độ, trong tình cảnh ấy, Vũ Nương chỉ có 1 tuyến đường tìm tới cái chết. Thương Vũ Nương, thiên hạ càng trách giận Trương Sinh phũ phàng:
Khá trách chàng Trương Sinh khéo phũ phàng
(“Lại bài Viếng Vũ Thị”của Lê Thánh Tông)
Và ngay cả lúc chết rồi, ở dưới thủy cung, nàng vẫn ôm mối hận bị chồng ruồng rẫy, nàng nghĩ: “Thà già ở chốn làng mây cung nước, chứ còn mặt mày nào về nhận ra người ta nữa”. Nhưng có khi nàng lại băn khoăn: “Không thể gửi hình ẩn bóng ở đây được mãi, để mang tai mang tiếng xấu xa”. Nàng mong muốn tha thiết trở về quê hương sum vầy với chồng và để giải được nỗi oan. Nhưng âm dương xa cách nàng “không thể trở về trần gian được nữa”.
Trong xã hội phong kiến, những người đàn bà tiết hạnh, hiền thục như Vũ Nương đều chịu chung căn số bi ai. Câu chuyện về cái chết thương tâm của Vũ Nương càng khiến cho ta cảm thông với những nỗi đau của người đàn bà trong xã hội cũ. Tác phẩm còn là ngôn ngữ cáo giác chiến tranh phong kiến đã làm đổ vỡ hạnh phúc của nhiều đôi lứa, gia đình. Trong 1 xã hội nhưng mà quyền sống con người được tôn trọng như xã hội ta hiện tại, những người đàn bà có sắc đẹp, phẩm hạnh như nàng Vũ Thị Thiết cứng cáp sẽ sống cuộc đời hạnh phúc.
Từ 1 câu chuyện lưu truyền trong dân gian, Nguyễn Dữ đã sáng tác nên 1 tác phẩm rực rỡ. Mặc dầu có nhiều ít nhân tố hoang đường nhưng mà “Chuyện người con gái Nam Xương” đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng ko phai mờ.
4. Phân tích đối tượng Vũ Nương – mẫu 3
“Truyền kì mạn lục” là 1 tác phẩm văn xuôi có trị giá của văn chương cổ nước ta ở thế kỉ XVI, 1 tập truyện văn xuôi trước nhất viết bằng chữ Hán ở Việt Nam. “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, tác phẩm truyền kì mạn lục là 1 tác phẩm hay trong tập truyện ấy. Nhân vật chính là Vũ Nương, 1 đàn bà đẹp người, đẹp nết đã phải lấy cái chết để giải oan trước sự ghen tuông tuông vô cớ của chồng mình. Có thể nói Nguyễn Dữ là tác giả văn xuôi điển hình của văn chương cổ thế kỉ XVI. Hình ảnh người con gái Nam Xương là đối tượng từng có tác động thâm thúy tới lòng người mọi thời. Lê Thánh Tông đã từng xúc động viết trong bài thơ “Miếu vợ chàng Trương”:
“Nghi ngút đầu ghềnh toả khỏi hương,
Miếu người nào như miếu vợ chàng Trương…”
Câu chuyện về Vũ Nương đề đạt cuộc đời đau buồn và bi thương của Vũ Nương – người đàn bà dưới cơ chế xã hội phong kiến. Người vợ phải tự sát để giải oan cho sự thuỷ chung của mình. Tác phẩm nêu cao chủ nghĩa nhân đạo khiến ta xúc động lúc về đối tượng Vũ Nương trong truyện. Trước hết, đọc truyện, người đọc càng thương cho thân phận Vũ Nương và dễ dãi nhận thấy được Vũ Nương là 1 người đàn bà nết na, tiết hạnh, đối xử với mẹ chồng và chồng rất phải đạo; là người vợ rất đỗi đảm đang, nhân đức, giàu đức khiêm tốn.
Có tư dung tốt đẹp, nhưng mà trong cuộc sống gia đình, nàng can tâm làm 1 người vợ hiền, ngoan nết “chẳng khi nào vợ chồng phải tới thất hoà”, và cho dù Trương Sinh, chồng của nàng, tuy là con nhà hào phú, lại ít học, đa nghi quá sức. Sự khiêm nhượng, cam chịu của Vũ Nương là điều kiện hình thành sự yên ấm của gia đình, mặc cho cơ chế nam quyền độc đoán đè nặng trong đầu óc kẻ vị kỉ ít học như chồng mình.
Nếu lấy sự kiện ngày Trương Sinh đi lính thú thì hành động và lời lẽ tống biệt chồng của người vợ hiền, lời tha thiết cầu mong của Vũ Nương: “Chẳng mong chàng áo gấm trở về quê cũ, chỉ mong được 2 chữ bình an thế là đủ rồi”…, “thư tín ngàn hàng, áo rét gửi người cửa ải xa…”, là cụ thể cho cái “công-dung-ngôn-hạnh” nhưng mà Vũ Nương đã làm được 1 cách thành tâm. Thế rồi, nỗi nhớ nhung, sự độc thân, giữ mình của người vợ trẻ càng khiến chúng ta phải truyền tụng con người nhân đức và đảm đang ấy. Tính cách cao đẹp của Vũ Nương còn là lòng hiếu hạnh với mẹ chồng, lòng chung thuỷ son sắt với chồng của nàng.
Khi chồng vào lính, Vũ Nương 1 mình đảm đang, nuôi dạy con thơ, chăm nom thuốc men cho mẹ chồng đau yếu, làm hậu sự tống tang lúc mẹ chồng nhắm mắt xuôi tay. Vũ Nương giữ tròn hiếu đạo với mẹ chồng, giữ tròn nghĩa tình với chồng. Cái thói thường bấy lâu thường chẳng thể hoà hợp giữa mẹ chồng nàng dâu, nhất là trong gia đình phong kiến. Thế nhưng mà, dù chỉ có 2 mẹ con sống với nhau (Vũ Nương với mẹ chồng) nhưng mà nàng xem mẹ chồng như mẹ đẻ, điều ấy còn được trình bày qua lời trăng trối của mẹ chồng nàng trước lúc bà nhắm mắt xuôi tay: “Xanh kia sẽ chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ …”. Rồi sự chăm chút của Vũ Nương trong việc hậu sự, cúng lễ đã trình bày tấm lòng thơm thảo của người con dâu đáng quý như Vũ Nương. Lòng chung thuỷ của Vũ Nương còn được trình bày ở hành động nuôi con, chờ chồng suốt những ngày tháng Trương Sinh đi lính nhưng mà chưa rõ mặt con. Chỉ có 2 mẹ con cui cút đùm bọc, gắn bó. Cậu nhỏ Đản ngây thơ, đêm tới được mẹ chỉ vào cái bóng của mình trên tường gọi là cha (ấy là 1 cách dụ dỗ con ngủ thật hồn nhiên nhưng mà sau ấy lại là nguyên cớ gây ra cái tội thật vô tình).
Nỗi hàm oan ko được quyền nói, suy xét cho ra là bởi con người độc đoán, phàm phu lại kém văn hoá như Trương Sinh lúc chàng ra lính trở về (nghe lời đứa con non dại) đã gây nên nỗi oan tày đình cho Vũ Nương. Bị chồng ghen tuông tuông vô cớ, bao lăm lời thổ lộ của Vũ Nương và lời khuyên ngăn của hàng xóm, bà con, cô bác, Trương Sinh vẫn ko tin và đinh ninh là “vợ hư, mối nghi ngại ngày càng lún sâu ko có cách gì gỡ ra được. Chàng nhiếc mắng vợ thật thậm tệ rồi “đánh đuổi nàng đi”. Vũ Nương không phải có lầm lỗi gì, nàng thuỷ chung, trinh bạch, tiết hạnh toàn vẹn nhưng mà sự đối xử của chồng khiến cho nàng hoàn toàn tuyệt vọng, ko hiểu nỗi oan khúc từ đâu nhưng mà ra. Không có cách nào để thổ lộ, tuyệt vọng bởi hạnh phúc – thú vui “nghi gia nghi thất” ko còn nữa, nàng phải tìm tới cái chết để giải oan. Hành động tự sát là thái độ rốt cuộc nàng được phép bởi chẳng thể giải bày được với chồng, đức hạnh của nàng sẽ bị hoen ố, biết bao giờ phai mờ đi trong tâm não của chồng.
1 người vợ hiền từ, đầy tiết nghĩa, thuỷ chung phải chết dẫu vô tội tình gì. Mãi tới sau cái chết ấy, người chồng mới hiểu nỗi oan ức của vợ mình. Chính sự độc đoán của người con trai trong gia đình phong kiến nhưng mà Nho giáo nuôi dưỡng dung túng là đề tài nhưng mà Nguyễn Dữ muốn phê phán. Bởi ko chỉ hình ảnh đối tượng Vũ Nương, nhưng mà còn biết bao thân phận đàn bà “7 nổi, 3 chìm” đã phải sống trong cảnh đời tương tự:
“Đớn đau thay phận nữ giới
Lời rằng bạc phận cũng là lời chung”
Cái chết của Vũ Nương là căn số, nhưng mà cũng là lời cáo giác thói ghen tuông tuông ích kỉ, sự hàm hồ, vũ phu của con trai – người chồng vô học, đa nghi như Trương Sinh – là lời cáo giác quy tắc phong kiến khắc nghiệt dung túng cho sự ác nghiệt, bất công – “cơ chế nam quyền” dưới thời phong kiến ngự trị.
Vũ Nương trong truyện là 1 đối tượng rất đẹp, theo đúng quan niệm đặc điểm truyền thống, nhưng mà phải chịu nổi oan tày đình và phải chứng nhận sự không có tội của mình bằng cái chết. Cái chết đớn đau bất công, chỉ vì sự hiểu nhầm, từ 1 câu nói ngây thơ của trẻ nhỏ nhưng mà người chồng Trương Sinh đã nghi oan, đã làm mất đi người vợ quý trên đời. Nguyên nhân sâu xa của thảm kịch nát lòng này chính là do chiến tranh binh lửa và lễ giáo phong kiến trọng nam quyền trong xã hội ngày trước.
5. Phân tích vẻ đẹp của Vũ Nương
Nền văn chương trung đại Việt Nam của chúng ta từ thế kỷ X tới XIX chính yếu kết tinh và ghi dấu thành quả bởi các tác phẩm thơ hoàn hảo, nhưng mà Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du là 1 trong những minh chứng rõ rệt nhất. Nhưng nói như thế ko có nghĩa rằng trong quá trình này nền văn chương nước ta ko có tác phẩm văn xuôi nào đáng chú tâm, bởi Nguyễn Dữ với tập Truyền kỳ mạn lục đã cho chúng ta 1 cái nhìn mới, thổi 1 làn gió lạ mang tên “truyền kỳ” vào với nền văn chương giang san. Trong 20 câu chuyện của tác phẩm này, thì Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là 1 trong số những truyện được biết tới nhiều, song song với ấy thì truyện Chuyện người con gái Nam Xương cũng được nói đến nhiều với hình ảnh nàng Vũ Nương đại diện cho người đàn bà Việt Nam xưa, dẫu mang nhiều phẩm giá tốt đẹp nhưng mà vẫn phải chịu căn số xấu số.
Nguyễn Dữ sống vào khoảng thế kỷ XVI, khi này đây triều đình nhà Lê đã có tín hiệu suy yếu, cuộc sống quần chúng có nhiều gian khổ. Ông là người học rộng tài cao, nhưng mà lại ko ham vinh hoa phú quý, ra làm qua được tầm 1 5 thì ông cáo quan lui về ở ẩn, thanh dưỡng tâm hồn và cho ra áng thiên cổ kỳ bút Truyền kỳ mạn lục. Chuyện người con gái Nam Xương là 1 trong những truyện rực rỡ nhất trong tập Truyền kỳ mạn lục.
Cuộc đời của Vũ Nương ko thật sự yên ả, cuộc sống vợ chồng của nàng dù ko được nói đến nhiều thế nhưng mà việc sống với 1 người chồng luôn ghen tuông tuông ngừa thì nàng hẳn ko lấy làm dễ chịu, sau cuối cũng vì tính ghen tuông xa xôi ích kỷ của Trương Sinh nhưng mà Vũ Nương phải lấy cái chết để giải oan. Và để tô đậm cái xấu số của cuộc đời người con gái này Nguyễn Dữ đã khôn khéo xây dựng Vũ Nương là 1 cô gái tài đức toàn vẹn, công dung ngôn hạnh đầy đủ, chẳng phải khuyết thiếu “tính đã thùy mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp”. Chỉ với vài từ ngắn gọn thế nhưng mà hình ảnh Vũ Nương đã hiện lên là 1 cô gái có sắc đẹp dễ nhìn, lại còn có phẩm giá tốt đẹp cao quý, ấy là vẻ đẹp toàn vẹn. Chính thành ra nên dẫu nghèo nàn nhưng mà Vũ Nương vẫn được Trương Sinh đàn ông 1 nhà hào phú trong làng “xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới về”, điều ấy trình bày trị giá con người Vũ Nương, cùng lúc là lòng trân trọng của Trương Sinh lúc hỏi cưới nàng.
Trong tác phẩm Nguyễn Dữ chỉ lướt nhẹ qua sắc đẹp của Vũ Nương, sau ấy ông tập hợp tô đậm vẻ đẹp phẩm giá của nàng. Ở vai trò người vợ, Vũ Nương rất mực thương mến và lo nghĩ cho chồng, biết chồng có tính hay ghen tuông lại nghi kỵ thế nên trong cuộc sống vợ chồng nàng cực kỳ “gìn giữ mực thước, ko khi nào để vợ chồng phải thất hòa”. Ngày chồng phải tòng quân đi đánh giặc, nàng thương xót căn dặn, thề nguyền, nàng ko ham chồng được phong ấn, mũ quan, vinh hiển về làng nhưng mà chỉ cầu chồng được 2 chữ bình yên, cũng bộc bạch nỗi mong nhớ, lo âu của mình lúc chồng đi vào nơi hiểm trở chẳng may có cớ sự. Lời nàng tha thiết, thâm thúy biểu hiện rõ tình cảm vợ dành cho người chồng đi chinh chiến bóng gió, khiến người nào nấy đều cảm động khôn nguôi. Trương Sinh đi lính chưa đầy mười ngày thì Vũ Nương lại sinh con, cuộc vượt cạn khó nhọc đớn đau lại ko có lang quân, thế nhưng mà nàng vẫn 1 dạ 1 lòng chăm con khôn mập, đợi cho tới ngày giặc tan, Trương Sinh trở về sum vầy. Suốt 3 5 đợi chờ, nàng “buồn nhớ khôn nguôi”, khi gặp cảnh chồng ghen tuông tuông nàng cũng ko mập tiếng cự cãi nhưng mà chỉ dùng lời lẽ mềm dẻo để mong giữ được cái “niềm vui nghi gia nghi thất”, vợ chồng hòa thuận, con có cha có mẹ.
Đối với mẹ chồng, nàng coi như thầy u ruột nhưng mà phụng bồi, chăm nom, mẹ chồng vì thương con chinh chiến ko tới nửa 5 thì ngã bệnh, Vũ Nương 1 mặt thuốc men, cơm cháo quan tâm, 1 mặt “lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khéo léo khuyên nhủ”. Nhưng dầu cạn đèn tắt, sự tình chẳng thể cứu vãn mẹ chồng nhắm mắt nhắm mũi xuôi tay, khi này đây lại 1 tay nàng lo tang sự “hết lời thương xót, hậu sự tế lễ như đối với thầy u đẻ mình”, hiếu thuận chăm chút cực kỳ. Với đứa con bé, tuy Nguyễn Dữ ko nói đến nhiều, nhưng mà đọc truyện cũng có thể cảm thu được lòng thương con của nàng Vũ Nương, 1 tay chăm nó kể từ sơ sinh, tới khi biết nói, đêm nào cũng trỏ bóng mình nhưng mà nói đó là cha để dỗ cho con vui. Lòng mẹ rộng lớn, thương con vô bến bờ, dẫu nói điêu, nói đùa cũng là thương con, có thể thấy việc nuôi con 1 mình khiến Vũ Nương chịu nhiều cay đắng khó nhọc, thế nhưng mà nàng chưa từng than thở 1 lời, chỉ chăm chắm 1 dạ sắt son.
Ngoài là 1 người vợ đảm đang, nết na, chung thủy 1 lòng nhưng mà Vũ Nương còn là 1 người có tấm lòng vị tha, bao dong cực kỳ. Chồng tòng quân xa, nàng ở nhà 1 mình chèo lái cả 1 gia đình, chăm mẹ già, nuôi con bé, thế nhưng mà lúc trở về Trương Sinh chẳng những ko hàm ơn, còn đâm ra nghi ngại vô cớ. Thế nhưng mà nàng ko 1 câu trách móc, vẫn luôn giữ đúng phụ đạo, bé nhẹ thổ lộ, 1 lòng mong muốn chồng thông hiểu, muốn tìm rõ nguyên cớ nhưng mà khổ một nỗi Trương Sinh lại giấu giếm. Điều đấy đã đẩy nàng tới thảm kịch phải chọn lọc cái chết vì nếu sống nhưng mà bị ruồng rẫy, điếm nhục thì còn nghĩa lý gì.
Khi sống dưới thủy cung, nàng vẫn sẵn lòng tha thứ cho chồng, điều đấy trình bày qua cụ thể nàng gửi chiếc thoa vàng cho Phan Lang mang về để nhờ Trương Sinh lập đàn tẩy oan. Khi hiện về ở trên bến Hoàng Giang Vũ Nương vẫn ko trách móc Trương Sinh nhưng mà vẫn đưa lời lạy tạ “Đa tạ tình chàng, thiếp không thể trở về trần gian được nữa”, cho thấy nàng đã hoàn toàn tha thứ cho chồng, đánh tháo chồng khỏi những ăn năn, chua xót vì trách lầm vợ. Lòng Vũ Nương vẫn không phải chỉnh sửa, nàng vẫn dịu dàng, hiền thục như thế, dẫu chồng mình đã gây cho nàng biết bao đau buồn, khiến nàng phải chịu đớn đau tan của nát nhà, xa lìa đứa con mới tập nói.
Dẫu nàng có đầy đủ các phẩm giá tốt đẹp thế nhưng mà cuộc đời nàng lại là 1 chuỗi những xấu số kéo dài. Mới vừa lấy chồng thì đã phải lìa xa chồng, 1 thân 1 mình chèo lái khó nhọc, vừa mỏi mệt thân xác, lẫn mỏi mệt trong tâm hồn. Tới khi tưởng được đoàn tụ thì lại gặp phải nỗi oan lạ đời, xuất hành từ lời nói vô thưởng vô phạt của đứa con bé, bị chồng ruồng rẫy ghen tuông tuông, phải tự vẫn để chứng minh cho tấm lòng thanh sạch.
Nhân tố kỳ ảo đã giúp nàng được sống, Nguyễn Dữ đã cho nàng 1 cái kết có hậu, thế nhưng mà cái kết đấy vẫn ko được toàn vẹn. Bởi tuy được sống cuộc sống nhàn hạ, giàu có dưới thủy cung, thế nhưng mà nàng lại phải chịu nỗi độc thân, thương chồng, nhớ con nhưng mà chẳng thể trở về, chỉ có thể nói lời lạy tạ rồi mất tích. Như vậy nàng đã ko phút nào có được hạnh phúc thực thụ, bởi ở xã hội phong kiến hạnh phúc ko dành cho những người đàn bà như Vũ Nương, hạnh phúc là cái gì ấy quá xa vời, dễ dãi vì 1 lời bâng quơ nhưng mà tan trở thành hư không. Ấy là xấu số chung của thân phận người đàn bà dưới cơ chế phong kiến khắc nghiệt, thủ cựu.
Với những bộc lộ của sắc đẹp, phẩm giá tốt đẹp như thế, nết đảm đang, lòng hiếu hạnh, đức hy sinh, chung thủy son sắt, lòng bao dong, vị tha bự mập, Vũ Nương chính là hiện thân cho vẻ đẹp của người con gái Việt Nam. Vẻ đẹp của nàng chính là những vẻ đẹp nhân sinh cực kỳ quý giá, nàng hoàn toàn xứng đáng được lợi hạnh phúc điền viên, được chồng mến thương, chăm nom chứ chẳng hề chịu nỗi xấu số ghen tuông tuông vô cớ, rồi táng thân nơi sông nước, sau cuối lại sống bất diệt với nỗi độc thân vời vợi. Nguyễn Dữ viết về đối tượng Vũ Nương 1 là bên truyền tụng những phẩm giá tốt đẹp của người đàn bà Việt Nam, 1 bên cũng đề đạt những bất công trong xã hội phong kiến xưa đối với thân phận người đàn bà. Ấy là những trị giá nhân đạo, nhân bản thật thâm thúy nhưng mà tác giả muốn truyền đạt qua câu chuyện cũng như đối tượng của mình.
6. Phân tích đối tượng Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương
Trong văn chương Việt Nam đã có ko ít tác phẩm mang tên gọi truyền kì hoặc mang thuộc tính truyền kí song được suy tôn “thiên cổ kì bút” thì cho tới này chỉ có 1 Truyền Kì Mạn Lục của Nguyễn Dữ. Và Trong ấy đoạn trích Chuyện người con gái Nam Xương rực rỡ nhất: Đã khắc họa thành công căn số của người đàn bà dưới cơ chế xưa.
Truyền Kì Mạn Lục là lọai văn chuyên biên chép rải rác những điều kì dị vẫn được lưu truyền. Cho nên trước ấy Chuyện người con gái Nam Xương cũng đã được lưu truyền phổ thông trong chốn dân gian. Hẳn ko mấy người nào ko biết tới 2 bài thơ thăm viếng nàng vũ thị trong hồng đức quốc âm thi tập. Hai bài thơ ấy chứng tỏ rằng câu chuyện bi thương về người nữ giới họ Vũ vợ chàng Trương là có thật. Đã được dân gian lưu truyền. Nhưng chẳng hề Nguyễn Dữ chỉ có làm công tác dễ ợt: Biển chép lại cho đúng 1 chuyện kể đã có sẵn từ những 5 tháng trước ấy nhưng mà còn phải nhào nặn lại câu chuyện khiến cho nó gần gụi với người đọc, mang dấu ấn của thời đại mình.
Truyện bắt đầu bằng dòng chữ “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương …” Tăm tiếng, quê quán của đối tượng chính đã được giới thiệu rõ ràng như thế. Chứ ko giống như những đối tượng khác: Chàng họ Trương, ông họ Phan. Thật lạ!. Vũ Thị Thiết là người độc nhất vô nhị trong truyện được nêu đầy đủ họ tên, tính danh để lưu truyền cho hậu thế. Nhưng Vũ Thị Thiết chỉ là 1 người nữ giới phổ biến, thuộc giới nghèo hèn “vốn con kẻ khó”, diện mạo thì ko có gì đặc trưng. Vậy nhưng mà nàng đã là 1 đối tượng lưu truyền nơi hậu thế. Có nhẽ Nguyễn Dữ đã có những nhận thức văn minh về xã hội. Những buộc ràng khuôn pháp đã ko còn cứng cáp trong tâm não ông. Ông ân cần tới đời sống của mọi người chứ ko còn mê mải tìm cảm hứng văn học trong hàng ngũ những người quý phái hay tuyệt sắc mĩ nhân nữa.
Phcửa ải Chính từ quan niệm ấy Nguyễn Dữ đã cho có mặt trên thị trường 1 mẫu người đàn bà lí tưởng, tuy chẳng hề là mĩ nhân những lại tụ hội những đức tính phẩm giá tốt đẹp cần có ở người đàn bà Vũ Thị Thiết! “tâm tính thùy mị nết na lại thêm tư Dung tốt đẹp” Tuy tác giả đã nói rằng 2 nhân tố bên trong và bên ngoài của nàng đều vẹn tòan. Chẳng khác nào Kiều xưa kia. Thế nhưng mà càng vào sâu trong tác phẩm ta mới trông thấy rằng. Chữ dung đã thua chữ tài.
Sau mấy lời giới thiệu trước nhất, thì trong toàn truyện sẽ ko còn những câu nào mô tả vẻ đẹp bên ngoài của nàng ta nữa. Vũ Nương đã chiếm được địa điểm trong lòng chúng ta chẳng hề là do tư dung nhưng mà do phẩm hạnh. Phẩm chất ở đây ko như cô gái hái dâu Ỷ Lan hay đào nương nương diệt giặc miền Tiên Lữ. Phẩm chất Vũ Nương là về gia đình. Diễn ra từ về nhà chồng Vũ Nương luôn tỏ ra là 1 người con dâu hiểu thảo, đảm đang, hay làm, biết tính chồng hay ghen tuông Vũ Nương luôn nỗ lực ko để cho vợ chồng thất hòa, rồi còn lo âu thuốc men và hậu sự tế lễ đầy đủ cho mẹ chồng nữa Vũ Nương đã làm tất cả để gìn giữ, vun đắp cho hạnh phúc của gia đình. Thật là 1 con người điển hình cho công dung ngôn hạnh ở xã hội xưa.
Trong xã hội xưa vai vế người đàn bà trong gia đình thường là thấp hèn nhất. Mẹ chồng kiếm con dâu chỉ cốt để đày đọa, hay kiếm đứa cháu nối dõi tông đường. Cho nên mẹ chồng và con dâu thường thất hòa, ko dễ hòa thuận. Nhưng trong tác phẩm ta lại thấy Vũ Nương được chính người mẹ chồng này tô đậm phẩm chất của mình. Những lời khen này càng trở thành ý nghĩa hơn, có trị giá hơn gấp bội “Chồng con nơi bóng gió chưa biết chết sống thế nào chẳng thể về đền ơn được. Sau này, trời xét lòng thành, ban cho phúc đức, giống dòng tốt tươi, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”
Đúng là như thế. Vũ Nương thật là 1 người con gái tài sắc vẹn tòan. Sống trên đời ko để phụ người nào, luôn đối xử quan tâm với mọi người. Vậy nhưng mà người con gái Nam Xương đấy đã bị phụ. Tai họa bỗng chốc ập tới. Thật đột ngột! Thật mau chóng! Tới khó tin kì dị. Mới ngày nào người con gái đấy còn thổn thức cùng chồng những lời nói tha thiết đẫm lệ: “Nhìn trăng soi thành cũ, lại soạn sửa áo rét gửi người cửa ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tư thương người đất khách!. Dù có thư ngàn hàng cũng ko sợ cánh hồng bay bổng “Mới ngày nào cuộc tiễn biệt đầy vấn vương nhớ nhung” Ngước mắt cảnh vật vẫn như cũ nhưng mà lòng người đã nhuộm mối tình muôn dặm quan sơn!”. Những câu viết ko vượt khỏi ước lệ văn học 1 thuở nhưng mà lại có sức lay chuyển lòng người lạ đời!. Vì những tình cảm đấy rất thành tâm.
Vậy nhưng mà trời đã phụ lòng người chỉ “qua 5 sau” thôi tất cả đều tan tành. Thay cho Trăng, cho Liễu, cho “cánh hồng bay bổng” và mối tình muôn dặm quan sơn chỉ còn là nỗi nghi ngại, những lời nhiếc mắng đánh đập tới thậm tệ. Công sức nuôi con dưỡng mẹ, làm tròn nghĩa vụ con dâu đều đổ xuống sông xuông biển, đến mức “ko còn có thể lại lên núi Vọng Phu nữa” Nhưng đáng buồn thay! Tai họa này chỉ do 1 lí do ko đáng nói!. Do cái bóng!. Vì nhớ chồng, con lại cách biệt cha lâu ngày nên nàng chỉ còn biết nói cái bóng là Cha Đản. Và lòng nàng cũng xem nó là chồng. Thế là nhỏ Đản thơ ngây nên đã tin cái bóng ấy là sự thực. Và cứ lầm tưởng rằng cha mình đêm nào cũng tới mẹ Đản đi cũng đi Mẹ Đản ngôi cũng ngồi. Và lúc qua tai Trương Sinh thì những lời nói hồn nhiên ấy lại biến thành sự thực. Cái bóng thành người. Hại cho đời người con gái tài sắc.
Chắc hẳn trong các tác phẩm văn chương, Có được sự thông minh tài tình tinh sảo như cụ thể về chiếc bóng oan trái này sẽ chỉ đếm trên đầu ngón tay 1 sự song trùng thật huyền ảo thật đáng kinh ngạc. Bóng dần trở thành người. Cái thực lộn lạo pha trộn cái hư, cái giả chấp chới trong cái thật. Không phải là người vợ cũng tha thiết với hạnh phúc của 1 gia đình được đoàn viên, sum vầy Vũ Nương chẳng thể nào nghĩ ra tuồng chơi này. Ai ngờ chính nó đã làm tan tành đời nàng. Khi trỏ cái bóng in trên vách chắc hẳn người thiếu phụ chỉ muốn nguôi đi cảm giác con mình đang sống vắng cha. Nhưng hóa ra chính thành ra nhưng mà nàng đã mất chồng, Đản đã mất mẹ. Nếu truyện được kể thật đúng theo trình tự thời kì thì cụ thể chiếc bóng phải được kể trước lúc Trương Sinh chở về. Nhưng ko ngờ Nguyễn Dữ lại tài giỏi tới tương tự. Đã ém ngẹm lại cái cụ thể giật gân đấy. Rồi bùng nén ra ở 1 địa điểm phù hợp đã gây ra bão giông, khuấy lên sóng gió. Không còn gì để ngăn được cơn bực tức của kẻ có tính hay ghen tuông Trương Sinh khỏi nổ bùng. “Thú vui nghi gia nghi thất, hạnh phúc độc nhất vô nhị, niềm mơ ước độc nhất vô nhị của 1 đời Vũ Nương trong phút giây trở thành hoàn toàn đổ vỡ. Bình đã rơi, trâm đã gãy, liễu đã tàn trước gió, sen đã rũ trong ao, người thiếu phụ chung thủy nhưng mà bạc phận chỉ còn có thể tìm tới cái chết để thổ lộ tấm lòng trong sáng của mình
Nàng đã gieo mình xuống sông Hòang Giang tự sát. Và thiên hạ sẽ lưu truyền thêm 1 tấm thảm kịch về căn số người đàn bà. Tấm thảm kịch về cái đẹp bị chà nát phũ phàng. Tấm thảm kịch này là sự đầu hàng căn số nhưng mà cũng là lời cáo giác thói ghen tuông tuông ích kỉ, sự hàm hồ vũ phu của gã con trai và quy tắc phong kiến khắc nghiệt dung túng cho sự ác nghiệt hủ bại. Nàng đã gặp 1 người chồng tuy là con nhà hào phú song ít học lại đa nghi tới mức ghen tuông tuông mù quáng nên chẳng thể trông thấy sự tuyệt vời trong phẩm hạnh của nàng. Rõ ràng sự khuyết thiếu trong tính cách của đối tượng Trương Sinh đã dồn nàng tới bước đường cùng. Giá như Trương Sinh tĩnh tâm mày mò 1 chút thôi thì tấm thảm kịch chết người kia sẽ chẳng thể xảy ra. Nhưng ấy chỉ là giá như thôi vì Nguyễn Dữ đã đặt dấu chấm than cho mọi sự đã rồi.
7. Phân tích vẻ đẹp của đối tượng Vũ Nương
“Chuyện người con gái Nam Xương” rút trong tác phẩm “Truyền kì mạn lục”, áng văn xuôi viết bằng chữ Hán của Nguyễn Dữ trong thế kỉ 16. 1 tuyệt bút văn học cổ được truyền tụng là “thiên cổ kì bút”. Truyện kể lại môt câu chuyện truyền kì có nhiều nhân tố hoang đường lưu truyền trong dân gian về thảm kịch gia đình ở Nam Xương có dòng sông Hoàng Giang vào cuối thế kỉ 14, đầu thế kỉ 15, 1 thời binh lửa, đầy bất định. Nhân vật Vũ Nương là người con gái bạc phận đáng thương ấy có bao phẩm giá tốt đẹp điển hình cho tiết hạnh của người đàn bà trong xã hội phong kiến ngày xưa.
Tên của nàng là Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xương, thuộc phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam hiện tại. Xuất thân trong 1 gia đình “kẻ khó”, nhưng mà Vũ Nương vừa có sắc đẹp vừa có tiết hạnh: “tính đã thùy mị, nết na, lại thêm có tư dung tốt đẹp”. Nàng là 1 cô gái danh giá nên Trương Sinh, con nhà hào phú “mến vì dung hạnh” đã xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Trong đạo vợ chồng, Vũ Nương là 1 người đàn bà sáng dạ, phúc hậu, biết chồng có tính “đa nghi”, nàng đã “gìn giữ mực thước” ko để xảy ra cảnh vợ chồng phải “thất hòa”, sống giũa thời binh lửa Trương Sinh phải tòng quân đi chinh chiến ở biên cửa ải bóng gió. Buổi tiễn chồng ra trận, Vũ Nương đã rót chén rượu đầy chúc chồng “được 2 chữ bình an”: nàng chẳng mong được đeo ấn phong hầu mặc áo gấm trở về quê cũ… Mong ước của nàng thật bình dị, vì nàng đã coi trọng hạnh phúc gia đình hơn mọi công danh phù phiếm ở đời. Những 5 tháng cách biệt, Vũ Nương nhớ thương chồng khôn cùng kể: “… mỗi lúc thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân mây chẳng thể nào ngăn được”. Tâm cảnh thương nhớ đau khổ đấy của Vũ Nương cũng là tâm cảnh chung của những người chinh phụ trong mọi thời binh lửa bấy lâu:
… “Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong…”
(Chinh phụ ngâm)
Thể hiện tâm cảnh đấy, Nguyễn Dữ vừa thông cảm với nỗi đau buồn của Vũ Nương, vừa truyền tụng tấm lòng chung thủy nhớ thương đợi chờ chồng của nàng. Vũ Nương là 1 đàn bà đảm đang, giàu tình thương. Chồng ra trận mới được 1 tuần thì nàng sinh ra 1 đứa cọn trai đặt tên là Đản. Mẹ chồng già yếu, ốm đau, nàng “cực kỳ thuốc men”, “ngọt ngào khéo léo khuyên nhủ”. Vừa phụng dưỡng mẹ già, vừa chăm nom nuôi dạy con thơ. Khi mẹ chồng nhắm mắt xuôi tay, nàng đã “hết lời thương xót”, việc hậu sự tế lễ được tính liệu, tổ chức rất chăm chút “như đối với thầy u đẻ mình”. Qua ấy, ta thấy trong Vũ Nương cùng hiện ra 3 con người tốt đẹp: nàng dâu hiếu hạnh, người vợ đảm đang chung thủy, người mẹ hiền phúc hậu. Ấy là hình ảnh người đàn bà lí tưởng trong xã hội phong kiến ngày xưa.
Qua 5 sau, “việc quân xong xuôi, Trương Sinh từ miền xa chinh chiến trở về. Thế nhưng mà, Vũ Nương ko được lợi hạnh phúc trong cảnh vợ chồng sum vầy. Chỉ vì chuyện chiếc bóng qua mồm đứa con thơ mới tập nói, nhưng mà Trượng Sinh đinh ninh là vợ hư, đã “máng nhiếc” và “đánh đuổi đi”. Vốn là 1 kẻ vô học lại hàm hồ vũ phu. Trương Sinh đã bỏ ngoài tai mọi lời “bộc bạch” của vợ, mọi sự “biện bạch” của họ hàng xóm làng. Vũ Nương đã bị chồng đẩy vào thảm kịch, bị vu vạ là người vợ “mất nết hư ân”. Vũ Nương phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn để tỏ rõ là người đàn bà “đoan trang giữ tiết, sáng tỏ gìn lòng”, mãi mãi soi tỏ với dời “vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin là cỏ Ngu Mĩ”. Bi kịch Vũ Nương là thảm kịch gia đình từ chuyện chồng con, nhưng mà nguyên cớ sâu xa là do chiến tranh binh lửa đã gây nên. Chỉ 1 thời kì ngắn, sau lúc Vũ Nương tự vẫn, 1 đêm khuya dưới ngọn đèn, chợt đứa con nói rằng: “Cha Đản lại tới kia kìa !”. Khi bấy giờ Trương Sinh “mới giác ngộ thấu nỗi oan của vợ, nhưng mà việc trót đã rồi . Người đọc bấy lâu cũng chỉ biết thở dài, cùng Nguyễn Dữ xót thương cho người con gái Nam Xương và bao đàn bà bạc phận khác trong cõi đời. Vũ Nương tự vẫn, nàng cũng chẳng oán thù chồng con “rày xin chén nước cho người thác oan” (Truyện Kiều).
Phần cuối truyện đậm đặc thuộc tính hoang đường. Nào là Phan Lang nằm mê thấy người con gái áo xanh tới kêu xin tha mạng. Phan Lang được biếu 1 con rùa mai xanh nhưng mà ko giết thịt thịt nhưng mà đem thả con rùa xuống sông. Nào là Phan Lang bị chết trôi, xác giạt vào động rùa ở hải đảo. Linh Phi vợ vua biển Nam Hải lấy khăn dấu nhưng mà lau, thuốc thần nhưng mà đổ. Phan Lang sống lại. Linh Phi mở tiệc ở gác Triêu Dương để chiêu đãi Phan Lang, ân nhân cứu sống mình ngày xưa. Cốt truyện Phan Lang gặp Vũ Nương tại bữa tiệc của Linh Phi. Vũ Nương khóc lúc nghe Phan Lang nhắc lại nhà cửa, phần mộ của tiền nhân. Cốt truyện Vũ Nương gửi Phan Lang chiếc bông tai vàng và dặn chồng lập đàn tràng ở bến Hoàng Giang. Hình ảnh Vũ Nương ngồi kiệu hoa, phía sau có 5 mươi chiếc xe cờ tán võng lọng đặc sắc đầy sông, khi ẩn, khi hiện… là những cụ thể hoang đường, nhưng mà đã tô đậm nỗi đau của người đàn bà bạc phận… an phận hẩm hiu, và có trị giá cáo giác lễ giáo phong kiến vô nhân đạo. Câu nói của ma Vũ Nương giữa dòng sông vọng vào: “Đa tạ tình chàng, thiếp không thể trở về trần gian được nữa” đã khiến cho trị giá nhân đạo của truyện thêm phần bi thiết. Nỗi ơn huệ của Vũ Nương đã được giải oan và xả stress? nhưng mà âm – dương đã đôi đường ngăn cách, nàng không thể quay về trần thế, chẳng bao giờ còn được làm vợ, làm mẹ nữa. Nhỏ Đản mãi mãi là đứa con mồ côi mẹ.
Tóm lại, Vũ Nương là 1 người con gái dung hạnh nhưng mà bạc phận. Nguyễn Dữ đã kể lại cuộc đời oan khổ của nàng với bao tình xót thương thâm thúy. Tuy mang nhân tố hoang đường, nhung áng văn “Chuyện người con gái Nam Xương” giàu trị giá nhân đạo. Nhân vật Vũ Nương là 1 tiêu biểu cho thảm kịch của người đàn bà trong gia đình và xã hội. Người đọc càng thêm xúc động lúc nhớ lại vần thơ của vua Lê Thánh Tông trong bài “Lại bài viếng Vũ Thị”:
… “Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt,
Gicửa ải oan chẳng lọ mấy đàn tràng…”
8. Phân tích đối tượng Vũ Nương cụ thể
“Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương
Miếu người nào như miếu vợ chàng Trương”.
Ngàn 5 trôi qua, làn khói viếng “miếu vợ chàng Trương” vẫn muôn thuở lan tỏa, vương vấn, như tiếc như thương cho căn số đầy thảm kịch của Vũ Nương. Bằng ngòi bút đầy trân trọng trong “Chuyện người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ đã tạc vào lịch sử văn chương Việt Nam hình ảnh 1 người đàn bà thời phong kiến, 1 Vũ Nương, đại diện cho cái đẹp hoàn mỹ. Nhưng đáng tiếc thay, cuộc đời nàng lại chất chứa những trang buồn đầy nước mắt.
Tên nàng là “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương”, đã đẹp người lại đẹp nết. Trương Sinh, chồng nàng, là 1 người thất học lại thêm tính đa nghi. Khi binh cách binh lửa, Trương phải ra trận. 1 tuần sau, nàng sinh đàn ông đầu lòng và 1 mình chăm nom mẹ chồng, lo tang ma lúc mẹ chồng mất. Giặc tan, chàng Trương về, nghe lời trẻ nhỏ nhưng mà nghi ngại lòng chung thủy của vợ. Vũ Nương ko giải oan được nên đành trẫm mình, nhưng mà nàng được Linh Phi ở động Rùa cứu giúp. Sau ấy, nàng gặp Phan Lang, người láng giềng đã cứu Linh Phi, nhờ Phan Lang gửi hộ lời với chàng Trương. Trương Sinh cải hối, lập đàn tẩy oan theo lời Vũ Nương. Nàng hiện lên gặp chồng con rồi lại trở lại động Rùa vì 2 người đã “âm dương đôi đường”. Nhưng hình ảnh Vũ Nương ko ngừng lại ở ấy nhưng mà còn mãi vương vấn trong lòng người đọc bởi nét đẹp hoàn mỹ cũng như căn số oan khúc và cái chết đầy bi thương của nàng.
Vũ Nương chính là đại diện cho vẻ đẹp truyền thống của người đàn bà Việt Nam dưới cơ chế phong kiến. Không như Nguyễn Du mô tả thật tinh tế nét đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” của Thúy Kiều, Nguyễn Dữ chỉ điểm qua nhẹ nét đẹp của Vũ Nương: “tư dung tốt đẹp”. Nhưng chỉ bằng 1 cụ thể bé đấy, tác giả đã phần nào khắc họa được hình ảnh 1 cô gái có sắc đẹp dễ nhìn. Cũng bởi “mến vì dung hạnh” nên chàng Trương đã lấy nàng làm vợ. Nhưng chữ “dung” đấy, vẻ đẹp bề ngoài đấy, không thể nào rạng ngời nghìn đời như vẻ đẹp tâm hồn nàng. Vũ Nương “vốn con kẻ khó”, song rất đỗi làm theo “tam tòng tứ đức”, giữ trọn lề lối gia phong và phẩm hạnh của chính mình. Thế nên, nàng rất “thùy mị, nết na”. Trong gia đình chồng, nàng luôn “gìn giữ mực thước, ko để khi nào vợ chồng phải tới thất hòa”. Thế là, “hạnh”, 1 trong những tiêu chuẩn bình chọn con người, nàng đã vẹn tròn. Lễ nghĩa, nàng cũng thông hiểu, am hiểu. Tuy chẳng hề tiểu thư khuê các, con nhà cao sang nhưng mà lời nàng nói ra dịu dàng như vàng như ngọc.
Ngày tiễn chồng ra trận, nàng đã dặn rằng: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được 2 chữ bình an, thế là đủ rồi”. Từng lời, từng chữ nàng thốt ra thấm đẫm nghĩa tình vợ chồng chung thủy, son sắt, khiến “mọi người đều ứa 2 hàng lệ”. Phận làm vợ, người nào chẳng mong trượng phu mình được phong chức tước, áo gấm về làng. Còn nàng thì ko. Nàng chỉ ao ước giản dị rằng chàng Trương trở về được bình an để có thể sum vầy, sum vầy gia đình, hạnh phúc đầm ấm như ngày nào. Nhưng mơ ước của nàng đã ko tiến hành được. Bị chồng 1 mực nghi oan, Vũ Nương tìm mọi lời lẽ để chứng minh sự trong lành của mình. Nàng vẫn đoan trang, đúng đắn, chỉ nhẹ nhõm giảng giải: “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia li vì động việc lửa binh.
Xa cách 3 5 gìn giữ 1 tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng. Ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Xin chàng đừng 1 mực nghi oan cho thiếp”. Lời nói của nàng luôn từ tốn, nhẹ nhõm, ko quá hoa mỹ nhưng mà chất chứa tình nghĩa. Chỉ qua những lời thoại, từ “ngôn” của Vũ Nương đã để lại 1 ấn tượng khó phai trong lòng người đọc bởi vẻ từ tốn, tế nhì của nàng. Và cũng từ những câu nói đấy, chúng ta cảm thu được sự hy sinh vô biên của nàng vì chồng con, gia đình. Khi chồng ra trận, cả nước nhà nhà chồng nặng trĩu trên đôi vai gầy đét, mong manh của nàng. Nàng phải sinh con 1 mình giữa nỗi độc thân lạnh lẽo, thiếu sự vỗ về, xoa dịu của người chồng. Thật là 1 thách thức quá gian khổ với 1 người đàn bà chân yếu tay mềm. Nhưng nàng vẫn vượt qua tất cả, 1 mình vò võ nuôi con khôn mập, đợi chồng về. Không những thế, nàng còn hết dạ chăm lo cho mẹ chồng ốm nặng: “Nàng cực kỳ thuốc men, lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khéo léo khuyên nhủ”. Thời xưa, quan hệ mẹ chồng – nàng dâu hình như chưa bao giờ êm đẹp và chứa đầy những thành kiến khe khắt.
“Mẹ anh nghiệt lắm anh ơi
Biết rằng có được ở đời với nhau
Hay là vào trước ra sau
Cho cực lòng thiếp, cho đau lòng chàng”.
Nhưng nàng đã mến thương mẹ chồng như chính thầy u ruột của mình. Mọi việc trong nhà đều được nàng chăm lo chu tất. Và lời trăn trối rốt cuộc của mẹ chồng như 1 lời nhận xét, bình chọn, 1 phần thưởng xứng đáng với những công sức và sự hy sinh cao cả của nàng vì gia đình nhà chồng: “Xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Tác giả đã 1 lần nữa nhắc lại: “Nàng hết lời thương xót, phàm việc hậu sự tế lễ, tính liệu như với thầy u đẻ mình”, như tô đậm tình mến thương của nàng đối với mẹ chồng. Vũ Nương là 1 nàng dâu đảm đang, thảo hiền trong mắt tất cả mọi người. Vậy là cả “công – dung – ngôn – hạnh” nàng đều toàn vẹn. Nàng chính là đỉnh cao của sự hoàn mỹ về cả vẻ đẹp bề ngoài lẫn tâm hồn của người đàn bà Việt Nam xưa dưới cơ chế phong kiến. Song, căn số chẳng phải mỉm cười với nàng.
Cuộc đời Vũ Nương điển hình cho căn số oan nghiệt của người đàn bà Việt Nam dưới cơ chế phong kiến. Nàng gặp bao xấu số trên đường đời. Chiến tranh ác liệt đã khiến bao gia đình li tán. Trước cảnh quốc gia binh cách binh lửa, Trương Sinh phải đi lính, uỷ thác cả nước nhà nhà chồng trên đôi vai bé bỏng của người thiếu phụ.Tất cả mọi việc trong nhà đều trông cậy vào nàng. “Khi xa chồng vừa đầy tuần thì sinh ra 1 đứa đàn ông, đặt tên là Đản”. Thiếu vắng sự ân cần, chăm bẵm của người chồng, song nàng vẫn cưu mang, dạy bảo con thơ khôn mập, trưởng thành. Vừa 1 mình chăm nom, thuốc men cho mẹ chồng, Vũ Nương vừa sinh đàn ông, lại lặng thầm, tảo tần nuôi con và cũng 1 mình lo hậu sự, an táng mẹ chồng chăm chút. Từng ngày từng ngày trôi, bấy giờ, trên đôi vai bé bỏng của nàng gian khổ lại chồng chất gian khổ. Rồi chiến tranh cũng qua, cứ ngỡ Vũ Nương lại được sum vầy gia đình, đoàn tụ cùng chàng Trương, được sống trong hạnh phúc đôi lứa nhưng mà nàng hằng ước ao.
Nàng đâu biết rằng thảm kịch cuộc đời nàng sắp mở màn. Những ngày xa chồng, nàng đã lặng thầm nuôi con, và nàng xót xa biết bao lúc nhìn cảnh con thơ thiếu vắng sự chăm nom, mến thương của người cha.Thế là nàng đã chỉ bóng mình trên tường nhưng mà bảo với con rằng đấy chính là cha Đản. Hành động đấy chẳng hề vì nàng quá nhớ thương chồng nhưng mà xuất hành từ tấm lòng mến thương con vô biên của 1 người mẹ. Nhưng nàng sẽ chẳng bao giờ ngờ được rằng nàng chết chính bởi cái bóng của chính mình. Ngày Trương Sinh về, nghe lời con thơ ấu nhưng mà hàm oan vợ: “Trước đây có người con trai đêm nào cũng tới. Mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng mà chẳng bao giờ bế Đản cả”. Trương Sinh vốn là tên thất học, lại thêm “tính đa nghi, đối với vợ phòng phòng ngừa quá sức”. Lời nói thơ ngây của nhỏ Đản chứa đầy những cụ thể đáng ngờ, như đổ thêm dầu vào lửa.
Tính đa nghi của Trương Sinh đã dâng lên tới cao trào và 1 mực “đinh ninh là vợ hư”. Chàng ko còn đủ tĩnh tâm để suy đoán, phân tách, bỏ ngoài tai những lời phân bua của vợ, ko tin cả những nhân chứng bênh vực cho nàng, cũng nhất thiết ko nói ra nguyên nhân để nàng có dịp giải oan. Và Trương Sinh thoáng chốc hóa 1 kẻ vũ phu, thô bạo, “nhiếc mắng nàng và đánh đuổi đi”. Vượt qua được mọi gian khó, khó nhọc trong chiến tranh để vẹn tròn phận dâu thảo hiền nhưng mà Vũ Nương chẳng thể vượt qua nổi bức tường của cơ chế nam quyền độc đoán, bất công, hung ác. Lời nói của nàng đầy thương tâm: “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu”. Ngay từ đầu, cuộc hôn nhân giữa nàng và chàng Trương đã có phần ko đồng đẳng và mang thuộc tính 1 cuộc thảo luận, sắm bán: Trương Sinh “xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về”. Điều đấy khiến chúng ta động lòng nhớ tới hoàn cảnh 1 Thúy Kiều lúc phải bán mình chuộc cha:
“Cò kè bớt 1 thêm 2
Giờ lâu ăn giá vàng ngoài 4 trăm”.
Sự cách bức về địa vị xã hội như thế đã tạo cho Trương Sinh 1 cái thế kế bên những quyền uy vốn có của người chồng, người con trai trong gia đình gia trưởng phong kiến. Chính cái gia đình “chồng chúa vợ tôi”, “phu xướng phụ tùy” đấy đã khiến nàng bị khi dể, đối xử bạc nghĩa. 1 người vợ vốn tiết hạnh, ngoan hiền, vâng theo cả “tam tòng tứ đức” lại phải mang tai mang tiếng xấu “hư thân mất nết”. Mọi lời nhiếc mắng của Trương Sinh như giày đạp lên phẩm chất cao đẹp nhưng mà nàng đã giữ gìn cả 1 đời. Khi xa chồng, Vũ Nương là người vợ chung thủy, yêu chồng khẩn thiết, nỗi buồn nhớ cứ dài theo những “bướm lượn đầy vườn”, “mây che kín núi”. Thế nhưng mà lúc vừa mới sum vầy hạnh phúc, nàng lại bị gán cho tội danh: “lừa chồng dối con”. Thật đớn đau, thật tủi hổ! Bi kịch của cuộc đời Vũ Nương chính từ lễ giáo bất công và cơ chế nam quyền. Người con trai với những quyền bính về căn số, cuộc đời người đàn bà đã đẩy Vũ Nương vào đường cùng ko lối thoát.
Cái chết oan khúc, xót xa của Vũ Nương, người nào có thể ngờ người gây ra bi kịch đấy chính là chồng và con nàng, những người nhà nhưng mà nàng rất mực mến thương, chăm nom. Nàng, 1 người con gái luôn khát khao hạnh phúc dù chỉ bé nhoi, bình dị nhưng mà cho tới lúc trẫm mình xuống sông thì cuộc đời nàng đúng là 1 chuỗi dài những thảm kịch. Hạnh phúc đâu quá xa vời nhưng mà xã hội phong kiến đấy ko cho nàng chạm tay tới hưởng thụ “niềm vui nghi gia nghi thất” 1 lần độc nhất vô nhị trong đời. Nỗi oan của nàng thấu cả trời xanh. Ngày xưa, Quan Âm Thị Kính mắc oan giết thịt chồng bởi “tình ngay lý gian”. Nhưng nàng Thị Kính cũng còn hiểu ra nỗi oan khúc của mình từ đâu nhưng mà thành. Còn lúc đã chìm sâu dưới dòng nước, Vũ Nương vẫn không phải biết rằng mình phải chết vì đâu. Bi kịch của Vũ Nương là 1 lời cáo giác xã hội phong kiến xem trọng uy quyền của kẻ giàu và của người con trai trong gia đình, cùng lúc bộc bạch niềm thương cảm đối với căn số oan trái của người đàn bà. Người đàn bà tiết hạnh chẳng những ko được bênh vực, chở che nhưng mà còn bị đối xử 1 cách bất công, vô lý; chỉ vì lời nói thơ ngây của đứa trẻ mồm còn hôi sữa và vì sự hàm hồ, vũ phu của anh chồng ghen tuông tuông nhưng mà tới nỗi phải kết liễu cuộc đời mình. Phcửa ải chăng đằng sau nỗi oan của nàng còn bao lăm nỗi oan của những người đàn bà khác trong cơ chế phong kiến bị rẻ rúng, suốt đời sống trong câm lặng.
Xót thương trước nỗi đau buồn vì bị giày đạp của những người đàn bà, Nguyễn Dữ như muốn giải oan và bù đắp cho những đức tính tốt đẹp của nàng bằng 1 cuộc sống khác với trần thế. Nhưng ở chốn “làng mây cung nước”, Vũ Nương không thể nào nguôi nỗi nhớ về những oan ức, bĩ cực ở cõi tục. Sống giữa cõi tiên ảo huyền, đẹp diệu kỳ nhưng mà nàng hình như ko bao giờ dứt nghĩa tình gia đình, mãi khóc thương cảnh gia đình tiêu điều xác xơ. Nàng xin lập đàn tẩy oan, khát khao được trả lại danh dự của 1 người con gái tiết hạnh. Và rốt cuộc, nỗi oan của nàng đã được giải. Từ chốn thủy cung, Vũ Nương “ngồi trên 1 chiếc kiệu hoa đứng giữa dòng, theo sau có tới 5 mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, đặc sắc sắc màu, khi ẩn, khi hiện”. Nhưng xót xa thay, nàng “không thể trở về trần gian được nữa”. Nỗi oan tình của nàng đã được giải oan, xả stress nhưng mà âm dương đôi đường ngăn cách, nàng chẳng bao giờ được làm vợ, làm mẹ chốn cõi tục. Nhỏ Đản mãi mãi là 1 đứa nhỏ mồ côi mẹ. Nếu nàng được trở về với cõi tục thì liệu xã hội phong kiến bất công ko có nơi dành cho cái đẹp này có dành cho nàng 1 cuộc sống đầm ấm, bình an, hay 1 lần nữa, nàng phải đớn đau, buồn khổ. Dù trở lại chốn tiên giới dễ nhìn, nhưng mà rốt cuộc, ước mong cả đời của nàng, hạnh phúc “nghi gia nghi thất”, chỉ mãi là ước mong hảo huyền.
Hình tượng đối tượng Vũ Nương là hiện thân của lòng vị tha và vẻ đẹp người đàn bà. Song cuộc đời nàng gặp nỗi thảm kịch mập. Đó chính là tấn thảm kịch của người đàn bà Việt Nam trong cơ chế phong kiến gian ác, cơ chế của sự lỗi thời và cả bóng đêm vĩnh cửu. Điều ấy khiến chúng ta phải động lòng trước căn số của người đàn bà.
“Đớn đau thay phận nữ giới
Lời rằng bạc phận cũng là lời chung”
Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu dụng khác trên phân mục Văn chương – Tài liệu của Vik News VN.

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Top #bài #phân #tích #nhân #vật #Vũ #Nương #siêu #hay

Top 8 bài phân tách đối tượng Vũ Nương siêu hay

Phân tích đối tượng Vũ Nương – Vũ Nương chính là đối tượng chính của tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ. Sau đây là dàn ý phân tách đối tượng Vũ Nương và bài  văn mẫu phân tách đối tượng Vũ Nương cụ thể để các bạn thông suốt hơn về đối tượng và tác phẩm.
Top 7 mẫu cảm nhận về đối tượng Vũ Nương siêu hay
1. Dàn ý phân tách đối tượng Vũ Nương
I. Mở bài
Giới thiệu nhà văn Nguyễn Dữ, tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”.
Giới thiệu về đối tượng Vũ Nương – đối tượng chính của truyện.
II. Thân bài
1. Hoàn cảnh sống của Vũ Nương
Xã hội phong kiến Nam quyền với những bất công với người đàn bà.Chiến tranh binh lửa xảy ra chia cắt nhiều gia đình.
2. Vẻ đẹp của Vũ Nương
Vũ Nương là người vợ hiền, mực thước: biết chồng đa nghi nên cực kỳ gìn giữ mực thước, lúc chồng phải đi lính thì ko mong công danh nhưng mà chỉ chờ đợi chồng trở về bình yên, hết dạ thủy chung kì vọng chồng.
Vũ Nương là người con dâu hiếu hạnh, người bà xã thương con rất mực: chăm nom mẹ chồng khi ốm đau, lúc mẹ chồng chết lo tang như đối với mẹ đẻ, thương con phải xa cha từ bé…
3. Căn số của Vũ Nương
Không được quyết định cuộc đời nhưng mà phải chịu sự bố trí của thầy u: hôn nhân ko môn đăng hộ đối.
Lấy chồng nhưng mà phải chịu sự chia ly bởi chiến tranh.
Bị chồng nghi là thất tiết, phải lấy cái chết để chứng minh sự trong lành.
Khi chết rồi, muốn trở về bên gia đình nhưng mà ko được nữa.
4. Nghệ thuật
Nghệ thuật kể chuyện lạ mắt cho thấy chân dung người đàn bà với vẻ đẹp toàn diện.
Nghệ thuật xây dựng đối tượng: mô tả tâm lí, nội tâm đối tượng Vũ Nương phê chuẩn hội thoại, độc thoại…
Nhân tố huyền ảo góp phần xây dựng tình tiết.
III. Kết bài
Vũ Nương là đối tượng điển hình cho người đàn bà trong xã hội cũ.
“Chuyện người con gái Nam Xương” nói riêng, “Truyền kì mạn lục” khái quát gửi gắm nhiều ý nghĩa nhân bản thâm thúy.
2. Phân tích đối tượng Vũ Nương – mẫu 1
Truyện Người con gái Nam Sương là câu chuyện về căn số oan trái của 1 người đàn bà có sắc đẹp, có tiết hạnh dưới cơ chế phong kiến, chỉ vì 1 lời nói thơ ngây của trẻ nhỏ nhưng mà bị nghi ngại, bị xỉ nhục, bị đẩy tới bước đường cùng, phải kết liễu cuộc đời mình để giãi tỏ tấm lòng trong lành. Ấy là số phậm, hình ảnh của Vũ Nương 1 đối tượng chịu nhiều oan trái.
Nguyễn Dữ đã thật tài tình lúc xây dựng hình ảnh người đàn bà nhưng mà chi tiết ở đây là Vũ Nương, ông đã đặt đối tượng vào cảnh huống không giống nhau để trình bày rõ được phẩm giá của người đàn bà thương chồng, yêu con, hiếu thỏa với thầy u chồng cùng lúc cũng rất mực chung thủy son sắc. Trong cuộc sống vợ chồng phổ biến, nàng đã gìn giữ khuân phép, ko lúc nào vợ chồng phải để tới thất hòa dù rằng Trương Sinh là người chồng tính hay ghen tuông tuông đối với vợ thì phòng phòng ngừa quá mức.
Thật là 1 cảnh khiến cho mọi người phải xúc động, lúc Vũ Nương tiễn chồng đi lính. Thông thường thì lúc chồng đi lính nhiều người mong chồng có được công danh gì mang về để vinh hiển trở về, còn đối với Vũ Nương thi lại ko chông mong vinh hiển nhưng mà chỉ cầu chồng được bình an trở về; nàng còn thông cảm với những khó nhọc, gian khó nhưng mà chồng mình sẽ phải chịu đựng; nàng nhắc đến nỗi nhớ nhung khắc khoải của mình, bằng những lời rất quan tâm; thắm thiết tình cảm.
Khi xa chồng. Vũ Nương lại là 1 người vợ chung thủy, yêu chồng khẩn thiết, nỗi buồn nhớ cứ dài theo măm tháng “bướm lượn đầy vườn”, “mây che kín núi” tác giả đã dùng hình ảnh ước lệ biểu tượng, mượn cảnh vật tự nhiên để diễn đạt sự lưu loát của thời kì. Nàng còn là người con dâu hiếu hạnh, người mẹ hiền, 1 mình vừa nuôi con bé, vừa tận tụy chăm nom mẹ chồng đau ốm, nàng lo thuốc men, cầu khấn phật trời, và khi nào cũng quan tâm, dịu dàng, lấy lời ngon ý ngọt khôn khéo khuyên mẹ gắng dưỡng sức để chờ Trương Sinh quay trở về, thành ra do vậy trước lúc mẹ chồng nhắm mắt nhắm mũi bà đã nói với Vũ Nương rằng Vũ Nương là người con dâu tốt lúc Trương Sinh về sẽ ko phụ lòng tốt của nàng. Rồi nàng cũng cực kỳ thương sót mẹ và lo hậu sự tế lễ như lo cho thầy u ruột của mình.
Tưởng rằng lúc Trương sinh về thì Vũ nương được sống chứa chan trong thú vui và hạnh phúc và nàng cũng san sẻ bớt gánh nặng cuộc sống cho chồng ngờ đâu nàng bị 1 nỗi oan ko tài nào thanh minh nổi, dù rằng nàng đã hết lời phân bua tấm long son sắc chung thủy của mình cho chồng hiểu như: Nàng nhắc đến thân phận mình nghèo được nương nhờ nơi giầu có.. , nghĩa tình vợ chồng bao 5 và khẳng định tấm lòng chung thủy trong sáng, cầu xin chồng đừng nghi oan. Như vậy đã chứng tỏ nàng đã cực kỳ cứu vãn, mong hàn gắn cái hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ đổ vỡ. Sau nữa nàng nói lên nỗi đớn đau, tuyệt vọng lúc ko hiểu tại sao bị đối sử bất công, ko có quyền được tự bảo vệ, ngay cả lúc có họ hàng, anh em tới nói giúp. Hạnh phúc gia đình niềm khao khát của cả cuộc đời nàng đã đổ vỡ như bong bong. Tất cả những nỗi đau buồn chờ chồng trước đây ko còn có thể làm lại được nữa.
Thất vọng tới tột đỉnh, cuộc hôn nhân đã tới độ chẳng thể nào cứu vãn được, Vũ Nương đành phải mượn dòng nước quê hương để giải nỗi oan cho mình. Những lời than trước lúc vĩnh viễn cuộc đời đầy đau buồn của mình nhưng mà cũng đầy luyến tiếc, như 1 lời nguyền xin thần sông chứng giám nỗi oan khúc và tiết sạch giá trong của nàng. Ở đoạn truyện này, cốt truyện được bố trí đầy kịch tính, Vũ Nương bị đẩy tới bước đường cùng, nàng đã mất tất cả, đành phải chấp thuận căn số sau mọi nỗ lực ko thành. Hành động tự trầm mình của nàng là 1 hành động quyết liệt rốt cuộc để bảo toàn danh dự, có nỗi thất vọng cay đắng, nhưng mà cũng có sự chỉ huy của lí trí. Đây chẳng hề là hành động bộc phát trong cơn hot giận.
Vũ nương đúng là 1 người đàn bà dễ nhìn nết na thùy mị, hiền thục, lại đảm đang tháo vát, thờ kính mẹ chồng rất đỗi hiếu hạnh, 1 lòng 1 dạ thủy chung với chồng, hết dạ vun vén cho hạnh phúc gia đình. 1 con người như thế lẽ ra phải được hạnh phúc toàn vẹn, vậy nhưng mà phải chết 1 cách oan uổng, đớn đau. vậy nguyên cớ nào dẫn đến kết quả đáng buồn đấy. Có phải chăng vì cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương ko đồng đẳng chính sự cách bức về thân phận nghèo nàn của Vũ Nương đã cộng thêm cái thế cho Trương Sinh kế bên cái thế của 1 người chồng, người con trai gia trưởng trong cơ chế phong kiến. Hay ấy là những lời nói thơ ngây của đứa trẻ, chứa đầy những dữ kiện nghi ngại khiến cho Trương Sinh 1 người chồng hay có tính đa nghi ghen tuông tuông, hàm hồ và độc đoán kia biến thành kẻ thô bạo, vũ phu là kẻ bức tử vợ mình trong sự mù quáng, kẻ giết thịt người lại hoàn toàn vô can trong vụ án.
Bi kịch của Vũ Nương là lời cáo giác cái xã hội phong kiến xem trọng uy quyền của kẻ giàu và của con trai trong gia đình, cùng lúc bộc bạch niềm bi cảm của tác giả đối với căn số oan trái của người đàn bà. Người đàn bà xấu số ở đây chẳng những ko được bênh vực, che trở nhưng mà còn bị đối sử 1 cách bất công, phi lí, chỉ vì lời nói thơ ngây của đứa trẻ mồm còn hơi sữa và vì sự hàm hồ, vũ phu của anh chồng ghen tuông tuông nhưng mà phải kết liễu đời mình.
3. Phân tích đối tượng Vũ Nương – mẫu 2
Trong văn chương dân gian và văn chương viết của nước ta, người đàn bà bình dân đã nêu cao những trị giá cao đẹp về đạo đức, phẩm giá. Nhưng sống trong xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công, oan nghiệt, họ phải chịu nhiều đau buồn và xấu số. Đọc “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ ta thương Vũ Thị Thiết phải chịu nỗi oan khúc và để giải nỗi oan, nàng đã tìm tới cái mệnh chung thương tâm.
Nguyễn Dữ giới thiệu với ta đối tượng Vũ Nương – 1 đàn bà đẹp người, đẹp nết. Nàng có tư dung đẹp, tâm tính lại hiền dịu, nết na. Khi làm vợ Trương Sinh, 1 người chồng có tính đa nghi, nàng vẫn gìn giữ mực thước để ko xảy ra cảnh bất hoà. Hạnh phúc chồng vợ đoàn viên chưa được bao lâu, chiến tranh xảy ra, chồng phải ra trận, nàng tiễn chồng lên đường với tâm cảnh đau buồn. Lời nói với chồng trong giờ khắc chia tay thật thật tâm, cảm động khiến cho “mọi người đều ứa 2 hàng lệ”. “Nàng chẳng cầu mong chồng đeo ấn phong hầu nhưng mà chỉ cầu xin chồng trở về bình an vô sự”. Nguyện vọng của nàng thật giản dị nhưng mà thâm thúy.
Mấy 5 chồng đi xa, ở nhà 1 tay nàng toan lo mọi công tác gia đình, nuôi con từ trứng nước tới lúc mập khôn. Nàng còn là người con dâu hiếu hạnh rất đỗi, lúc mẹ chồng đau ốm nàng “cực kỳ thuốc men lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khéo léo khuyên nhủ”. Khi bà cụ nhắm mắt xuôi tay, nàng hết dạ thương xót, lo hậu sự tế lễ toàn vẹn. Sự ăn ở đối xử hết dạ với mẹ chồng chẳng khác nào đối với thầy u mình vậy. Tóm lại, Vũ Nương là 1 đàn bà toàn vẹn, trình bày được những phẩm giá đạo đức cao quý của người vợ, người mẹ, người con. Con người tương tự lẽ ra phải được lợi hạnh phúc yên ấm của gia đình.
Chiến tranh xong xuôi, chồng trở về, thú vui chưa toàn vẹn thì thảm kịch xảy ra. Trương Sinh – 1 kẻ vô học, thô tục, đa nghi, hay ghen tuông đã nghe lời đứa con thơ ngây, ko dò xét ngành ngọn, nghi ngại vợ mình ko thủy chung. Nàng đau buồn, khóc lóc bộc bạch nỗi oan với chồng nhưng mà Trương Sinh 1 mực vẫn cáo buộc vợ, thậm chí còn nhiếc mắng, đánh, đuổi nàng đi. Họ hàng, xóm làng đều biện minh cho nàng nhưng mà cũng ko chỉnh sửa được thái độ của Trường Sinh. Không còn cách nào để giải oan được nữa, nàng chọn cái chết để thổ lộ tấm lòng thủy chung, trong sáng của mình. Thật khổ thân cho Vũ Nương, 3 5 trời xa cách vẫn gìn giữ 1 tiết, đấy nhưng mà lúc chồng trở về lại bị nghi oan, 1 con người phẩm hạnh như thế, lại mang tai mang tiếng nhuốc nhơ. Bi kịch bị dồn nén tới cao độ, trong tình cảnh ấy, Vũ Nương chỉ có 1 tuyến đường tìm tới cái chết. Thương Vũ Nương, thiên hạ càng trách giận Trương Sinh phũ phàng:
Khá trách chàng Trương Sinh khéo phũ phàng
(“Lại bài Viếng Vũ Thị”của Lê Thánh Tông)
Và ngay cả lúc chết rồi, ở dưới thủy cung, nàng vẫn ôm mối hận bị chồng ruồng rẫy, nàng nghĩ: “Thà già ở chốn làng mây cung nước, chứ còn mặt mày nào về nhận ra người ta nữa”. Nhưng có khi nàng lại băn khoăn: “Không thể gửi hình ẩn bóng ở đây được mãi, để mang tai mang tiếng xấu xa”. Nàng mong muốn tha thiết trở về quê hương sum vầy với chồng và để giải được nỗi oan. Nhưng âm dương xa cách nàng “không thể trở về trần gian được nữa”.
Trong xã hội phong kiến, những người đàn bà tiết hạnh, hiền thục như Vũ Nương đều chịu chung căn số bi ai. Câu chuyện về cái chết thương tâm của Vũ Nương càng khiến cho ta cảm thông với những nỗi đau của người đàn bà trong xã hội cũ. Tác phẩm còn là ngôn ngữ cáo giác chiến tranh phong kiến đã làm đổ vỡ hạnh phúc của nhiều đôi lứa, gia đình. Trong 1 xã hội nhưng mà quyền sống con người được tôn trọng như xã hội ta hiện tại, những người đàn bà có sắc đẹp, phẩm hạnh như nàng Vũ Thị Thiết cứng cáp sẽ sống cuộc đời hạnh phúc.
Từ 1 câu chuyện lưu truyền trong dân gian, Nguyễn Dữ đã sáng tác nên 1 tác phẩm rực rỡ. Mặc dầu có nhiều ít nhân tố hoang đường nhưng mà “Chuyện người con gái Nam Xương” đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng ko phai mờ.
4. Phân tích đối tượng Vũ Nương – mẫu 3
“Truyền kì mạn lục” là 1 tác phẩm văn xuôi có trị giá của văn chương cổ nước ta ở thế kỉ XVI, 1 tập truyện văn xuôi trước nhất viết bằng chữ Hán ở Việt Nam. “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, tác phẩm truyền kì mạn lục là 1 tác phẩm hay trong tập truyện ấy. Nhân vật chính là Vũ Nương, 1 đàn bà đẹp người, đẹp nết đã phải lấy cái chết để giải oan trước sự ghen tuông tuông vô cớ của chồng mình. Có thể nói Nguyễn Dữ là tác giả văn xuôi điển hình của văn chương cổ thế kỉ XVI. Hình ảnh người con gái Nam Xương là đối tượng từng có tác động thâm thúy tới lòng người mọi thời. Lê Thánh Tông đã từng xúc động viết trong bài thơ “Miếu vợ chàng Trương”:
“Nghi ngút đầu ghềnh toả khỏi hương,
Miếu người nào như miếu vợ chàng Trương…”
Câu chuyện về Vũ Nương đề đạt cuộc đời đau buồn và bi thương của Vũ Nương – người đàn bà dưới cơ chế xã hội phong kiến. Người vợ phải tự sát để giải oan cho sự thuỷ chung của mình. Tác phẩm nêu cao chủ nghĩa nhân đạo khiến ta xúc động lúc về đối tượng Vũ Nương trong truyện. Trước hết, đọc truyện, người đọc càng thương cho thân phận Vũ Nương và dễ dãi nhận thấy được Vũ Nương là 1 người đàn bà nết na, tiết hạnh, đối xử với mẹ chồng và chồng rất phải đạo; là người vợ rất đỗi đảm đang, nhân đức, giàu đức khiêm tốn.
Có tư dung tốt đẹp, nhưng mà trong cuộc sống gia đình, nàng can tâm làm 1 người vợ hiền, ngoan nết “chẳng khi nào vợ chồng phải tới thất hoà”, và cho dù Trương Sinh, chồng của nàng, tuy là con nhà hào phú, lại ít học, đa nghi quá sức. Sự khiêm nhượng, cam chịu của Vũ Nương là điều kiện hình thành sự yên ấm của gia đình, mặc cho cơ chế nam quyền độc đoán đè nặng trong đầu óc kẻ vị kỉ ít học như chồng mình.
Nếu lấy sự kiện ngày Trương Sinh đi lính thú thì hành động và lời lẽ tống biệt chồng của người vợ hiền, lời tha thiết cầu mong của Vũ Nương: “Chẳng mong chàng áo gấm trở về quê cũ, chỉ mong được 2 chữ bình an thế là đủ rồi”…, “thư tín ngàn hàng, áo rét gửi người cửa ải xa…”, là cụ thể cho cái “công-dung-ngôn-hạnh” nhưng mà Vũ Nương đã làm được 1 cách thành tâm. Thế rồi, nỗi nhớ nhung, sự độc thân, giữ mình của người vợ trẻ càng khiến chúng ta phải truyền tụng con người nhân đức và đảm đang ấy. Tính cách cao đẹp của Vũ Nương còn là lòng hiếu hạnh với mẹ chồng, lòng chung thuỷ son sắt với chồng của nàng.
Khi chồng vào lính, Vũ Nương 1 mình đảm đang, nuôi dạy con thơ, chăm nom thuốc men cho mẹ chồng đau yếu, làm hậu sự tống tang lúc mẹ chồng nhắm mắt xuôi tay. Vũ Nương giữ tròn hiếu đạo với mẹ chồng, giữ tròn nghĩa tình với chồng. Cái thói thường bấy lâu thường chẳng thể hoà hợp giữa mẹ chồng nàng dâu, nhất là trong gia đình phong kiến. Thế nhưng mà, dù chỉ có 2 mẹ con sống với nhau (Vũ Nương với mẹ chồng) nhưng mà nàng xem mẹ chồng như mẹ đẻ, điều ấy còn được trình bày qua lời trăng trối của mẹ chồng nàng trước lúc bà nhắm mắt xuôi tay: “Xanh kia sẽ chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ …”. Rồi sự chăm chút của Vũ Nương trong việc hậu sự, cúng lễ đã trình bày tấm lòng thơm thảo của người con dâu đáng quý như Vũ Nương. Lòng chung thuỷ của Vũ Nương còn được trình bày ở hành động nuôi con, chờ chồng suốt những ngày tháng Trương Sinh đi lính nhưng mà chưa rõ mặt con. Chỉ có 2 mẹ con cui cút đùm bọc, gắn bó. Cậu nhỏ Đản ngây thơ, đêm tới được mẹ chỉ vào cái bóng của mình trên tường gọi là cha (ấy là 1 cách dụ dỗ con ngủ thật hồn nhiên nhưng mà sau ấy lại là nguyên cớ gây ra cái tội thật vô tình).
Nỗi hàm oan ko được quyền nói, suy xét cho ra là bởi con người độc đoán, phàm phu lại kém văn hoá như Trương Sinh lúc chàng ra lính trở về (nghe lời đứa con non dại) đã gây nên nỗi oan tày đình cho Vũ Nương. Bị chồng ghen tuông tuông vô cớ, bao lăm lời thổ lộ của Vũ Nương và lời khuyên ngăn của hàng xóm, bà con, cô bác, Trương Sinh vẫn ko tin và đinh ninh là “vợ hư, mối nghi ngại ngày càng lún sâu ko có cách gì gỡ ra được. Chàng nhiếc mắng vợ thật thậm tệ rồi “đánh đuổi nàng đi”. Vũ Nương không phải có lầm lỗi gì, nàng thuỷ chung, trinh bạch, tiết hạnh toàn vẹn nhưng mà sự đối xử của chồng khiến cho nàng hoàn toàn tuyệt vọng, ko hiểu nỗi oan khúc từ đâu nhưng mà ra. Không có cách nào để thổ lộ, tuyệt vọng bởi hạnh phúc – thú vui “nghi gia nghi thất” ko còn nữa, nàng phải tìm tới cái chết để giải oan. Hành động tự sát là thái độ rốt cuộc nàng được phép bởi chẳng thể giải bày được với chồng, đức hạnh của nàng sẽ bị hoen ố, biết bao giờ phai mờ đi trong tâm não của chồng.
1 người vợ hiền từ, đầy tiết nghĩa, thuỷ chung phải chết dẫu vô tội tình gì. Mãi tới sau cái chết ấy, người chồng mới hiểu nỗi oan ức của vợ mình. Chính sự độc đoán của người con trai trong gia đình phong kiến nhưng mà Nho giáo nuôi dưỡng dung túng là đề tài nhưng mà Nguyễn Dữ muốn phê phán. Bởi ko chỉ hình ảnh đối tượng Vũ Nương, nhưng mà còn biết bao thân phận đàn bà “7 nổi, 3 chìm” đã phải sống trong cảnh đời tương tự:
“Đớn đau thay phận nữ giới
Lời rằng bạc phận cũng là lời chung”
Cái chết của Vũ Nương là căn số, nhưng mà cũng là lời cáo giác thói ghen tuông tuông ích kỉ, sự hàm hồ, vũ phu của con trai – người chồng vô học, đa nghi như Trương Sinh – là lời cáo giác quy tắc phong kiến khắc nghiệt dung túng cho sự ác nghiệt, bất công – “cơ chế nam quyền” dưới thời phong kiến ngự trị.
Vũ Nương trong truyện là 1 đối tượng rất đẹp, theo đúng quan niệm đặc điểm truyền thống, nhưng mà phải chịu nổi oan tày đình và phải chứng nhận sự không có tội của mình bằng cái chết. Cái chết đớn đau bất công, chỉ vì sự hiểu nhầm, từ 1 câu nói ngây thơ của trẻ nhỏ nhưng mà người chồng Trương Sinh đã nghi oan, đã làm mất đi người vợ quý trên đời. Nguyên nhân sâu xa của thảm kịch nát lòng này chính là do chiến tranh binh lửa và lễ giáo phong kiến trọng nam quyền trong xã hội ngày trước.
5. Phân tích vẻ đẹp của Vũ Nương
Nền văn chương trung đại Việt Nam của chúng ta từ thế kỷ X tới XIX chính yếu kết tinh và ghi dấu thành quả bởi các tác phẩm thơ hoàn hảo, nhưng mà Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du là 1 trong những minh chứng rõ rệt nhất. Nhưng nói như thế ko có nghĩa rằng trong quá trình này nền văn chương nước ta ko có tác phẩm văn xuôi nào đáng chú tâm, bởi Nguyễn Dữ với tập Truyền kỳ mạn lục đã cho chúng ta 1 cái nhìn mới, thổi 1 làn gió lạ mang tên “truyền kỳ” vào với nền văn chương giang san. Trong 20 câu chuyện của tác phẩm này, thì Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là 1 trong số những truyện được biết tới nhiều, song song với ấy thì truyện Chuyện người con gái Nam Xương cũng được nói đến nhiều với hình ảnh nàng Vũ Nương đại diện cho người đàn bà Việt Nam xưa, dẫu mang nhiều phẩm giá tốt đẹp nhưng mà vẫn phải chịu căn số xấu số.
Nguyễn Dữ sống vào khoảng thế kỷ XVI, khi này đây triều đình nhà Lê đã có tín hiệu suy yếu, cuộc sống quần chúng có nhiều gian khổ. Ông là người học rộng tài cao, nhưng mà lại ko ham vinh hoa phú quý, ra làm qua được tầm 1 5 thì ông cáo quan lui về ở ẩn, thanh dưỡng tâm hồn và cho ra áng thiên cổ kỳ bút Truyền kỳ mạn lục. Chuyện người con gái Nam Xương là 1 trong những truyện rực rỡ nhất trong tập Truyền kỳ mạn lục.
Cuộc đời của Vũ Nương ko thật sự yên ả, cuộc sống vợ chồng của nàng dù ko được nói đến nhiều thế nhưng mà việc sống với 1 người chồng luôn ghen tuông tuông ngừa thì nàng hẳn ko lấy làm dễ chịu, sau cuối cũng vì tính ghen tuông xa xôi ích kỷ của Trương Sinh nhưng mà Vũ Nương phải lấy cái chết để giải oan. Và để tô đậm cái xấu số của cuộc đời người con gái này Nguyễn Dữ đã khôn khéo xây dựng Vũ Nương là 1 cô gái tài đức toàn vẹn, công dung ngôn hạnh đầy đủ, chẳng phải khuyết thiếu “tính đã thùy mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp”. Chỉ với vài từ ngắn gọn thế nhưng mà hình ảnh Vũ Nương đã hiện lên là 1 cô gái có sắc đẹp dễ nhìn, lại còn có phẩm giá tốt đẹp cao quý, ấy là vẻ đẹp toàn vẹn. Chính thành ra nên dẫu nghèo nàn nhưng mà Vũ Nương vẫn được Trương Sinh đàn ông 1 nhà hào phú trong làng “xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới về”, điều ấy trình bày trị giá con người Vũ Nương, cùng lúc là lòng trân trọng của Trương Sinh lúc hỏi cưới nàng.
Trong tác phẩm Nguyễn Dữ chỉ lướt nhẹ qua sắc đẹp của Vũ Nương, sau ấy ông tập hợp tô đậm vẻ đẹp phẩm giá của nàng. Ở vai trò người vợ, Vũ Nương rất mực thương mến và lo nghĩ cho chồng, biết chồng có tính hay ghen tuông lại nghi kỵ thế nên trong cuộc sống vợ chồng nàng cực kỳ “gìn giữ mực thước, ko khi nào để vợ chồng phải thất hòa”. Ngày chồng phải tòng quân đi đánh giặc, nàng thương xót căn dặn, thề nguyền, nàng ko ham chồng được phong ấn, mũ quan, vinh hiển về làng nhưng mà chỉ cầu chồng được 2 chữ bình yên, cũng bộc bạch nỗi mong nhớ, lo âu của mình lúc chồng đi vào nơi hiểm trở chẳng may có cớ sự. Lời nàng tha thiết, thâm thúy biểu hiện rõ tình cảm vợ dành cho người chồng đi chinh chiến bóng gió, khiến người nào nấy đều cảm động khôn nguôi. Trương Sinh đi lính chưa đầy mười ngày thì Vũ Nương lại sinh con, cuộc vượt cạn khó nhọc đớn đau lại ko có lang quân, thế nhưng mà nàng vẫn 1 dạ 1 lòng chăm con khôn mập, đợi cho tới ngày giặc tan, Trương Sinh trở về sum vầy. Suốt 3 5 đợi chờ, nàng “buồn nhớ khôn nguôi”, khi gặp cảnh chồng ghen tuông tuông nàng cũng ko mập tiếng cự cãi nhưng mà chỉ dùng lời lẽ mềm dẻo để mong giữ được cái “niềm vui nghi gia nghi thất”, vợ chồng hòa thuận, con có cha có mẹ.
Đối với mẹ chồng, nàng coi như thầy u ruột nhưng mà phụng bồi, chăm nom, mẹ chồng vì thương con chinh chiến ko tới nửa 5 thì ngã bệnh, Vũ Nương 1 mặt thuốc men, cơm cháo quan tâm, 1 mặt “lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khéo léo khuyên nhủ”. Nhưng dầu cạn đèn tắt, sự tình chẳng thể cứu vãn mẹ chồng nhắm mắt nhắm mũi xuôi tay, khi này đây lại 1 tay nàng lo tang sự “hết lời thương xót, hậu sự tế lễ như đối với thầy u đẻ mình”, hiếu thuận chăm chút cực kỳ. Với đứa con bé, tuy Nguyễn Dữ ko nói đến nhiều, nhưng mà đọc truyện cũng có thể cảm thu được lòng thương con của nàng Vũ Nương, 1 tay chăm nó kể từ sơ sinh, tới khi biết nói, đêm nào cũng trỏ bóng mình nhưng mà nói đó là cha để dỗ cho con vui. Lòng mẹ rộng lớn, thương con vô bến bờ, dẫu nói điêu, nói đùa cũng là thương con, có thể thấy việc nuôi con 1 mình khiến Vũ Nương chịu nhiều cay đắng khó nhọc, thế nhưng mà nàng chưa từng than thở 1 lời, chỉ chăm chắm 1 dạ sắt son.
Ngoài là 1 người vợ đảm đang, nết na, chung thủy 1 lòng nhưng mà Vũ Nương còn là 1 người có tấm lòng vị tha, bao dong cực kỳ. Chồng tòng quân xa, nàng ở nhà 1 mình chèo lái cả 1 gia đình, chăm mẹ già, nuôi con bé, thế nhưng mà lúc trở về Trương Sinh chẳng những ko hàm ơn, còn đâm ra nghi ngại vô cớ. Thế nhưng mà nàng ko 1 câu trách móc, vẫn luôn giữ đúng phụ đạo, bé nhẹ thổ lộ, 1 lòng mong muốn chồng thông hiểu, muốn tìm rõ nguyên cớ nhưng mà khổ một nỗi Trương Sinh lại giấu giếm. Điều đấy đã đẩy nàng tới thảm kịch phải chọn lọc cái chết vì nếu sống nhưng mà bị ruồng rẫy, điếm nhục thì còn nghĩa lý gì.
Khi sống dưới thủy cung, nàng vẫn sẵn lòng tha thứ cho chồng, điều đấy trình bày qua cụ thể nàng gửi chiếc thoa vàng cho Phan Lang mang về để nhờ Trương Sinh lập đàn tẩy oan. Khi hiện về ở trên bến Hoàng Giang Vũ Nương vẫn ko trách móc Trương Sinh nhưng mà vẫn đưa lời lạy tạ “Đa tạ tình chàng, thiếp không thể trở về trần gian được nữa”, cho thấy nàng đã hoàn toàn tha thứ cho chồng, đánh tháo chồng khỏi những ăn năn, chua xót vì trách lầm vợ. Lòng Vũ Nương vẫn không phải chỉnh sửa, nàng vẫn dịu dàng, hiền thục như thế, dẫu chồng mình đã gây cho nàng biết bao đau buồn, khiến nàng phải chịu đớn đau tan của nát nhà, xa lìa đứa con mới tập nói.
Dẫu nàng có đầy đủ các phẩm giá tốt đẹp thế nhưng mà cuộc đời nàng lại là 1 chuỗi những xấu số kéo dài. Mới vừa lấy chồng thì đã phải lìa xa chồng, 1 thân 1 mình chèo lái khó nhọc, vừa mỏi mệt thân xác, lẫn mỏi mệt trong tâm hồn. Tới khi tưởng được đoàn tụ thì lại gặp phải nỗi oan lạ đời, xuất hành từ lời nói vô thưởng vô phạt của đứa con bé, bị chồng ruồng rẫy ghen tuông tuông, phải tự vẫn để chứng minh cho tấm lòng thanh sạch.
Nhân tố kỳ ảo đã giúp nàng được sống, Nguyễn Dữ đã cho nàng 1 cái kết có hậu, thế nhưng mà cái kết đấy vẫn ko được toàn vẹn. Bởi tuy được sống cuộc sống nhàn hạ, giàu có dưới thủy cung, thế nhưng mà nàng lại phải chịu nỗi độc thân, thương chồng, nhớ con nhưng mà chẳng thể trở về, chỉ có thể nói lời lạy tạ rồi mất tích. Như vậy nàng đã ko phút nào có được hạnh phúc thực thụ, bởi ở xã hội phong kiến hạnh phúc ko dành cho những người đàn bà như Vũ Nương, hạnh phúc là cái gì ấy quá xa vời, dễ dãi vì 1 lời bâng quơ nhưng mà tan trở thành hư không. Ấy là xấu số chung của thân phận người đàn bà dưới cơ chế phong kiến khắc nghiệt, thủ cựu.
Với những bộc lộ của sắc đẹp, phẩm giá tốt đẹp như thế, nết đảm đang, lòng hiếu hạnh, đức hy sinh, chung thủy son sắt, lòng bao dong, vị tha bự mập, Vũ Nương chính là hiện thân cho vẻ đẹp của người con gái Việt Nam. Vẻ đẹp của nàng chính là những vẻ đẹp nhân sinh cực kỳ quý giá, nàng hoàn toàn xứng đáng được lợi hạnh phúc điền viên, được chồng mến thương, chăm nom chứ chẳng hề chịu nỗi xấu số ghen tuông tuông vô cớ, rồi táng thân nơi sông nước, sau cuối lại sống bất diệt với nỗi độc thân vời vợi. Nguyễn Dữ viết về đối tượng Vũ Nương 1 là bên truyền tụng những phẩm giá tốt đẹp của người đàn bà Việt Nam, 1 bên cũng đề đạt những bất công trong xã hội phong kiến xưa đối với thân phận người đàn bà. Ấy là những trị giá nhân đạo, nhân bản thật thâm thúy nhưng mà tác giả muốn truyền đạt qua câu chuyện cũng như đối tượng của mình.
6. Phân tích đối tượng Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương
Trong văn chương Việt Nam đã có ko ít tác phẩm mang tên gọi truyền kì hoặc mang thuộc tính truyền kí song được suy tôn “thiên cổ kì bút” thì cho tới này chỉ có 1 Truyền Kì Mạn Lục của Nguyễn Dữ. Và Trong ấy đoạn trích Chuyện người con gái Nam Xương rực rỡ nhất: Đã khắc họa thành công căn số của người đàn bà dưới cơ chế xưa.
Truyền Kì Mạn Lục là lọai văn chuyên biên chép rải rác những điều kì dị vẫn được lưu truyền. Cho nên trước ấy Chuyện người con gái Nam Xương cũng đã được lưu truyền phổ thông trong chốn dân gian. Hẳn ko mấy người nào ko biết tới 2 bài thơ thăm viếng nàng vũ thị trong hồng đức quốc âm thi tập. Hai bài thơ ấy chứng tỏ rằng câu chuyện bi thương về người nữ giới họ Vũ vợ chàng Trương là có thật. Đã được dân gian lưu truyền. Nhưng chẳng hề Nguyễn Dữ chỉ có làm công tác dễ ợt: Biển chép lại cho đúng 1 chuyện kể đã có sẵn từ những 5 tháng trước ấy nhưng mà còn phải nhào nặn lại câu chuyện khiến cho nó gần gụi với người đọc, mang dấu ấn của thời đại mình.
Truyện bắt đầu bằng dòng chữ “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương …” Tăm tiếng, quê quán của đối tượng chính đã được giới thiệu rõ ràng như thế. Chứ ko giống như những đối tượng khác: Chàng họ Trương, ông họ Phan. Thật lạ!. Vũ Thị Thiết là người độc nhất vô nhị trong truyện được nêu đầy đủ họ tên, tính danh để lưu truyền cho hậu thế. Nhưng Vũ Thị Thiết chỉ là 1 người nữ giới phổ biến, thuộc giới nghèo hèn “vốn con kẻ khó”, diện mạo thì ko có gì đặc trưng. Vậy nhưng mà nàng đã là 1 đối tượng lưu truyền nơi hậu thế. Có nhẽ Nguyễn Dữ đã có những nhận thức văn minh về xã hội. Những buộc ràng khuôn pháp đã ko còn cứng cáp trong tâm não ông. Ông ân cần tới đời sống của mọi người chứ ko còn mê mải tìm cảm hứng văn học trong hàng ngũ những người quý phái hay tuyệt sắc mĩ nhân nữa.
Phcửa ải Chính từ quan niệm ấy Nguyễn Dữ đã cho có mặt trên thị trường 1 mẫu người đàn bà lí tưởng, tuy chẳng hề là mĩ nhân những lại tụ hội những đức tính phẩm giá tốt đẹp cần có ở người đàn bà Vũ Thị Thiết! “tâm tính thùy mị nết na lại thêm tư Dung tốt đẹp” Tuy tác giả đã nói rằng 2 nhân tố bên trong và bên ngoài của nàng đều vẹn tòan. Chẳng khác nào Kiều xưa kia. Thế nhưng mà càng vào sâu trong tác phẩm ta mới trông thấy rằng. Chữ dung đã thua chữ tài.
Sau mấy lời giới thiệu trước nhất, thì trong toàn truyện sẽ ko còn những câu nào mô tả vẻ đẹp bên ngoài của nàng ta nữa. Vũ Nương đã chiếm được địa điểm trong lòng chúng ta chẳng hề là do tư dung nhưng mà do phẩm hạnh. Phẩm chất ở đây ko như cô gái hái dâu Ỷ Lan hay đào nương nương diệt giặc miền Tiên Lữ. Phẩm chất Vũ Nương là về gia đình. Diễn ra từ về nhà chồng Vũ Nương luôn tỏ ra là 1 người con dâu hiểu thảo, đảm đang, hay làm, biết tính chồng hay ghen tuông Vũ Nương luôn nỗ lực ko để cho vợ chồng thất hòa, rồi còn lo âu thuốc men và hậu sự tế lễ đầy đủ cho mẹ chồng nữa Vũ Nương đã làm tất cả để gìn giữ, vun đắp cho hạnh phúc của gia đình. Thật là 1 con người điển hình cho công dung ngôn hạnh ở xã hội xưa.
Trong xã hội xưa vai vế người đàn bà trong gia đình thường là thấp hèn nhất. Mẹ chồng kiếm con dâu chỉ cốt để đày đọa, hay kiếm đứa cháu nối dõi tông đường. Cho nên mẹ chồng và con dâu thường thất hòa, ko dễ hòa thuận. Nhưng trong tác phẩm ta lại thấy Vũ Nương được chính người mẹ chồng này tô đậm phẩm chất của mình. Những lời khen này càng trở thành ý nghĩa hơn, có trị giá hơn gấp bội “Chồng con nơi bóng gió chưa biết chết sống thế nào chẳng thể về đền ơn được. Sau này, trời xét lòng thành, ban cho phúc đức, giống dòng tốt tươi, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”
Đúng là như thế. Vũ Nương thật là 1 người con gái tài sắc vẹn tòan. Sống trên đời ko để phụ người nào, luôn đối xử quan tâm với mọi người. Vậy nhưng mà người con gái Nam Xương đấy đã bị phụ. Tai họa bỗng chốc ập tới. Thật đột ngột! Thật mau chóng! Tới khó tin kì dị. Mới ngày nào người con gái đấy còn thổn thức cùng chồng những lời nói tha thiết đẫm lệ: “Nhìn trăng soi thành cũ, lại soạn sửa áo rét gửi người cửa ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tư thương người đất khách!. Dù có thư ngàn hàng cũng ko sợ cánh hồng bay bổng “Mới ngày nào cuộc tiễn biệt đầy vấn vương nhớ nhung” Ngước mắt cảnh vật vẫn như cũ nhưng mà lòng người đã nhuộm mối tình muôn dặm quan sơn!”. Những câu viết ko vượt khỏi ước lệ văn học 1 thuở nhưng mà lại có sức lay chuyển lòng người lạ đời!. Vì những tình cảm đấy rất thành tâm.
Vậy nhưng mà trời đã phụ lòng người chỉ “qua 5 sau” thôi tất cả đều tan tành. Thay cho Trăng, cho Liễu, cho “cánh hồng bay bổng” và mối tình muôn dặm quan sơn chỉ còn là nỗi nghi ngại, những lời nhiếc mắng đánh đập tới thậm tệ. Công sức nuôi con dưỡng mẹ, làm tròn nghĩa vụ con dâu đều đổ xuống sông xuông biển, đến mức “ko còn có thể lại lên núi Vọng Phu nữa” Nhưng đáng buồn thay! Tai họa này chỉ do 1 lí do ko đáng nói!. Do cái bóng!. Vì nhớ chồng, con lại cách biệt cha lâu ngày nên nàng chỉ còn biết nói cái bóng là Cha Đản. Và lòng nàng cũng xem nó là chồng. Thế là nhỏ Đản thơ ngây nên đã tin cái bóng ấy là sự thực. Và cứ lầm tưởng rằng cha mình đêm nào cũng tới mẹ Đản đi cũng đi Mẹ Đản ngôi cũng ngồi. Và lúc qua tai Trương Sinh thì những lời nói hồn nhiên ấy lại biến thành sự thực. Cái bóng thành người. Hại cho đời người con gái tài sắc.
Chắc hẳn trong các tác phẩm văn chương, Có được sự thông minh tài tình tinh sảo như cụ thể về chiếc bóng oan trái này sẽ chỉ đếm trên đầu ngón tay 1 sự song trùng thật huyền ảo thật đáng kinh ngạc. Bóng dần trở thành người. Cái thực lộn lạo pha trộn cái hư, cái giả chấp chới trong cái thật. Không phải là người vợ cũng tha thiết với hạnh phúc của 1 gia đình được đoàn viên, sum vầy Vũ Nương chẳng thể nào nghĩ ra tuồng chơi này. Ai ngờ chính nó đã làm tan tành đời nàng. Khi trỏ cái bóng in trên vách chắc hẳn người thiếu phụ chỉ muốn nguôi đi cảm giác con mình đang sống vắng cha. Nhưng hóa ra chính thành ra nhưng mà nàng đã mất chồng, Đản đã mất mẹ. Nếu truyện được kể thật đúng theo trình tự thời kì thì cụ thể chiếc bóng phải được kể trước lúc Trương Sinh chở về. Nhưng ko ngờ Nguyễn Dữ lại tài giỏi tới tương tự. Đã ém ngẹm lại cái cụ thể giật gân đấy. Rồi bùng nén ra ở 1 địa điểm phù hợp đã gây ra bão giông, khuấy lên sóng gió. Không còn gì để ngăn được cơn bực tức của kẻ có tính hay ghen tuông Trương Sinh khỏi nổ bùng. “Thú vui nghi gia nghi thất, hạnh phúc độc nhất vô nhị, niềm mơ ước độc nhất vô nhị của 1 đời Vũ Nương trong phút giây trở thành hoàn toàn đổ vỡ. Bình đã rơi, trâm đã gãy, liễu đã tàn trước gió, sen đã rũ trong ao, người thiếu phụ chung thủy nhưng mà bạc phận chỉ còn có thể tìm tới cái chết để thổ lộ tấm lòng trong sáng của mình
Nàng đã gieo mình xuống sông Hòang Giang tự sát. Và thiên hạ sẽ lưu truyền thêm 1 tấm thảm kịch về căn số người đàn bà. Tấm thảm kịch về cái đẹp bị chà nát phũ phàng. Tấm thảm kịch này là sự đầu hàng căn số nhưng mà cũng là lời cáo giác thói ghen tuông tuông ích kỉ, sự hàm hồ vũ phu của gã con trai và quy tắc phong kiến khắc nghiệt dung túng cho sự ác nghiệt hủ bại. Nàng đã gặp 1 người chồng tuy là con nhà hào phú song ít học lại đa nghi tới mức ghen tuông tuông mù quáng nên chẳng thể trông thấy sự tuyệt vời trong phẩm hạnh của nàng. Rõ ràng sự khuyết thiếu trong tính cách của đối tượng Trương Sinh đã dồn nàng tới bước đường cùng. Giá như Trương Sinh tĩnh tâm mày mò 1 chút thôi thì tấm thảm kịch chết người kia sẽ chẳng thể xảy ra. Nhưng ấy chỉ là giá như thôi vì Nguyễn Dữ đã đặt dấu chấm than cho mọi sự đã rồi.
7. Phân tích vẻ đẹp của đối tượng Vũ Nương
“Chuyện người con gái Nam Xương” rút trong tác phẩm “Truyền kì mạn lục”, áng văn xuôi viết bằng chữ Hán của Nguyễn Dữ trong thế kỉ 16. 1 tuyệt bút văn học cổ được truyền tụng là “thiên cổ kì bút”. Truyện kể lại môt câu chuyện truyền kì có nhiều nhân tố hoang đường lưu truyền trong dân gian về thảm kịch gia đình ở Nam Xương có dòng sông Hoàng Giang vào cuối thế kỉ 14, đầu thế kỉ 15, 1 thời binh lửa, đầy bất định. Nhân vật Vũ Nương là người con gái bạc phận đáng thương ấy có bao phẩm giá tốt đẹp điển hình cho tiết hạnh của người đàn bà trong xã hội phong kiến ngày xưa.
Tên của nàng là Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xương, thuộc phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam hiện tại. Xuất thân trong 1 gia đình “kẻ khó”, nhưng mà Vũ Nương vừa có sắc đẹp vừa có tiết hạnh: “tính đã thùy mị, nết na, lại thêm có tư dung tốt đẹp”. Nàng là 1 cô gái danh giá nên Trương Sinh, con nhà hào phú “mến vì dung hạnh” đã xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Trong đạo vợ chồng, Vũ Nương là 1 người đàn bà sáng dạ, phúc hậu, biết chồng có tính “đa nghi”, nàng đã “gìn giữ mực thước” ko để xảy ra cảnh vợ chồng phải “thất hòa”, sống giũa thời binh lửa Trương Sinh phải tòng quân đi chinh chiến ở biên cửa ải bóng gió. Buổi tiễn chồng ra trận, Vũ Nương đã rót chén rượu đầy chúc chồng “được 2 chữ bình an”: nàng chẳng mong được đeo ấn phong hầu mặc áo gấm trở về quê cũ… Mong ước của nàng thật bình dị, vì nàng đã coi trọng hạnh phúc gia đình hơn mọi công danh phù phiếm ở đời. Những 5 tháng cách biệt, Vũ Nương nhớ thương chồng khôn cùng kể: “… mỗi lúc thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân mây chẳng thể nào ngăn được”. Tâm cảnh thương nhớ đau khổ đấy của Vũ Nương cũng là tâm cảnh chung của những người chinh phụ trong mọi thời binh lửa bấy lâu:
… “Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong…”
(Chinh phụ ngâm)
Thể hiện tâm cảnh đấy, Nguyễn Dữ vừa thông cảm với nỗi đau buồn của Vũ Nương, vừa truyền tụng tấm lòng chung thủy nhớ thương đợi chờ chồng của nàng. Vũ Nương là 1 đàn bà đảm đang, giàu tình thương. Chồng ra trận mới được 1 tuần thì nàng sinh ra 1 đứa cọn trai đặt tên là Đản. Mẹ chồng già yếu, ốm đau, nàng “cực kỳ thuốc men”, “ngọt ngào khéo léo khuyên nhủ”. Vừa phụng dưỡng mẹ già, vừa chăm nom nuôi dạy con thơ. Khi mẹ chồng nhắm mắt xuôi tay, nàng đã “hết lời thương xót”, việc hậu sự tế lễ được tính liệu, tổ chức rất chăm chút “như đối với thầy u đẻ mình”. Qua ấy, ta thấy trong Vũ Nương cùng hiện ra 3 con người tốt đẹp: nàng dâu hiếu hạnh, người vợ đảm đang chung thủy, người mẹ hiền phúc hậu. Ấy là hình ảnh người đàn bà lí tưởng trong xã hội phong kiến ngày xưa.
Qua 5 sau, “việc quân xong xuôi, Trương Sinh từ miền xa chinh chiến trở về. Thế nhưng mà, Vũ Nương ko được lợi hạnh phúc trong cảnh vợ chồng sum vầy. Chỉ vì chuyện chiếc bóng qua mồm đứa con thơ mới tập nói, nhưng mà Trượng Sinh đinh ninh là vợ hư, đã “máng nhiếc” và “đánh đuổi đi”. Vốn là 1 kẻ vô học lại hàm hồ vũ phu. Trương Sinh đã bỏ ngoài tai mọi lời “bộc bạch” của vợ, mọi sự “biện bạch” của họ hàng xóm làng. Vũ Nương đã bị chồng đẩy vào thảm kịch, bị vu vạ là người vợ “mất nết hư ân”. Vũ Nương phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn để tỏ rõ là người đàn bà “đoan trang giữ tiết, sáng tỏ gìn lòng”, mãi mãi soi tỏ với dời “vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin là cỏ Ngu Mĩ”. Bi kịch Vũ Nương là thảm kịch gia đình từ chuyện chồng con, nhưng mà nguyên cớ sâu xa là do chiến tranh binh lửa đã gây nên. Chỉ 1 thời kì ngắn, sau lúc Vũ Nương tự vẫn, 1 đêm khuya dưới ngọn đèn, chợt đứa con nói rằng: “Cha Đản lại tới kia kìa !”. Khi bấy giờ Trương Sinh “mới giác ngộ thấu nỗi oan của vợ, nhưng mà việc trót đã rồi . Người đọc bấy lâu cũng chỉ biết thở dài, cùng Nguyễn Dữ xót thương cho người con gái Nam Xương và bao đàn bà bạc phận khác trong cõi đời. Vũ Nương tự vẫn, nàng cũng chẳng oán thù chồng con “rày xin chén nước cho người thác oan” (Truyện Kiều).
Phần cuối truyện đậm đặc thuộc tính hoang đường. Nào là Phan Lang nằm mê thấy người con gái áo xanh tới kêu xin tha mạng. Phan Lang được biếu 1 con rùa mai xanh nhưng mà ko giết thịt thịt nhưng mà đem thả con rùa xuống sông. Nào là Phan Lang bị chết trôi, xác giạt vào động rùa ở hải đảo. Linh Phi vợ vua biển Nam Hải lấy khăn dấu nhưng mà lau, thuốc thần nhưng mà đổ. Phan Lang sống lại. Linh Phi mở tiệc ở gác Triêu Dương để chiêu đãi Phan Lang, ân nhân cứu sống mình ngày xưa. Cốt truyện Phan Lang gặp Vũ Nương tại bữa tiệc của Linh Phi. Vũ Nương khóc lúc nghe Phan Lang nhắc lại nhà cửa, phần mộ của tiền nhân. Cốt truyện Vũ Nương gửi Phan Lang chiếc bông tai vàng và dặn chồng lập đàn tràng ở bến Hoàng Giang. Hình ảnh Vũ Nương ngồi kiệu hoa, phía sau có 5 mươi chiếc xe cờ tán võng lọng đặc sắc đầy sông, khi ẩn, khi hiện… là những cụ thể hoang đường, nhưng mà đã tô đậm nỗi đau của người đàn bà bạc phận… an phận hẩm hiu, và có trị giá cáo giác lễ giáo phong kiến vô nhân đạo. Câu nói của ma Vũ Nương giữa dòng sông vọng vào: “Đa tạ tình chàng, thiếp không thể trở về trần gian được nữa” đã khiến cho trị giá nhân đạo của truyện thêm phần bi thiết. Nỗi ơn huệ của Vũ Nương đã được giải oan và xả stress? nhưng mà âm – dương đã đôi đường ngăn cách, nàng không thể quay về trần thế, chẳng bao giờ còn được làm vợ, làm mẹ nữa. Nhỏ Đản mãi mãi là đứa con mồ côi mẹ.
Tóm lại, Vũ Nương là 1 người con gái dung hạnh nhưng mà bạc phận. Nguyễn Dữ đã kể lại cuộc đời oan khổ của nàng với bao tình xót thương thâm thúy. Tuy mang nhân tố hoang đường, nhung áng văn “Chuyện người con gái Nam Xương” giàu trị giá nhân đạo. Nhân vật Vũ Nương là 1 tiêu biểu cho thảm kịch của người đàn bà trong gia đình và xã hội. Người đọc càng thêm xúc động lúc nhớ lại vần thơ của vua Lê Thánh Tông trong bài “Lại bài viếng Vũ Thị”:
… “Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt,
Gicửa ải oan chẳng lọ mấy đàn tràng…”
8. Phân tích đối tượng Vũ Nương cụ thể
“Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương
Miếu người nào như miếu vợ chàng Trương”.
Ngàn 5 trôi qua, làn khói viếng “miếu vợ chàng Trương” vẫn muôn thuở lan tỏa, vương vấn, như tiếc như thương cho căn số đầy thảm kịch của Vũ Nương. Bằng ngòi bút đầy trân trọng trong “Chuyện người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ đã tạc vào lịch sử văn chương Việt Nam hình ảnh 1 người đàn bà thời phong kiến, 1 Vũ Nương, đại diện cho cái đẹp hoàn mỹ. Nhưng đáng tiếc thay, cuộc đời nàng lại chất chứa những trang buồn đầy nước mắt.
Tên nàng là “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương”, đã đẹp người lại đẹp nết. Trương Sinh, chồng nàng, là 1 người thất học lại thêm tính đa nghi. Khi binh cách binh lửa, Trương phải ra trận. 1 tuần sau, nàng sinh đàn ông đầu lòng và 1 mình chăm nom mẹ chồng, lo tang ma lúc mẹ chồng mất. Giặc tan, chàng Trương về, nghe lời trẻ nhỏ nhưng mà nghi ngại lòng chung thủy của vợ. Vũ Nương ko giải oan được nên đành trẫm mình, nhưng mà nàng được Linh Phi ở động Rùa cứu giúp. Sau ấy, nàng gặp Phan Lang, người láng giềng đã cứu Linh Phi, nhờ Phan Lang gửi hộ lời với chàng Trương. Trương Sinh cải hối, lập đàn tẩy oan theo lời Vũ Nương. Nàng hiện lên gặp chồng con rồi lại trở lại động Rùa vì 2 người đã “âm dương đôi đường”. Nhưng hình ảnh Vũ Nương ko ngừng lại ở ấy nhưng mà còn mãi vương vấn trong lòng người đọc bởi nét đẹp hoàn mỹ cũng như căn số oan khúc và cái chết đầy bi thương của nàng.
Vũ Nương chính là đại diện cho vẻ đẹp truyền thống của người đàn bà Việt Nam dưới cơ chế phong kiến. Không như Nguyễn Du mô tả thật tinh tế nét đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” của Thúy Kiều, Nguyễn Dữ chỉ điểm qua nhẹ nét đẹp của Vũ Nương: “tư dung tốt đẹp”. Nhưng chỉ bằng 1 cụ thể bé đấy, tác giả đã phần nào khắc họa được hình ảnh 1 cô gái có sắc đẹp dễ nhìn. Cũng bởi “mến vì dung hạnh” nên chàng Trương đã lấy nàng làm vợ. Nhưng chữ “dung” đấy, vẻ đẹp bề ngoài đấy, không thể nào rạng ngời nghìn đời như vẻ đẹp tâm hồn nàng. Vũ Nương “vốn con kẻ khó”, song rất đỗi làm theo “tam tòng tứ đức”, giữ trọn lề lối gia phong và phẩm hạnh của chính mình. Thế nên, nàng rất “thùy mị, nết na”. Trong gia đình chồng, nàng luôn “gìn giữ mực thước, ko để khi nào vợ chồng phải tới thất hòa”. Thế là, “hạnh”, 1 trong những tiêu chuẩn bình chọn con người, nàng đã vẹn tròn. Lễ nghĩa, nàng cũng thông hiểu, am hiểu. Tuy chẳng hề tiểu thư khuê các, con nhà cao sang nhưng mà lời nàng nói ra dịu dàng như vàng như ngọc.
Ngày tiễn chồng ra trận, nàng đã dặn rằng: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được 2 chữ bình an, thế là đủ rồi”. Từng lời, từng chữ nàng thốt ra thấm đẫm nghĩa tình vợ chồng chung thủy, son sắt, khiến “mọi người đều ứa 2 hàng lệ”. Phận làm vợ, người nào chẳng mong trượng phu mình được phong chức tước, áo gấm về làng. Còn nàng thì ko. Nàng chỉ ao ước giản dị rằng chàng Trương trở về được bình an để có thể sum vầy, sum vầy gia đình, hạnh phúc đầm ấm như ngày nào. Nhưng mơ ước của nàng đã ko tiến hành được. Bị chồng 1 mực nghi oan, Vũ Nương tìm mọi lời lẽ để chứng minh sự trong lành của mình. Nàng vẫn đoan trang, đúng đắn, chỉ nhẹ nhõm giảng giải: “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia li vì động việc lửa binh.
Xa cách 3 5 gìn giữ 1 tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng. Ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Xin chàng đừng 1 mực nghi oan cho thiếp”. Lời nói của nàng luôn từ tốn, nhẹ nhõm, ko quá hoa mỹ nhưng mà chất chứa tình nghĩa. Chỉ qua những lời thoại, từ “ngôn” của Vũ Nương đã để lại 1 ấn tượng khó phai trong lòng người đọc bởi vẻ từ tốn, tế nhì của nàng. Và cũng từ những câu nói đấy, chúng ta cảm thu được sự hy sinh vô biên của nàng vì chồng con, gia đình. Khi chồng ra trận, cả nước nhà nhà chồng nặng trĩu trên đôi vai gầy đét, mong manh của nàng. Nàng phải sinh con 1 mình giữa nỗi độc thân lạnh lẽo, thiếu sự vỗ về, xoa dịu của người chồng. Thật là 1 thách thức quá gian khổ với 1 người đàn bà chân yếu tay mềm. Nhưng nàng vẫn vượt qua tất cả, 1 mình vò võ nuôi con khôn mập, đợi chồng về. Không những thế, nàng còn hết dạ chăm lo cho mẹ chồng ốm nặng: “Nàng cực kỳ thuốc men, lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khéo léo khuyên nhủ”. Thời xưa, quan hệ mẹ chồng – nàng dâu hình như chưa bao giờ êm đẹp và chứa đầy những thành kiến khe khắt.
“Mẹ anh nghiệt lắm anh ơi
Biết rằng có được ở đời với nhau
Hay là vào trước ra sau
Cho cực lòng thiếp, cho đau lòng chàng”.
Nhưng nàng đã mến thương mẹ chồng như chính thầy u ruột của mình. Mọi việc trong nhà đều được nàng chăm lo chu tất. Và lời trăn trối rốt cuộc của mẹ chồng như 1 lời nhận xét, bình chọn, 1 phần thưởng xứng đáng với những công sức và sự hy sinh cao cả của nàng vì gia đình nhà chồng: “Xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Tác giả đã 1 lần nữa nhắc lại: “Nàng hết lời thương xót, phàm việc hậu sự tế lễ, tính liệu như với thầy u đẻ mình”, như tô đậm tình mến thương của nàng đối với mẹ chồng. Vũ Nương là 1 nàng dâu đảm đang, thảo hiền trong mắt tất cả mọi người. Vậy là cả “công – dung – ngôn – hạnh” nàng đều toàn vẹn. Nàng chính là đỉnh cao của sự hoàn mỹ về cả vẻ đẹp bề ngoài lẫn tâm hồn của người đàn bà Việt Nam xưa dưới cơ chế phong kiến. Song, căn số chẳng phải mỉm cười với nàng.
Cuộc đời Vũ Nương điển hình cho căn số oan nghiệt của người đàn bà Việt Nam dưới cơ chế phong kiến. Nàng gặp bao xấu số trên đường đời. Chiến tranh ác liệt đã khiến bao gia đình li tán. Trước cảnh quốc gia binh cách binh lửa, Trương Sinh phải đi lính, uỷ thác cả nước nhà nhà chồng trên đôi vai bé bỏng của người thiếu phụ.Tất cả mọi việc trong nhà đều trông cậy vào nàng. “Khi xa chồng vừa đầy tuần thì sinh ra 1 đứa đàn ông, đặt tên là Đản”. Thiếu vắng sự ân cần, chăm bẵm của người chồng, song nàng vẫn cưu mang, dạy bảo con thơ khôn mập, trưởng thành. Vừa 1 mình chăm nom, thuốc men cho mẹ chồng, Vũ Nương vừa sinh đàn ông, lại lặng thầm, tảo tần nuôi con và cũng 1 mình lo hậu sự, an táng mẹ chồng chăm chút. Từng ngày từng ngày trôi, bấy giờ, trên đôi vai bé bỏng của nàng gian khổ lại chồng chất gian khổ. Rồi chiến tranh cũng qua, cứ ngỡ Vũ Nương lại được sum vầy gia đình, đoàn tụ cùng chàng Trương, được sống trong hạnh phúc đôi lứa nhưng mà nàng hằng ước ao.
Nàng đâu biết rằng thảm kịch cuộc đời nàng sắp mở màn. Những ngày xa chồng, nàng đã lặng thầm nuôi con, và nàng xót xa biết bao lúc nhìn cảnh con thơ thiếu vắng sự chăm nom, mến thương của người cha.Thế là nàng đã chỉ bóng mình trên tường nhưng mà bảo với con rằng đấy chính là cha Đản. Hành động đấy chẳng hề vì nàng quá nhớ thương chồng nhưng mà xuất hành từ tấm lòng mến thương con vô biên của 1 người mẹ. Nhưng nàng sẽ chẳng bao giờ ngờ được rằng nàng chết chính bởi cái bóng của chính mình. Ngày Trương Sinh về, nghe lời con thơ ấu nhưng mà hàm oan vợ: “Trước đây có người con trai đêm nào cũng tới. Mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng mà chẳng bao giờ bế Đản cả”. Trương Sinh vốn là tên thất học, lại thêm “tính đa nghi, đối với vợ phòng phòng ngừa quá sức”. Lời nói thơ ngây của nhỏ Đản chứa đầy những cụ thể đáng ngờ, như đổ thêm dầu vào lửa.
Tính đa nghi của Trương Sinh đã dâng lên tới cao trào và 1 mực “đinh ninh là vợ hư”. Chàng ko còn đủ tĩnh tâm để suy đoán, phân tách, bỏ ngoài tai những lời phân bua của vợ, ko tin cả những nhân chứng bênh vực cho nàng, cũng nhất thiết ko nói ra nguyên nhân để nàng có dịp giải oan. Và Trương Sinh thoáng chốc hóa 1 kẻ vũ phu, thô bạo, “nhiếc mắng nàng và đánh đuổi đi”. Vượt qua được mọi gian khó, khó nhọc trong chiến tranh để vẹn tròn phận dâu thảo hiền nhưng mà Vũ Nương chẳng thể vượt qua nổi bức tường của cơ chế nam quyền độc đoán, bất công, hung ác. Lời nói của nàng đầy thương tâm: “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu”. Ngay từ đầu, cuộc hôn nhân giữa nàng và chàng Trương đã có phần ko đồng đẳng và mang thuộc tính 1 cuộc thảo luận, sắm bán: Trương Sinh “xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về”. Điều đấy khiến chúng ta động lòng nhớ tới hoàn cảnh 1 Thúy Kiều lúc phải bán mình chuộc cha:
“Cò kè bớt 1 thêm 2
Giờ lâu ăn giá vàng ngoài 4 trăm”.
Sự cách bức về địa vị xã hội như thế đã tạo cho Trương Sinh 1 cái thế kế bên những quyền uy vốn có của người chồng, người con trai trong gia đình gia trưởng phong kiến. Chính cái gia đình “chồng chúa vợ tôi”, “phu xướng phụ tùy” đấy đã khiến nàng bị khi dể, đối xử bạc nghĩa. 1 người vợ vốn tiết hạnh, ngoan hiền, vâng theo cả “tam tòng tứ đức” lại phải mang tai mang tiếng xấu “hư thân mất nết”. Mọi lời nhiếc mắng của Trương Sinh như giày đạp lên phẩm chất cao đẹp nhưng mà nàng đã giữ gìn cả 1 đời. Khi xa chồng, Vũ Nương là người vợ chung thủy, yêu chồng khẩn thiết, nỗi buồn nhớ cứ dài theo những “bướm lượn đầy vườn”, “mây che kín núi”. Thế nhưng mà lúc vừa mới sum vầy hạnh phúc, nàng lại bị gán cho tội danh: “lừa chồng dối con”. Thật đớn đau, thật tủi hổ! Bi kịch của cuộc đời Vũ Nương chính từ lễ giáo bất công và cơ chế nam quyền. Người con trai với những quyền bính về căn số, cuộc đời người đàn bà đã đẩy Vũ Nương vào đường cùng ko lối thoát.
Cái chết oan khúc, xót xa của Vũ Nương, người nào có thể ngờ người gây ra bi kịch đấy chính là chồng và con nàng, những người nhà nhưng mà nàng rất mực mến thương, chăm nom. Nàng, 1 người con gái luôn khát khao hạnh phúc dù chỉ bé nhoi, bình dị nhưng mà cho tới lúc trẫm mình xuống sông thì cuộc đời nàng đúng là 1 chuỗi dài những thảm kịch. Hạnh phúc đâu quá xa vời nhưng mà xã hội phong kiến đấy ko cho nàng chạm tay tới hưởng thụ “niềm vui nghi gia nghi thất” 1 lần độc nhất vô nhị trong đời. Nỗi oan của nàng thấu cả trời xanh. Ngày xưa, Quan Âm Thị Kính mắc oan giết thịt chồng bởi “tình ngay lý gian”. Nhưng nàng Thị Kính cũng còn hiểu ra nỗi oan khúc của mình từ đâu nhưng mà thành. Còn lúc đã chìm sâu dưới dòng nước, Vũ Nương vẫn không phải biết rằng mình phải chết vì đâu. Bi kịch của Vũ Nương là 1 lời cáo giác xã hội phong kiến xem trọng uy quyền của kẻ giàu và của người con trai trong gia đình, cùng lúc bộc bạch niềm thương cảm đối với căn số oan trái của người đàn bà. Người đàn bà tiết hạnh chẳng những ko được bênh vực, chở che nhưng mà còn bị đối xử 1 cách bất công, vô lý; chỉ vì lời nói thơ ngây của đứa trẻ mồm còn hôi sữa và vì sự hàm hồ, vũ phu của anh chồng ghen tuông tuông nhưng mà tới nỗi phải kết liễu cuộc đời mình. Phcửa ải chăng đằng sau nỗi oan của nàng còn bao lăm nỗi oan của những người đàn bà khác trong cơ chế phong kiến bị rẻ rúng, suốt đời sống trong câm lặng.
Xót thương trước nỗi đau buồn vì bị giày đạp của những người đàn bà, Nguyễn Dữ như muốn giải oan và bù đắp cho những đức tính tốt đẹp của nàng bằng 1 cuộc sống khác với trần thế. Nhưng ở chốn “làng mây cung nước”, Vũ Nương không thể nào nguôi nỗi nhớ về những oan ức, bĩ cực ở cõi tục. Sống giữa cõi tiên ảo huyền, đẹp diệu kỳ nhưng mà nàng hình như ko bao giờ dứt nghĩa tình gia đình, mãi khóc thương cảnh gia đình tiêu điều xác xơ. Nàng xin lập đàn tẩy oan, khát khao được trả lại danh dự của 1 người con gái tiết hạnh. Và rốt cuộc, nỗi oan của nàng đã được giải. Từ chốn thủy cung, Vũ Nương “ngồi trên 1 chiếc kiệu hoa đứng giữa dòng, theo sau có tới 5 mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, đặc sắc sắc màu, khi ẩn, khi hiện”. Nhưng xót xa thay, nàng “không thể trở về trần gian được nữa”. Nỗi oan tình của nàng đã được giải oan, xả stress nhưng mà âm dương đôi đường ngăn cách, nàng chẳng bao giờ được làm vợ, làm mẹ chốn cõi tục. Nhỏ Đản mãi mãi là 1 đứa nhỏ mồ côi mẹ. Nếu nàng được trở về với cõi tục thì liệu xã hội phong kiến bất công ko có nơi dành cho cái đẹp này có dành cho nàng 1 cuộc sống đầm ấm, bình an, hay 1 lần nữa, nàng phải đớn đau, buồn khổ. Dù trở lại chốn tiên giới dễ nhìn, nhưng mà rốt cuộc, ước mong cả đời của nàng, hạnh phúc “nghi gia nghi thất”, chỉ mãi là ước mong hảo huyền.
Hình tượng đối tượng Vũ Nương là hiện thân của lòng vị tha và vẻ đẹp người đàn bà. Song cuộc đời nàng gặp nỗi thảm kịch mập. Đó chính là tấn thảm kịch của người đàn bà Việt Nam trong cơ chế phong kiến gian ác, cơ chế của sự lỗi thời và cả bóng đêm vĩnh cửu. Điều ấy khiến chúng ta phải động lòng trước căn số của người đàn bà.
“Đớn đau thay phận nữ giới
Lời rằng bạc phận cũng là lời chung”
Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu dụng khác trên phân mục Văn chương – Tài liệu của Vik News VN.

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Top #bài #phân #tích #nhân #vật #Vũ #Nương #siêu #hay


#Top #bài #phân #tích #nhân #vật #Vũ #Nương #siêu #hay

Vik News

Vik News

Viknews Việt Nam chuyên chia sẻ những kiến thức hữu ích về hôn nhân – gia đình, làm đẹp, kinh nghiệm làm mẹ, chăm sóc dinh dưỡng khi mang thai kỳ, trước sau sinh, son môi , sữa ong chúa, nhà cửa nội thất (cửa gỗ, đèn chùm trang trí, bàn ăn, tủ bếp..)……

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button