Giáo Dục

Văn mẫu lớp 9: Tưởng tượng gặp gỡ và trò chuyện với ông Hai trong truyện Làng

Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai trong truyện Làng mang đến 2 dàn ý cụ thể, cùng 6 bài văn mẫu, giúp các em học trò lớp 9 tham khảo, thu thập vốn từ để hoàn thiện bài viết của mình hay hơn.

Trong truyện ngắn Làng, chúng ta bắt gặp hình ảnh ông Hai với tình yêu quê hương, yêu tổ quốc hết sức mãnh liệt. Hãy thử hình dung mình được gặp mặt, chuyện trò với đối tượng ông Hai thì sẽ như thế nào nhỉ? Mời các em cùng theo dõi bài viết dưới đây của Vik News:

Dàn ý hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai

Dàn ý 1

1. Mở bài: Tạo lập cảnh huống gặp mặt giữa bản thân với ông Hai. Thời điểm, thời kì, dẫn dắt cân đối.

2. Thân bài:

  • Nói được cảnh ngộ khiến đối tượng ông Hai phải sơ tán. Kể về niềm tự hào, kiêu hãnh, nỗi nhớ quê hương da diết và sự ân cần đến kháng chiến của đối tượng ông Hai
  • Nêu diễn biến tâm lý đối tượng ông Hai lúc nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, thấy được tình yêu làng quê hòa quyện với tình yêu tổ quốc, Non sông
  • Từ sự sững sờ, bàng hoàng, đến cảm giác mắc cỡ, lo âu, buồn, chán nản
  • Sự tuyệt vọng, thất vọng của ông Hai, sự chiến đấu nội tâm gay gắt giữa việc tuyển lựa làng, hay tuyển lựa kháng chiến, giữa đi nơi khác hay trở về làng.
  • Lời hàn ôn của ông Hai với đứa con trình bày tấm lòng chung tình, son sắc của ông Hai với cách mệnh và kháng chiến, tình yêu nước, yêu Tổ Quốc bao la bao trùm lên tình yêu quê hương của ông Hai

3. Kết bài

  • Ấn tượng, xúc cảm của em sau cuộc chuyện trò ấy.

Dàn ý 2

I. Mở bài:

– Tạo cảnh huống gặp mặt với ông Hai. Nêu về thời kì, ko gian, vị trí, đối tượng 1 cách có lí, thu hút.

II. Thân bài:

– Đề cập cảnh ngộ khiến ông Hai cùng gia đình phải đi sơ tán; Kể về niềm hãnh diện, kiêu hãnh, nỗi nhớ quê hương da diết và sự ân cần tới cuộc kháng chiến của ông Hai lúc ông ở nơi sơ tán.

– Nêu diễn biến tâm cảnh của ông Hai lúc nghe tin làng Chợ Dầu có người theo giặc làm Việt gian, từ ấy thấy rõ tình yêu làng thâm thúy hòa quyện hợp nhất với tình yêu nước, yêu Tổ Quốc, yêu cách mệnh của ông Hai:

– Từ sự sững sờ, bàng hoàng lúc mới nghe tin đấy tới cảm giác mắc cỡ, lo âu, buồn chán, chán nản rồi nó biến thành 1 nỗi ám ảnh thường xuyên nặng nề khiến ông Hai hết sức đớn đau, khổ sở.

– Sau ấy là tình thế tuyệt vọng, thất vọng của ông lúc ông và gia đình bị đuổi đi, sự chiến đấu nội tâm của ông giữa đi nơi khác hay trở về làng chợ Dầu khiến ông phải đau đầu. Nhưng ông nỗ lực ko trở về làng, vì trở về là chống lại cách mệnh, chống lại Cụ Hồ. Qua ấy thấy rõ được tình yêu nước, yêu Tổ Quốc bao la, bao trùm lên tình yêu quê hương của ông Hai.

– Lời hàn ôn của ông Hai với đứa đàn ông út trình bày tấm lòng chung thủy, son sắc của ông với cách mệnh, với kháng chiến.

– Kể về tâm cảnh vui sướng, vô bến bờ của ông Hai lúc tin làng theo giặc được đính chính.

III. Kết bài:

– Ấn tượng, xúc cảm và nghĩ suy của bản thân em sau cuộc chuyện trò đấy.

Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai – Mẫu 1

Nếu người nào đã đọc và mày mò những tác phẩm truyện của Kim Lân, chắc hẳn mọi người sẽ biết tới tôi. Tôi chính là đối tượng ông Hai trong trong tác phẩm ấy. Bữa nay tôi ở đây sẽ kể lại cho mọi người nghe tất cả diễn biến tâm cảnh và nghĩ suy của mình. Tôi biết Kim Lân đã làm việc này thay tôi rất tuyệt vời, mà tôi vẫn muốn kể lại cho mọi người nghe. Tôi là 1 con người có lòng yêu quê hương thiết tha. Quê hương với tôi đúng là chùm khế ngọt, và với tôi quê hương cũng chỉ có 1 nhưng mà thôi. Tôi yêu ngôi làng bé của mình, yêu con người nơi đây 1 cách bất tận. Với tôi, luôn có 1 niềm tin yêu thâm thúy vào làng chợ Dầu, về con người nơi tôi sinh ra và béo lên. Truyện sẽ chẳng có gì cho đến lúc tôi nghe tin làng tôi theo giặc. Khi bấy giờ tâm cảnh tôi như chẳng thể kiểm soát, có cái gì mắc cứng ở cổ họng, da mặt tê rân rân,… Không phải đợi lâu nữa, ngay sau đây tôi sẽ kể hết cho mọi người nghe toàn thể sự việc.

Ngày đấy, nghe theo Đảng, nghe theo cơ chế của Cụ Hồ. Gia đình tôi cùng bao gia đình ở làng chợ Dầu phải sơ tán để tránh đòn tấn công của kẻ thù, giảm thiểu tối đa thiệt hại về người và của nả. Bao nhiêu 5 sống và đấu tranh trên mảnh đất quê mình. Tới cả nhắm mắt nhắm mũi tôi cũng biết được ở đâu có có khúc sông, có giếng làng. Phcửa ải xa quê, ko ở lại cùng anh em đấu tranh bảo vệ làng làm tôi cũng buồn khó tả. Tôi cũng muốn ở lại với anh em, với các chú quân nhân, đào ấp, xây hầm, quyết chết sống với thằng Tây mũi lõ, dám cướp làng, cướp nước ta. Nhưng vì cảnh ngộ gia đình, mẹ nó và cả đàn con leo nhóc, tôi chẳng thể bỏ chúng được,tôi đành đi. Nhưng tôi luôn có niềm tin dân làng mình sẽ đấu tranh tới cùng để bảo vệ từng tấc đất cho quê hương. Tôi kiêu hãnh về làng mình lắm. Nói không hề khoe chứ làng tôi có nhiều cái hay lắm, nhưng mà tôi muốn cho mọi người biết. Tôi nói nhiều tới nỗi cụ Thứ còn biết hết, nhớ hết những điều tôi nói. Làng tôi, mọi người có biết ko, có cái phòng thông tin truyền thông lạc quan nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy. Làng tôi nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh. Với tôi làng tôi luôn hấp dẫn nhất, tôi kiêu hãnh về mọi thứ ở làng tôi có. Tôi luôn nói cho mọi người biết làng tôi đẹp, người dân thực thà chân chất, yêu lao động, yêu hòa bình, ghét cái bọn Tây cướp nước như thế nào, dù ko súng, ko đạn, chỉ cần cuốc, xẻng, gậy gộc, hay tay ko chúng tôi cũng đánh.

Mọi thứ vẫn diễn ra, kháng chiến vẫn đang trường kì. Tôi mong chờ 1 ngày bọn Tây nó chết hết đi, dám cướp nước, cướp làng ta, làm bao kiếp khổ. Buổi trưa hôm đấy, tôi ở nhà 1 mình, con nhỏ béo thì gánh hàng cho mẹ nó ngoài chợ bán. Còn 2 đứa bé, tôi cho nó ra vườn chơi, vừa trông bọn gà ko cho chúng phá rau. Tôi thì từ sáng đến giờ vỡ được mấy luống đất rồi, đang tính là trồng thêm mấy luống rau. Nhà mỗi người 1 việc, việc béo thì người béo làm, việc bé thì người bé làm. Đang mệt nằm giường nghỉ 1 lát, thế nào tôi lại nghĩ tới làng mình. Nghĩ đến làng, tôi vui lắm, như trẻ ra vậy. Tôi lại lẩm bẩm mấy câu hát ngày xưa, sao nhưng mà nhớ làng tới lạ. Muốn về với anh em đồng cam cộng khổ loạn đả với bọ Tây cướp nước. Ngày trước tôi có muốn đi đâu, nhưng mà bà nó giục quá, cứ bảo con nhỏ tuổi, tôi ko đi thì mẹ con chúng biết chông cậy vào người nào, thế là thương nhân đình tôi đi sơ tán, chứ có 1 mình, tôi quyết ko bao giờ bỏ làng nhưng mà đi. Nghĩ linh tinh, tôi đứng dậy ra khỏi nhà. Ghét cái bọn Tây, tôi chửi đổng.

– Nắng thế này bỏ mẹ chúng nó.

Người đi đường thấy tôi nói vậy quay lại hỏi

– Bọn nó nào?

Tôi chỉ tay về chỗ có tiếng súng

– Tây chứ còn bọn nào nữa. Ngồi trong địa điểm giờ bằng ngồi tù.

Rồi tôi lại đi tiếp, hôm nào cũng vậy, tôi lại ra phòng thông tin nghe tin tức. Tuy tôi ko biết mặt chữ in mà cũng muốn ra nghe tin tức kháng chiến lắm. Chả phải hóng hớt mà tôi thích nghe tin bữa nay mình đánh được bao lăm thằng, thắng ở đâu, như thế làm tôi vui lắm. Ra đây nghe tin tức, tôi ghét là ghét mấy anh cậy chữ đọc thầm, chẳng cho người nào nghe với. May sao bữa nay có anh độc giả mập cho mọi người cùng nghe. Cao ôi bao lăm là tin tức hay, có tìm 1 em bé trong ban truyền tin can đảm cắm lá cờ quốc kì lên nóc hồ gươm. Tuổi bé nhưng mà can đảm vậy ấy. 1 anh đội trưởng sau lúc giết thịt 7 tên giặc đã tự vẫn bằng 1 quả lựu đạn rốt cuộc. Cứ cái đà này, thì kháng chiến rồi cũng chấm dứt thôi, bọn Tây cũng phải đầu hàng.

Rời khỏi phòng thông tin, tôi ra gốc đa xù xì nơi mọi người hay ngồi nghỉ, làm điếu thuốc lào, uống ngụm nước chè tươi hot. Bao nghĩ suy vui mưng cứ múa lên trong đầu tôi. Thđấy mấy ông bà từ dưới lên. Thì ra là mấy ông bà từ gia lâm lên, cũng hỏi chuyện thóc lúa đồng áng xem như thế nào. Mấy bữa nay thấy súng bắn nhiều, tôi hỏi

– Này bác có biết mấy bữa nay súng bắn ở đâu nhưng mà rát thế.

– Nó rú từ Bắc Ninh qua chợ Dầu khủng bố ông ạ. 1 người phụ nữ đang cho con bú nói sang

Thđấy tin quê mình bị địch bắn, tôi vừa lo, vừa sợ, lắp bắp hỏi:

– Nó…nó vào chợ Dầu hả bác? Thế giết thịt được bao lăm người

– Có giết thịt được thằng nào đâu. Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây.

Như sét đánh ngang tai, cổ họng tôi nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân. Tôi tưởng như nghẹt thở. Tôi lắp bắp mãi mới hỏi lại được

– Có thật ko hay chỉ là…

– Thì chúng tôi từ đây lên. Việt gian từ thằng chủ tịch đi ông ạ. Tây nó vào chúng nó bảo nhau vác cờ thần ra hô. Thằng chánh Bệu khuân cả tủ chè, đỉnh đồng, vải vóc vác lên cam nhông, đưa cả vợ con lên địa điểm giặc nhưng mà ngồi nhưng mà.

Bầu trời như tối đi ngay trước mắt, tôi đứng dậy thanh toán nước đi về. Bao nghĩ suy cứ nhảy múa trong đầu tôi. Hai chữ việt gian nhưng mà người phụ nữ nói nó vẫn vong vỏng bên tai tôi. Đằng sau có tiếng chửi làng, tim tôi như quặn lại. Về nhà lũ trẻ thấy tôi khắc, chúng chả dám hỏi, nhìn chúng tôi lại thương. Nó là con nhà Việt gian sao, chúng nó sẽ bị mọi người xa lánh sao. Tôi nắm chặt 2 tay nhưng mà rít lên.

– Chúng mày ăn miếng cơm hay miếng gì vào miệng nhưng mà đi làm Việt gian bán nước điếm nhục thế này.

Chiều hôm đấy, bà nó đi chợ về, thấy nét mặt khác, là tôi biết lại vì cái tin đồn làng tôi theo Tây rồi. Từ khi biết tin, tôi chẳng dám ra ngoài, tôi buồn và mắc cỡ tại sao dân làng mình lại làm tương tự. Không khí trong nhà tôi như năng lề hơn bao giờ hết. Bà nó đêm ấy quay sang bảo tôi hay về làng, tôi bực lắm gắt.

– Không về làm gì cái làng đấy nữa, chúng nó theo Tây cả rồi, về làng tức bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ. Về làm tức chịu làm bầy tớ cho Tây.

Yêu làng bao lăm giờ nghe tin làng theo giặc tôi buồn bấy nhiêu. Chẳng biết hàn ôn cùng người nào, quay ra ôm thằng út vào lòng. Thằng nhỏ bạo dạn dơ tay bảo .

– Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn 5.

Nó làm tôi vui hơn, tôi tin vào con người làng mình hơn. Rồi khoảng khi đấy chắc 3h chiều, có 1 anh bạn tôi cũng ở làng chợ Dầu qua nhà, tôi quyết định phải đồng hành anh về quê xem tình hình thế nào. Và mọi thứ được minh bạch, tôi vui tươi rạng rỡ hẳn lên, khác hẳn với mấy ngày hôm trước. Tôi còn sắm cho bọn trẻ nhà tôi í kẹo bánh cơ. Tôi vui lắm, đi khoe khắp làng.

– Bác Thứ đâu rồi? Bác Thứ làm gì ấy? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ, đốt nhẵn, ông chủ tịch chỗ tôi mới lên cải chính, ông đấy cho biết, cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng tôi theo Tây, láo, quá láo.

Tôi đi khoe hết bà con lối xóm, khoe nhà tôi bị đốt, nhà bị đốt nhưng mà tôi vẫn vui, tôi vui vì làng tôi trong lành, mọi người ko người nào làm việc gian. Mọi người khó nhưng mà hiểu lòng tôi, thế nhưng mà tới tài ông Kim Lân ông ý biết.

Ấy, chuyện là như thế, tôi yêu làng mình và sẽ mãi tin cậy mọi người trong làng tôi. Cũng phải cảm ơn cái ông nhà văn Kim Lân đã viết được tác phẩm làng hay như thế, để tôi bữa nay được kể lại cho mọi người nghe.

Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông 2 – Mẫu 2

Quê hương là gì hở mẹ
Nhưng mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều.

Chúng ta người nào cũng có quê hương, nơi chôn rau cắt rốn, nơi nuôi dưỡng những tâm hồn thơ nhỏ, nơi nhưng mà dù đi xa đến đâu ta đều hướng về. Riêng tôi ấy là cái làng chợ Dầu đầy nhớ thương. Mọi người thắc mắc tôi là người nào ư? Tôi chính là ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân.

Ôi cái làng chợ Dầu của tôi! Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh làng tôi có cái phòng thông tin rộng nhất vùng, cái chòi phát thanh cao tít bằng ngọn tre, chiều chiều tiếng loa gọi văng vẳng khắp cả 1 khoảng trời, ko người nào là ko nghe thấy. Rồi nhà ngói san sát nhau, sầm uất như tỉnh. Đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió thả phanh đi khắp đầu làng cuối xóm, bùn ko dính tới gót chân. Tháng 5 ngày mười phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng, ko có lấy 1 hạt thóc đất. Chẳng là tôi kiêu hãnh về cái làng của tôi lắm các bác ạ. Tôi vẫn có tính hay khoe làng như thế lâu nay. Thế nhưng mà chỉ vì cái bọn giặc đáng khinh kia nhưng mà làng chợ Dầu bị hủy hoại, dân trong làng thì phải đi sơ tán hết.

Hiện giờ khoe làng, tôi khoe khác. Tôi khoe những ngày khởi nghĩa dập dồn ở làng, nhưng mà tôi gia nhập phong trào từ thời đoạn còn bóng tối. Những buổi tập quân sự. Cả giới phụ lão có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập 1 2. Mỗi lần hô động tác, anh đào tạo viên lại phải đệm tiếng ạ… thườn thượt đằng sau: “Nghiêm ạ!… Nghỉ ạ!… Vác súng lên vai ạ!…”. Nhất là những hố, những ụ, những giao thông hào của làng tôi thì làm mướn trình ko để đâu hết. Ba chìm 7 nổi mười mấy 5 trời mới lại được trở về quê hương bản quán.

Thực tình tôi ko muốn sơ tán lên trên này 1 chút nào. Nhưng bà Hai nhà tôi cứ khóc lóc, bà nài nỉ bắt tôi phải đi, bà bảo:

-Thế ông định bỏ mẹ con tôi chết đói à? Ông phải lên coi ngó chúng nó cho tôi xoay xỏa chứ. Rồi bà khẩn khoản nói với mọi người, khẩn khoản với đồng đội thôn đội trưởng, mọi người đồng ý để tôi đi, tôi đành phải nghe theo.

Những ngày đầu ở trên này công tác ko có, trong người tôi khi nào cũng bực bõ, ko yên. Cũng tới khổ bà nhà tôi các bác ạ. Tôi quay sang cáu gắt mẹ con nhà bà đấy. Nhưng tôi nghĩ mình sinh sống ở cái làng này từ tấm nhỏ tới bây giờ. Cha ông cụ kỵ mình xưa kia cũng sinh sống ở cái làng này đã từ bao lăm đời nay rồi. Hiện giờ gặp phải cái khi hữu sự như thế này mình lại đâm đầu bỏ đi còn ra thế nào nữa. Công tác là công tác chung chứ của riêng mình người nào?

Mỗi lần tôi bước chân ra khỏi cái gian nhà tối thấp bộn bề những bồ, bị, nồi, niêu, và những dây áo quần ẩm sì đấy là tôi nhẹ nhàng, tươi tắn hẳn lên. Sao nhưng mà tôi sợ cái gian nhà đấy thế! Nhất là những buổi trưa im ắng, oi ả, có tiếng mụ chủ nhà nói léo nhéo ở bên ngoài, thì tôi ko sao chịu được. Tôi phải đi cho nó khuất. Tôi chưa thấy người phụ nữ nào tham lam, tinh khôn như mụ ta. Người thì còm cõi như thanh củi khô. Cái mồm mỏng lèo lèo, nói cứ liến đi, nhưng mà chúa thần là gian. Không vào nhà thì thôi, động vào nhà là nhòm.

Ngay từ dạo mới lên, tôi đã bực mình với mụ đấy lắm rồi. Nghe xóm giềng ở đây người ta nói, tôi biết mụ không hề là người đứng đắn.

Buổi trưa hôm đấy tôi ở nhà 1 mình. Con nhỏ béo gánh hàng ra quán cho mẹ chưa thấy về. Hai đứa nhỏ thì tôi bắt chúng nó ra vườn trồng mấy luống rau mới cấy lại chẳng gà vặt hết. Tôi hì hục vỡ 1 vạt đất rậm, ngoài bờ suối từ sáng tới bây giờ, tôi tính để trồng thêm vài trăm gốc sắn ăn vào những tháng đói sang 5. Tới lúc mỏi nhừ tôi vào nhà nằm vật lên giường vắt tay lên trán nghĩ ngợi vẩn vơ. Tôi lại nghĩ về cái làng của tôi, lại nghĩ tới những ngày cùng làm với anh em. A, sao nhưng mà độ đấy vui thế. Tôi thấy mình như trẻ ra. Cũng hát hỏng, bông phèng, cũng đào, cũng cuốc đê mê suốt ngày. Trong lòng Tôi lại thấy nô nức hẳn lên. Tôi lại muốn về làng, lại muốn được cùng anh em đào đường đắp ụ, xẻ hào, khuân đá… Không biết cái chòi gác ở đầu làng đã dựng xong chưa? Những đường hầm bí ẩn chắc là còn khướt lắm. Chao ôi! Tôi lão nhớ làng, nhớ cái làng quá. Bên ngoài, ánh nắng rọi xuống mặt sân sáng lóa, có mấy tiếng gà trưa cất lên eo óc. Gian nhà càng như lịm đi, mờ mờ hơi đất. Giờ này là mụ chủ sắp đi làm ruộng về đây. Tôi lại sắp phải nằm trong này nhưng mà nghe mụ chửi con mắng cái, kêu vại nước chóng cạn, cái bếp bừa bộn léo nhéo lên đây. Tấm liếp che cửa bỗng kêu lạch xạch, gian nhà sáng bừng lên. Tôi giật thột, ngách đầu nhìn ra. Đứa béo gồng đôi thúng ko bước vào. Tôi cất tiếng hỏi:

– Ở ngoài đấy làm gì nhưng mà lâu thế mày?

Không để đứa con kịp giải đáp, tôi nhổm dậy vơ lấy cái nón:

– Ở nhà trông em nhá! Đừng có đi đâu ấy. Tôi giơ tay chỉ lên nhà trên và bước ra ngoài.

Bên ngoài trời xanh lồng lộng, có những tảng mây sáng chói, lờ đờ. Đường vắng hẳn người qua lại. Họ rạt cả vào các khoảnh bóng cây tránh nắng. 1 vài tiếng động nhẹ khẽ gợn lên, oi ả. Tôi đi ngông nghênh giữa đường vắng, cái đầu cung cúc lao về phía trước. Hai tay vung vẩy, nhấp nhỏm. Cũng như thường lệ, tôi ghé vào trạm thông tin nghe ngóng tình hình chiến sự. Biết bao là tin hay đều được cập nhật ở đây. Ruột gan tôi cứ như múa cả lên. Nhưng chừng như hạnh phúc của con người thật là bé bỏng. Ngờ đâu cái vui vẻ đấy chỉ là 1 ngày lặng gió trước lúc giông bão nổi lên. Bước ra khỏi phòng thông tin, tôi rẽ vào dặn vợ vài việc rồi theo lối huyện cũ nhưng mà đi. Tôi tạt qua quán nước ngồi. Ở đây, những tốp người sơ tán dưới xuôi lên đứng ngồi lố nhố. Nghe 1 người phụ nữ nói bọn Tây nó vào làng chợ Dầu, nó khủng bố, tôi lo âu, quay phắt lại lắp bắp hỏi:

– Nó… Nó vào làng Dầu hở bác? Thế ta giết thịt được bao lăm thằng?

– Có giết thịt được thằng nào đâu. Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây còn giết thịt gì nữa!

Giọng người phụ nữ the thé, đầy mùi căm giận. Nó như gáo nước lã tạt thẳng vào mặt tôi. Tôi sững sờ. Cổ họng nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, tưởng như tới nghẹt thở. Khóe mắt cứ giật giật, các dây tâm thần như tê liệt. 1 khi lâu sau, tôi mới rặn è è, nuốt cái gì vương vướng ở cổ, hỏi lại, giọng lạc hẳn đi:

– Liệu có thật ko hở bác? Hay lại chỉ…

– Thì chúng tôi vừa ở dưới ấy lên đây nhưng mà…

Tôi chưa dứt lời thì người ta đã nói. Dứt khoát. Chắc như đinh đóng cột. Tôi đờ người. Hai tai ù ù. Chẳng còn nghe thấy gì cả. Giọng người kia như lẫn vào trong gió. Tôi thanh toán nước, lao đao đứng dậy. Chèm chẹp mồm, cười nhạt 1 tiếng:

– Hà, nắng gớm, về nào…

Tôi cúi gằm mặt xuống nhưng mà đi. Tôi thoáng nghĩ tới mụ chủ nhà. Về tới nhà, tôi nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy tôi bữa nay có vẻ khác, len lén đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau. Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt tôi cứ tràn ra…

– Chúng nó cũng là trẻ em làng Việt gian ấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hất hủi ấy ư? Khốn nạn, bằng đấy tuổi đầu… tôi nắm chặt 2 tay lại và rít lên:

– Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào miệng nhưng mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để điếm nhục thế này!

Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn tới thế được. Tôi kiểm điểm từng người trong óc. Không nhưng mà, họ toàn là những người có ý thức cả nhưng mà. Họ đã ở lại làng. Quyết tâm 1 sống 1 chết với giặc, có có lẽ nào lại can tâm làm điều điếm nhục đấy!… Nhưng sao lại nảy ra cái tin tương tự được? Nhưng mà thằng chánh Bệu thì đích thị là người làng ko sai rồi. Không có lửa thì sao có khói? Ai người ta hơi đâu bịa tạc ra những chuyện đấy làm gì. Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Một mai biết làm ăn, giao thương ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta giao thương mấy. Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta kinh tởm, người ta hằn thù cái giống Việt gian bán nước… Lại còn bao lăm người làng, tan tác mỗi người 1 phương nữa ko biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa?

Tối đấy ko người nào nói với người nào câu nào, ko gian tĩnh lặng tới lạ. Rồi vẫn cái giọng rầm rì như thường nhật:

– Này thày nó ạ.

Tôi nằm rũ ra trên giường ko nói gì.

– Thày nó ngủ rồi à?

– Gì? Tôi khẽ động đậy:

– Tôi thấy người ta đồn… tôi gắt lên:

– Biết rồi!

Tôi nghĩ rợn cả người. Cả cuộc đời bất minh, lầm than cũ nổi lên trong ý tưởng . Tôi chẳng thể về cái làng đấy được nữa. Về hiện thời ra tôi chịu mất hết à? Không thể được! Làng thì yêu thật, mà làng theo Tây mất rồi thì phải thù. Tôi ôm thằng con út lên lòng, vỗ nhè nhẹ vào lưng nó, khẽ hỏi:

– Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con người nào?

– Là con thầy mấy lỵ con u.

– Thế nhà con ở đâu?

– Nhà ta ở làng chợ Dầu.

– Thế con có thích về làng chợ Dầu ko? Thằng nhỏ nép đầu vào ngực tôi giải đáp khe khẽ:

– Có. Tôi ôm khít thằng nhỏ vào lòng, 1 khi lâu lại hỏi:

– À thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ người nào? Thằng nhỏ giơ tay lên, bạo gan và rành rẽ:

– Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn 5! Nước mắt tôi giàn ra, chảy ròng ròng trên 2 má. Tôi rủ rỉ:

– Ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhỉ.

Chiều hôm đấy có anh cùng làng tới chơi, cũng người chợ Dầu các bác ạ. Tôi đóng khăn áo chỉnh tề tất tưởi theo hắn đi. Tôi hấp tấp tới quên cả dặn trẻ coi nhà. Tôi đi mãi tới xẩm tối mới về. Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Miệng bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy… Vừa tới ngõ tôi đã lên tiếng:

– Chúng mày đâu rồi, ra thầy chia quà cho nào.

Rồi tôi vội sang bác Thứ khoe:

– Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn. Ông chủ tịch làng em vừa lên cải chính… Cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng em Việt gian đấy nhưng mà. Láo! Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn là sai sự mục tiêu cả!

Ấy câu chuyện là như thế ấy mọi người ạ. Cho đến nay nghĩ lại tôi vẫn ko sao quên được cảm giác lúc nghe tin cải chính. Bởi vì có niềm tin vào Đảng, vào bác Hồ và cả cái làng của tôi nữa nên kháng chiến mới chiến thắng như ngày bữa nay. Tôi mong qua câu chuyện của tôi mọi người sẽ thêm yêu quê hương của mình.

Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai – Mẫu 3

Mỗi đối tượng văn chương đều đánh dấu trong tôi nhiều ấn tượng không giống nhau. Khi câu chuyện về họ khép lại, lòng tôi lại gợi mở ra nhiều nghĩ suy. Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” có nhẽ là người gây cho tôi nhiều ám ảnh nhất. Nỗi ám ảnh đấy theo tôi cả vào giấc mơ.

Trong mơ, tôi thấy mình đang ở 1 ngôi làng bé miền trung du, mấy chục ngôi nhà đứng cạnh nhau. Không điện đường, ko khói bụi ầm ĩ, tất cả bình an trong treo trông như làng quê nhiều 5 về trước. Tôi mơ mòng bước đi trên tuyến đường đất bé. Dưới gốc đa xù xì, người đứng người ngồi, chuyện trò râm ran. Xa xa có cánh đồng lúa rộng rộng lớn, đàn cò bay lượn trắng cả 1 vùng…

Tôi lang thang hết đoạn đường dài, tới lúc chân mỏi định tìm 1 nơi nghỉ tạm. Bất thần tôi trông thấy 1 ông cụ khoảng chừng 6 mươi tuổi, dáng người mảnh mai ngồi trong quán nước vừa hút thuốc lào vừa uống nước chè, mồm tóp tép ra điều đắc chí lắm. Càng nhìn, tôi càng thấy giống dáng vẻ ông Hai nhưng mà nhà văn Kim Lân mô tả. Không lẽ tôi đi vào giấc mơ gặp ông Hai? Nghĩ vậy, tôi bạo dạn bước đến chỗ quán nước, hỏi ông:

– Cháu chào ông ạ! Ông có phải ông Hai người làng chợ Dầu ko ạ?

Nghe tôi nhắc đến làng chợ Dầu, ông liền ngửng mặt nhìn tôi, 2 mắt sáng rỡ:

– Đúng rồi cháu, ông là người làng chợ Dầu. Cháu là người nào? Cũng là người làng sơ tán lên ư? Sao ông lại chưa thấy cháu bao giờ?

Bấy giờ tôi mới vỡ vạc, ông đúng là ông Hai thật. Nhưng nơi này không hề làng của ông nhưng mà là nơi sơ tán. Tôi lễ độ đáp lại câu hỏi của ông:

– Dạ cháu từ nơi khác tới đây. Cháu có nghe đề cập làng chợ Dầu nên muốn hỏi ông vài điều ạ.

– Cháu ngồi xuống đây, uống miếng nước rồi ông cháu mình chuyện trò. – Nghe nhắc đến làng của mình, ông Hai phấn chấn ra mặt, ông rót cho tôi 1 chén nước rồi bảo tôi ngồi xuống.

Tôi ko biết khởi đầu câu chuyện từ đâu, đành hỏi ông làng Chợ Dầu của ông cách đây bao xa, làng có giống như nơi này ko. Ông như chỉ chờ có vậy, nói 1 hơi dài ko nghỉ, ông khoe:

– Làng ông có phòng thông tin tuyên truyền lạc quan phổ quát nhất vùng, chòi phát thanh cao bằng ngọn tre, chiều chiều phát thanh cả làng đều nghe thấy. Làng ông nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh. Đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió thả phanh đi khắp đầu làng cuối xóm, buồn không phải dính đến gót chân. Tháng 5 ngày mười phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng, ko có lấy 1 hạt thóc đất. – Mắt ông sang lên, nói phân minh ko sai 1 chữ, giống như ông đã ghi nhớ hết, chỉ cần có người nào hỏi là ông có thể nói ngay.

Ngừng 1 lát, như nhớ ra điều gì ấy, ông lại nói:

– Chết! Còn cái dinh cơ cụ thượng làng ông. Có lắm là của. Vườn hoa cây cảnh nom như động đấy. Có cái tượng đá ông Hoàng Thạch Công đánh rơi giày, bát tiên quá hải bằng người sứ. Cả cái cọc sắt cắm vào cái bầu rượu có đắp 4 con giơi quét vôi vàng mãi tít trên ngọn sinh phần là cột thu lôi, thu cả sấm sét vào. Khiếp lắm!

Ông mê mải khoe mãi, khoe hết mọi thứ trong làng ông. Nhân khi ông ngừng lại uống nước, tôi liền hỏi:

– Làng tốt tương tự, sao ông lại sơ tán tới đây ạ?

Không háo hức như trước ấy, bộ mặt ông như trầm hẳn xuống, ông ko giải đáp tôi ngay nhưng mà hướng ánh mắt ra xa, chậm trễ nói:

– Kháng chiến nổ ra, ông cũng ko muốn xa làng, muốn ở lại cùng anh em quân nhân và dân binh kháng chiến bảo vệ làng. Nhưng sau cuối, ông vẫn phải mang theo gia đình đi sơ tán. Ông nhớ làng, nhớ cả những tháng ngày cùng anh em đào đường đắp ụ, mệt cơ mà vui lắm… Nhớ làng nên ngày nào ông cũng ra phòng thông tin để nghe tin tức kháng chiến. Ông vừa mới từ nơi ấy ra đây ngồi thì gặp cháu.

Cảm thu được nỗi nhớ trĩu nặng qua giọng nói của ông, tôi vừa thương vừa thán phục tình yêu làng của ông. Để ông ko quá đau lòng lúc nhớ làng nhưng mà vẫn chưa thể trở về, tôi vội hỏi:

– Hẳn là có nhiều tin tức thắng trận từ làng lắm đúng ko ạ?

– Có chứ cháu, tin quân ta giết thịt địch, rồi tin thằng bé bỏng tuổi dám bơi ra giữa hồ cắm cờ của ta. Nghe nhưng mà gan ruột ông cứ múa hết cả lên. – Nét mặt ông lại rạng rỡ hẳn lên. Có nhẽ tình yêu làng thiết tha đã nung đúc lên tình yêu nước mãnh liệt trong ông.

Tôi thấy ông lại lặng người đi, ko hiểu tại sao cũng ko dám lên tiếng hỏi. 1 lát sau ấy, ông lại tiếp diễn kể:

– Cách đây ít lâu, ông nghe tin dữ từ làng Chợ Dầu. Hôm đấy, ông gặp tốp người sơ tán từ Gia Lâm, người ta nói cả làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây. Cảm giác ấy vẫn còn nguyên, cổ họng nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân. Ông lặng đi, tưởng như chẳng thể thở được. Ông cố hỏi lại mà người ta vẫn một mực ấy là sự thực. Sau ấy, người ta nói gì ông cũng ko nghe rõ, cúi mặt nhưng mà đi về.

Ông Hai yêu làng tương tự, ngày nào cũng đợi mong tin tức về làng, tới lúc nghe tin lại là tin như thế. Chắc hẳn lúc đấy, ông đớn đau sững sờ lắm. Tôi chỉ nghĩ thầm trong lòng nhưng mà ko dám ngắt lời ông. Dù là chuyện đã qua và không hề sự thực mà nỗi đau lúc đấy nhớ lại vẫn làm ông nghẹn ngào:

– Khoảng thời kì ấy rất gian truân. Ông ko tin người làng lại đổ đốn ra tới vậy. Nhưng ko có lửa làm sao có khói? Nhìn lũ con ông lại càng đớn đau hơn, nếu là thật không hề chúng là trẻ em làng Việt gian sao? Rồi ông lại hay tin người làng Chợ Dầu đi tới đâu là đuổi tới ấy. Gia đình ông cũng là người làng Chợ Dầu, lại đang sơ tán. Mụ chủ nhà hôm đấy cũng đến đuổi khéo. Ông tuyệt vọng ko biết làm thế nào cho phải…

– Ông có nghĩ sẽ trở lại làng ko ạ? – Tôi hỏi

Ông Hai lại nhấp thêm 1 ngụm chè:

– Suy nghĩ đấy có thoáng qua, mà làng thì yêu thật mà làng theo Tây mất rồi thì phải thù. Thằng con út ông đấy vậy nhưng mà sáng dạ lắm, những ngày tin làng theo giặc đồn ra, mắc cỡ điếm nhục ông nào dám đi đâu. Ở nhà, ông rủ rỉ chuyện trò với nó, thằng nhỏ muốn về làng mà nó ủng hộ cụ Hồ. Tâm bố con ông là vậy, bên trên cụ Hồ, an hem xét soi cho bố con ông.

Đoạn, nét mặt ông vui mừng hẳn lên:

– Nhưng may mắn cháu ạ, mấy hôm sau, tin làng Chợ Dầu theo Tây được cải chính. Bọn Tây nó đốt nhà ông, ông chủ tịch làng ông lên tận nơi cải chính. Ông vui quá cháu ạ.

Tôi thấy nước mắt ông tràn qua kẽ mắt, thầm cảm chạnh lòng yêu làng của ông. Dù ông nói phải thù vì làng theo Tây mất rồi, mà ông vẫn chưa từng thôi kì vọng tin tức kia là giả, làng của ông vẫn là làng kháng chiến. Tôi định hỏi tiếp thì nghe thấy tiếng loa phát thanh ở xa, ông Hai đứng dậy rồi chạy đi. Tôi gọi với theo thì chỉ nghe tiếng ông vọng lại:

– Chắc là có tin ta thắng trận, ông phải ra xem mới được…

Tôi choàng tỉnh. Nhìn bầu trời đầy sao bên ngoài cửa sổ tôi mới hay mình ngủ quên trên bàn học, quyển sách giáo khoa mở đúng truyện ngắn “ Làng”. Dù chỉ là 1 giấc mơ mà tôi vẫn cảm thu được tình cảm yêu làng, yêu nước đáng quý của ông Hai. Ông chính là đại diện cho phân khúc dân cày yêu nước, kháng chiến giành độc lập dân tộc, đáng trân trọng, truyền tụng.

Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai – Mẫu 4

Thật đúng như nhà văn I-li-a Ê-ran-bua nói: “Lòng yêu nhà, yêu thôn ấp, yêu đồng quê trở thành lòng yêu Non sông”. Quả thật, ông Hai trong truyện ngắn “ Làng” là hình ảnh đẹp của những người dân cày tầm thường mà giàu lòng yêu nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trước đây (1946-1954). Ông Hai là hình tượng người dân cày trong cuộc kháng chiến chống Pháp với những tình cảm chân thật và thắm đượm tình yêu quê hương, tổ quốc. Và kể từ được học tác phẩm “Làng” tôi thường ước mơ được gặp ông để mày mò rõ hơn điều gì đã xảy ra với ông. Điều ấy đã thành sự thực cách nay chưa lâu. Tôi chẳng thể quên được phút giây phút ấy.

Không gian mờ ảo đưa tôi đi. Khi tôi mở mắt ra thì thấy mình ở trong 1 ngôi làng trung du bé. Cái làng này chỉ có chừng vài mươi nóc nhà. Tôi mơ mòng đi trên tuyến đường đất thẳng giữa làng. Tôi thấy, những tốp người đứng ngồi lố nhố cả ở dưới mấy gốc đa xù xì, cành lá rườm rà ken vào nhau, rải xuống mặt đường và bãi cỏ 1 vùng bóng mát rộng. Tiếng quạt, tiếng thở, tiếng trẻ em khóc, cộng với tiếng cười nói râm ran 1 góc đường. Dưới chân đồi, những thửa ruộng lúa xanh mượt, uốn vòng vèo dưới trời nắng, lấp loáng như 1 khúc sông. Có mấy bóng cò trắng bay dật dờ…. Tôi giật thột. Tôi thấy cảnh này vừa lạ vừa quen. Nghe đâu tôi đã gặp đâu ấy rồi thì phải mà tôi ko nhớ được. Bỗng tôi trông thấy ông lão ngồi trong 1 cái quán gần ấy. Hút thuốc lào, uống chè tươi hot, ông tóp tép cái mồm như có bao lăm ý tưởng vui thích chen chúc trong đầu óc. Tôi bạo dạn vận động gần. Hiện giờ tôi mới nhìn rõ ấy là ông lão người mảnh mai, đầu chít khăn, dáng bộ gọn ghẽ. Tôi đoán ông độ trên dưới 6 mươi.

– Chào ông? Ông có biết đây là đâu ko? Tôi hỏi.

– Cháu ko biết mình ở nơi sơ tán à! Thầy u cháu đâu?

– Cháu ko biết vì sao cháu ở đây? Ông giúp cháu về nhà nhé?

Ông Hai đặt bát nước xuống chõng nói: Thôi cháu theo ông về nhà, để ông báo chính quyền tìm người thân cho cháu. Ông Hai thanh toán nước, đứng dậy, chem chẹp mồm 1 tiếng, vươn vai nói mập: về nào…

Tôi theo ông về nhà. Trên đường đi ông giới thiệu mình là người làng chợ Dầu và mọi người thường gọi tôi là ông Hai Thu. Khi ấy tôi mới trông thấy mình đang chuyện trò với người mình mơ gặp xưa nay. Tôi đang bâng khuâng ko biết điều này thực hay mơ đây thì đã về đến nhà. Vào nhà ông rót nước và hỏi chuyện tôi. Ông hỏi tôi từ đâu đến, tại sao lạc thầy u… Tôi chỉ giải đáp ậm ờ cho qua chuyện. Tôi nói lảng hỏi sang chuyện khác:

– Cháu nghe nói làng chợ Dầu người hùng lắm! Ông có thể kể cho cháu nghe về nó ko?

Như bắt được mạch, ông Hai kể trong say sưa. Ông chuyện trò về làng 1 cách ham mê và nô nức lạ đời. Hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mặt lay chuyển, hoạt động. Ông khoe làng ông có cái phòng thông tin tuyên truyền lạc quan phổ quát nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy. Ông khoe làng ông nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh. Đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió thả phanh đi khắp đầu làng cuối xóm, buồn ko dính tới gót chân. Tháng 5 ngày mười phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng, ko có lấy 1 hạt thóc đất.

Dù đã đọc những điều này trong truyện mà tôi vẫn cảm thấy xúc động. Tôi nhìn ông Hai say sưa kể tiếp: Kháng chiến bùng nổ ông muốn ở lại làng cùng anh em quân nhân và dân binh kháng chiến. Nhưng vì cảnh ngộ gia đình nên ông phải cùng gia đình đi sơ tán. Ở nơi sơ tán ông rất nhớ làng và thường có hay khoe về làng mình. Hôm nào ông cũng ra phòng thông tin để nghe tin tức kháng chiến. Ruột gan ông cứ múa hết cả lên lúc nghe được bao lăm tin hay – toàn tin quân ta giết thịt được địch.

Đề cập đây ông ngừng lại, trầm mặc nghĩ suy. Tôi vội hỏi:

– Chuyện gì xảy ra vậy ông? Sao ông ngừng lại ngoại trừ tiếp?

Ông Hai nhìn tôi với cặp mắt đầy suy tư

– Từ từ chứ! Chờ ông uống miếng nước đã. Nói xong ông lấy ly nước uống 1 ngụm. Uống xong ông kể tiếp: Hôm đấy đang trong tâm cảnh nô nức thì ông nghe được tin làng chợ Dầu của ông theo Tây làm Việt gian. Khi ấy cổ họng ông nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân. Ông lặng đi, tưởng như nghẹt thở. 1 khi lâu ông mới rặn è è, nuốt 1 cái gì vướng ở cổ, ông hỏi lại về cái tin đấy thì người ta đã khẳng định 1 cách vững chắc. Ông vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác rồi đi thẳng về nhà.

Nghe ông kể tôi có thể cảm thu được tâm cảnh ông khi ấy. Có gì đớn đau, tủi hổ cho ông Hai bằng lúc nghe 1 người phụ nữ sơ tán từ dưới xuôi lên nói: “Cả làng chúng nó (làng Dầu) việt gian theo Tây”, “Việt gian từ thằng chủ tịch nhưng mà đi cơ ông à!”, Niềm kiêu hãnh bao lâu bỗng chốc tan nát, sụp đổ. Giá ko yêu nơi sinh trưởng của mình, ông đâu cảm thấy đớn đau và điếm nhục tới thế. Ông Hai vẫn đang kể:

– Về tới nhà, ông nằm vật ra giường nhìn lũ con nhưng mà thấy tủi thân, nước mắt ông cứ tràn ra. Chúng nó cũng là trẻ em làng Việt gian ấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hất hủi ấy ư? Ông ngờ ngợ chả nhẽ bọn ở làng lại đốn tới thế ư rồi ông tự kiểm điểm trong óc thấy họ đều là những người có ý thức yêu nước, yêu kháng chiến chẳng nhẽ lại đi làm cái điều điếm nhục đấy? Nhưng ko có lửa làm sao có khói. Ông cảm thấy tủi hổ. Chiều hôm đấy vợ ông về cũng có vẻ khác. Trong nhà có cái sự yên lặng thật là khó chịu. Mãi tới khuya vợ ông mới hỏi ông về cái tin đấy. Ông yên lặng rồi gắt lên vậy là bà đấy im bặt. Ba 4 ngày hôm sau ông ko dám bước chân ra ngoài chỉ ở trong gian nhà chật chội để nghe ngóng tin tức. Khi nào ông cũng thom thóp lo sợ, hễ nghe tới chuyện đấy là ông lại giật thột. Ông thù ghét bọn phản bội làng, phản bội Non sông. Nỗi đớn đau và điếm nhục và lo sợ của ông lên đến cao độ lúc nghe tin dân chúng địa phương có người làng Dầu sơ tán tới là họ tẩy chay dân làng ông, “tới đâu có người chợ Dầu người ta cũng đuổi như đuổi hủi”, ngay mụ chủ nhà cũng đã đuổi khéo vợ chồng, con cái ông ra khỏi nhà. Trước hoàn cảnh đấy, ông tuyệt vọng mà ông nhất mực ko chịu trở về làng: “Về làng là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ”. Cũng chẳng thể đi đâu, ở đâu, người ta cũng đuổi người làng chợ Dầu của ông. Trong tâm cảnh đớn đau tủi hờn, ông hàn ôn với thằng con út. Sau lúc hàn ôn xong, nỗi khổ của ông với đi phần nào.

Tôi lặng đi trong xúc động. Thật thương cho ông Hai. Không hiểu sao nước mắt đã nhòe trên mặt tôi. Ông Hai lấy tay quệt nước mắt cho tôi cười nói: Coi cháu kìa! Mau nước mắt quá! Nghe ông nói tôi chỉ biết cười ngượng. Vội hỏi cho đỡ ngượng:

– Vậy tin làng chợ dầu theo tây được cải chính lúc nào?

Nghe tôi hỏi ông Hai ngẩn người ra. Tôi biết mình đã lỡ lời. Nhưng 1 thoáng yên lặng trôi qua, ông nói với giọng xúc động:

– 1 hôm khoảng 3 giờ chiều, có người con trai tới nhà ông chơi. Ông đấy rủ ông đi theo ông đấy, tới sẩm tối ông mới về. Khi đấy ông rất vui. Tới bực cửa ông đã bô bô khoe rằng Tây nó đốt nhà mình rồi, ông chủ tịch làng ông vừa mới lên cải chính, ông đấy cho biết cái tin làng ông theo Tây làm Việt gian là sai. Nỗi vui tươi của ông thật vô bến bờ. Ông phóng khoáng sắm quà cho các con, ông muốn chia sẻ thú vui sướng đấy cho mọi người trong ấy có cả mụ chủ nhà từng gieo cho ông nhiều nỗi bực dọc, căm tức. Cứ thế ông lật đật đi khoe khắp nơi, tối hôm đấy ông còn sang gian bác Thứ chuyện trò về làng của mình.

Nói xong ông đưa tay quệt nước mắt đã rơi lúc đề cập kỉ niệm ấy. Tôi cảm thấy mình thật bé nhỏ lúc nghĩ tới ông. Ông Hai đã gắn tình yêu si mê làng mạc của mình với tình yêu tổ quốc. Điều này làm nên con người lớn lao trong ông. Cũng chính vì vậy nhưng mà làng Dầu của ông có như thế nào đi nữa, ông vẫn 1 lòng, 1 dạ ủng hộ kháng chiến, ủng hộ Cụ Hồ. Đang trầm mặc với nghĩ suy của mình tôi nghe tiếng gọi

– Ông Hai ơi ngoài ủy ban có tin về làng chợ Dầu kìa?

Nghe tiếng gọi ông Hai mau chóng bảo tôi ngơi nghỉ còn ông sẽ chay ra ủy ban báo cáo về trường hợp của tôi. Nhìn dáng hối hả của ông nhưng mà tôi trào dâng niềm mến thương.

Reng! Reng! Tiếng chuông báo thức vang lên. Giờ tôi mới trông thấy mình đã có 1 giấc mơ thật đẹp. Ông Hai đã giúp hiểu thêm về vẻ đẹp tâm hồn của người dân cày Việt Nam thời đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lăng: Yêu làng, yêu nước và gắn bó với kháng chiến. Có nhẽ vì vậy nhưng mà tác phẩm “Làng” xứng đáng là 1 trong những truyện ngắn tuyệt vời của văn chương Việt Nam đương đại.

Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai – Mẫu 5

Hình ảnh ông Hai trong truyện “Làng” là 1 trong những hình ảnh đẹp đại diện cho người dân cày tầm thường, chân lấm tay bùn mà giàu lòng yêu nước trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hình tượng Ông Hai với những tình cảm chân thật và thắm đượm tình yêu quê hương, tổ quốc. Tính từ lúc đọc truyện ngắn “Làng” tôi thường ước mơ 1 lần được gặp ông để cùng chuyện trò với ông và mày mò điều gì đã xảy ra với ông. Và vào 1 ban đêm nọ, sau lúc đọc lại câu chuyện, tắt đèn và lên giường đi ngủ, điều tôi ước mơ đã thành sự thực. Tôi đã được gặp mặt và chuyện trò với ông Hai, ấy là những khoảnh khắc nhưng mà tôi chẳng thể quên được.

Trong ko gian mờ mờ ảo ảo tôi đã tới đây, ngôi làng nơi ông Hai ở. Tôi đưa mắt ra xa tôi thấy mình đang ở trong 1 ngôi làng bé của miền trung du. Cái làng này bé lắm, chỉ chừng mấy mươi nóc nhà thôi. Tôi mơ mòng đặt chân đi trên tuyến đường đất nằm giữa làng. Tôi thấy hàng tốp người đang đứng, ngồi dưới mấy gốc đa xù xì, cành lá sum sê đan vào nhau, trải bóng mát xuống mặt đường và bãi cỏ bao la. Tiếng người béo, tiếng trẻ em cộng với tiếng cười nói râm ran. Uốn vòng vèo phía dưới chân đồi là những thửa ruộng lúa xanh mượt, lấp loáng như 1 khúc sông quê. Thấp thoáng đâu ấy là mấy bóng cò trắng bay dật dờ….

Bỗng tôi giật thột, tôi cảm thấy cảnh này vừa lạ lạ vừa quen quen. Nghe đâu khung cảnh này tôi đã gặp đâu ấy rồi thì phải mà tôi chẳng thể nào nhớ được. Bỗng tôi trông thấy 1 ông lão ngồi trong 1 cái quán nước vừa qua. Vừa hút 1 điếu thuốc lào, uống 1 bát nước chè tươi hot, ông tóp tép cái mồm như đang đắc chí 1 điều gì ấy trong đầu. Tôi bạo dạn tiến lại gần. Bấy giờ tôi mới nhìn rõ ấy là 1 ông lão với dáng người mảnh mai, đầu chít khăn gọn ghẽ. Tôi đoán ông độ trên dưới 6 mươi tuổi. À, ông Hai thì phải? Nghe đâu đã có lần tôi được gặp mặt và chuyện trò với ông Hai rồi thì phải? Tôi thấy ông quen lắm.

– Cháu chào ông? Ông có phải là ông Hai ko ạ? Ông có thể cho cháu biết đây là đâu ko ạ? Tôi hỏi.

– Ừ, ông là ông Hải. Cháu ko biết mình đang ở nơi sơ tán à! Thầy u cháu đâu rồi? – Ông đáp

– Cháu ko biết vì sao cháu lại ở đây? Ông có thể giúp cháu về nhà được ko ạ?

Ông Hai đặt bát nước chè tươi xuống chõng và nói: Thôi, tốt nhất là cháu theo ông về nhà ông, rồi ông sẽ đi báo chính quyền đưa lên loa phát thanh của xã để tìm người thân cho cháu. Ông Hai đứng dậy, thanh toán nước, chèm chẹp mồm vài tiếng và vươn vai nói mập: về nhà nào…

Tôi đi theo ông về nhà. Trên đường đi về ông giới thiệu với tôi ông là người làng chợ Dầu và mọi người thường gọi ông với cái tên thân tình là ông Hai Thu. Khi ấy tôi mới công nhận đúng là mình đã gặp ông Hai thật. Tôi đang bâng khuâng ko biết điều này thực hay mơ đây thì đã về đến nhà ông. Vào nhà ông rót cho tôi 1 chén nước và hỏi chuyện tôi. Ông hỏi tôi từ đâu đến đây, tại sao tôi bị lạc thầy u…Tôi nhận thấy dường như ông ko thấy tôi quen thì phải hay ông ko nhớ…? Tôi chỉ giải đáp ậm ờ cho qua chuyện, vì tôi cũng ko rõ đang có chuyện gì xảy ra. Tôi bèn nói lảng hỏi sang chuyện khác:

– Cháu nghe nói làng mình nhiều người hùng lắm ông nhỉ! Ông có thể kể cho cháu nghe được ko?

Như bắt được mạch, ông Hai kể chuyện say sưa. Ông kể chuyện về làng, về những con người nơi đây 1 cách ham mê và nô nức lạ đời. Hai con mắt ông sáng lên, cái mặt lay chuyển lúc từ khi sự việc này sang sự việc khác. Ông khoe ở làng có cái phòng thông tin – tuyên truyền được xây dựng lạc quan, phổ quát nhất vùng này, cột phát thanh thì cao bằng ngọn tre, cứ chiều chiều loa nói cả làng đều nghe thấy. Ông khoe làng ông có nhiều nhà ngói nằm san sát, cả làng sầm uất như trên tỉnh. Đường trong làng toàn lát bằng đá xanh, trời mưa gió nhưng mà phải đi khắp đầu làng cuối ngõ cũng ko sợ bùn dính tới gót chân. Tháng 5 ngày mười vào mùa gặt nhà nhà phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng, ko có lấy 1 hạt thóc bị dính đất.

Dù những điều này tôi đã đọc thuộc lòng trong truyện mà lúc nghe ông kể tôi vẫn cảm thấy xúc động. Ông Hai nhìn tôi say sưa kể tiếp: Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, người người đi tản cư, nhà nhà đi tản cư mà ông thì muốn ở lại làng cùng anh em quân nhân và dân binh kháng chiến bám làng để đánh giặc. Nhưng vì cảnh ngộ gia đình nên ông vẫn phải cùng gia đình đi sơ tán. Ở nơi sơ tán, ông rất nhớ quê hương và thường hay kể về làng mình cho những người nơi sơ tán nghe. Ngày nào ông cũng ra phòng thông tin để nghe tin tức kháng chiến ở quê hương mình. Tâm can ông cứ nhảy múa hết cả lên lúc nghe được tin hay, tin quân ta đánh được địch.

Kể tới đây ông ngừng lại, có vẻ trầm mặc nghĩ suy. Tôi vội hỏi:

– Chuyện gì xảy ra vậy ông? Sao ông ngoại trừ tiếp?

Ông Hai nhìn tôi với cặp mắt đầy suy tư, tâm cảnh:

– Cứ từ chứ! Chờ ông uống miếng nước.

Nói xong ông lấy cốc nước uống 1 ngụm. Ông kể tiếp: Hôm đấy ông nghe được tin có người dân làng chợ Dầu của ông theo giặc làm Việt gian. Cổ họng ông nghẹn đắng lại, mặt ông trĩu nặng. Ông lặng đi, tưởng như không thở được. 1 khi lâu ông mới đằng hắn 1 cái, nuốt vào trong lòng có cái gì ấy vướng ở cổ, ông chạy đi hỏi lại về cái tin đấy, thì người ta đã khẳng định lại 1 cách vững chắc. Ông cúi gằm mặt xuống, đứng lảng ra chỗ khác rồi đi thẳng 1 mạch về nhà về nhà. Ông buồn quá, buồn tận trong đáy lòng.

Cuộc gặp mặt và chuyện trò với ông Hai của tôi như đang khởi đầu vào cao trào. Nghe ông kể tới đây tôi có thể cảm thu được tâm cảnh ông lúc ấy. Có gì ấy đớn đau, tủi hổ cho ông Hai lúc nghe được 1 người phụ nữ sơ tán từ dưới xuôi lên nói: “Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây rồi”, “Việt gian từ thằng chủ tịch nhưng mà đi cơ ông à!”, Niềm kiêu hãnh bao xưa nay bỗng chốc tan nát, sụp đổ ngay trước mặt ông. Giá như ông ko yêu nơi sinh trưởng của mình tới thế, ngày giờ đây ông đâu cảm thấy đớn đau và điếm nhục tới tương tự. Ông Hai kể tiếp:

– Về tới nhà, ông nằm vật ra giường trông thấy lũ con nhưng mà tủi thân quá, nước mắt ông cứ chảy ràn rụa ra. Bọn trẻ chúng nó cũng là trẻ em làng Việt gian ấy ư? Chúng nó bị người ta rẻ rúm, hất hủi ấy ư? Ông ngờ ngợ chả nhẽ những người hầu lại làng lại đốn tới thế ư? rồi ông tự điểm lại trong đầu thấy họ đều là những người đều có ý thức yêu nước, yêu quê hương, yêu kháng chiến, chẳng nhẽ lại đi làm cái điều điếm nhục đấy sao? Ông do dự, nghĩ suy mà “ko có lửa làm sao có khói”. Ông cảm thấy tủi hổ hết sức. Chiều hôm đấy bà nhà ông về, bà đấy cũng có vẻ khác biệt. Trong nhà còn đó cái sự yên lặng thật là khó chịu. Mãi tới khuya bà đấy mới hỏi ông về cái tin tức đấy. Ông nghe bà hỏi, ban đầu ông yên lặng, rồi sau ấy ông gắt lên vậy là bà im bặt. Phcửa ải tới 3 4 ngày hôm sau ông vẫn ko dám bước chân ra ngoài đường chỉ ở trong gian nhà chật chội để nghe ngóng tin tức từ cái loa phóng thanh của xã. Khi nào ông cũng trong hiện trạng thom thóp lo sợ, hễ nghe tới tin chiến sự là ông lại giật thột. Ông thù ghét bọn phản bội bán làng, bán Non sông. Nỗi đớn đau, điếm nhục và lo sợ của ông lên đến cực điểm lúc nghe tin dân chúng địa phương có người làng Dầu sơ tán tới là họ tẩy chay người dân làng ông, “đi tới đâu có người làng Dầu người ta cũng đuổi như đuổi hủi”, ngay mụ chủ nhà cũng đã đuổi khéo vợ chồng, con cái nhà ông ra khỏi nhà. Trước hoàn cảnh đấy, tuyệt vọng lắm mà ông nhất mực ko chịu trở về làng: “Về làng là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ”. Cũng chẳng thể đi đâu, đâu đâu người ta cũng đuổi người làng ông. Trong tâm cảnh đớn đau, tủi hổ, ông hàn ôn với thằng đàn ông út. Như trút được bầu hàn ôn xưa nay nay, nỗi khổ của ông cũng vơi đi phần nào.

Tuy được gặp mặt và chuyện trò với ông Hai tới đây, tôi cũng lặng đi trong xúc động. Thật thương cho ông Hai. Không hiểu sao nước mắt đã nhòe trong khóe mắt và chỉ trực tràn ra trên bộ mặt tôi. Ông Hai lấy tay quệt nước mắt cho tôi và cười nói: Xem cháu kìa! Mau nước mắt quá! Nghe ông nói vậy tôi chỉ biết cười ngượng. Tôi hỏi ông:

– Vậy tin làng Chợ Dầu theo Tây được đính chính lúc nào hả ông?

Nghe tôi hỏi vậy ông Hai ngẩn người ra. Tôi biết mình đã lỡ lời. Thoáng chút yên lặng trôi qua, ông nói với tôi, giọng xúc động:

– Vào 1 hôm khoảng 3 giờ chiều, có 1 người con trai tới nhà ông chơi. Ông đấy rủ ông đi theo ông đấy nhưng mà ko biết ông đi đâu, tới sẩm tối ông mới về nhà. Khi đấy tâm cảnh ông rất vui. Tới bậc cửa ông đã bô bô khoe rằng thằng Tây nó đốt nhà mình rồi, ông chủ tịch làng ông vừa mới lên khu sơ tán để cải chính, ông đấy cho biết cái tin làng chợ Dầu của ông theo Tây làm Việt gian là sai hoàn toàn. Niềm vui tươi của ông thật vô bến bờ biết bao. Ông sắm quà cho các con, ông muốn san sẻ thú vui sướng đấy cho mọi người trong ấy có cả mụ chủ nhà từng gieo cho ông bao nỗi bực dọc, căm tức. Cứ thế ông lật đật đi khoe khắp nơi, tối hôm đấy ông còn sang gian bác Thứ kể chuyện về làng của mình trong tâm cảnh kiêu hãnh, vui sướng.

Nói xong ông đưa tay quệt nước mắt đã rơi trên gò má lúc đề cập kỉ niệm ấy. Tôi cảm thấy mình thật bé nhỏ trước ông Hai. Ông đã gắn tình yêu si mê quê hương, làng mạc của mình với tình yêu tổ quốc. Điều này đã làm nên con người lớn lao trong ông. Cũng chính vì vậy nhưng mà có như thế nào đi nữa, ông vẫn 1 lòng, 1 dạ ủng hộ kháng chiến, ủng hộ Cụ Hồ. Đang trầm mặc với nghĩ suy của mình tôi nghe tiếng gọi

– Ông Hai ơi ngoài ủy ban đang nói tin về làng chợ Dầu của ông kìa?

Nghe tiếng gọi ông Hai vội vã đứng dậy, ông bảo tôi ngơi nghỉ còn ông mau chóng chạy ra ủy ban nghe tin cùng lúc báo cáo về trường hợp của tôi. Nhìn cái dáng hối hả của ông nhưng mà tôi trào dâng niềm mến thương.

Reng! Reng! Reng! Tiếng chuông báo thức vang lên làm tôi giật thột tỉnh dậy. Giờ tôi mới trông thấy mình đã có 1 giấc mơ thật đẹp. Cuộc gặp mặt và chuyện trò với ông Hai đã giúp tôi hiểu thêm về vẻ đẹp tâm hồn của người dân cày Việt Nam thời đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lăng nước ta. Ấy là lòng yêu làng, yêu nước và gắn bó với kháng chiến. Có nhẽ vì vậy nhưng mà tác phẩm “Làng” xứng đáng là 1 trong những truyện ngắn tuyệt vời của văn chương Việt Nam quá trình văn chương đương đại.

Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai – Mẫu 6

Nhắc tới đối tượng ông 2 trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân là đề cập hình ảnh 1 người dân cày chịu thương cần cù, 1 hình ảnh đại diện cho phân khúc dân cày Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp lớn lao của dân tộc. Ấy là hình ảnh của những người dân yêu nước da diết, yêu nơi chôn nhau cắt rốn của mình bằng 1 tình cảm thiêng liêng. Đã bao lần tôi ước mơ được 1 lần gặp đối tượng ông Hai để chuyện trò với ông về câu chuyện cuộc đời ông. Thế rồi 1 hôm lúc vừa khép lại trang truyện, đi ngủ tôi mơ mòng thấy mình được chuyện trò cùng đối tượng ông Hai. Đây quả thật là 1 giấc mơ chẳng thể nào quên được.

Tôi đứng giữa 1 khoảng ko mờ ảo cảnh vật khắp nơi đều rất đơn sơ mộc mạc nó giống với ngôi làng của nhà ông nội tôi vậy. À dường như tôi nhớ ra một mai chính là ngôi làng của ông Hai trong truyện ngắn của nhà văn Kim Lân. Ngôi làng bé lắm áng chừng chỉ được khoảng mấy mươi nóc nhà. Tôi bước đi trong tuyến đường gạch bé giữa làng, bao quanh là dăm 3 tốp người đang xì xầm nói chuyện nào thì ruộng con trâu cái cày, nào là chuyện ruộng lúa trỗ bông… Tiếng cười nói của tụi trẻ em đang đùa nhau râm ran. Xa xa đàn cò đang sải cánh bay rập rờn….

Tôi đi tới gốc đa ven đường thì trông thấy 1 người con trai khoảng trên dưới 6 chục tuổi đang ngồi rít điếu cày trong quán nước gần ấy. Người con trai hớp miếng nước chè tươi rồi tóp tép cái mồm. Tôi tới gần, khi này mới thấy rõ được dạng hình của ông, người mảnh mai đầu chít khăn gọn ghẽ. Tôi nhớ dường như đây chính là ông Hai. Tôi liền bạo dạn hỏi:

– Ông là ông Hai có phải ko ạ? Cháu thấy quen lắm ạ?

– Ừ ông là ông Hai. Ôi dào quen gì đây là nơi sơ tán đấy nhưng mà. Bao nhiêu người tới người đi. Thế ba má cháu đâu nhưng mà đi lạc thế này? Ông giải đáp.

– Cháu ko nhớ ạ. Ông có thể đưa cháu về được ko?

Ông Hai nhón trong túi thanh toán nước chè rồi dẫn tôi theo sau. Vừa đi ông vừa bảo: “được rồi tôi cứ dẫn cháu về nhà tôi nghỉ lát tí tôi lên báo cho phòng thông tin xã để tìm người thân cho cháu.

Tôi nối bước theo ông Hai về nhà ông. Dọc đường đi tôi thấy ông chào hỏi mọi người nhiệt tình à hóa ra mọi người thường gọi ông là ông Hai Thu ấy. Thế là mong ước của tôi đã thành sự thực rồi tôi đã gặp được ông Hai thật rồi. Về tới nhà ông Hai hỏi tôi tại sao lại bị lạc, ở đâu nhưng mà tới đây? Tôi cũng chẳng biết chuyện gì đang xảy ra nên cũng chỉ ậm ờ trước câu hỏi của ông. Tôi bèn hỏi ông chuyện khác: “Ông ơi dường như làng mình nhiều người hùng lắm ạ? Ông có thể kể cho cháu nghe chuyện các chú đấy đánh giặc thế nào ko ạ?

Như được chạm đúng vào mạch ông Hai thao thao bất tuyệt kể cho tôi nghe về làng ông, với 1 nỗi lòng ham mê tới lạ. Ông khoe nào thì làng ông có cái phòng thông tin tuyên truyền lạc quan phổ quát, cột phát thanh cao quá ngọn tre, mỗi chiều loa gọi cả làng nghe thấy. Nào là cái làng của ông nhiều nhà ngói san sát, cả làng sầm uất như trên tỉnh. Đường trong làng lát toàn đá xanh mưa gió đi chân chẳng dính bùn. Tháng 5 ngày mươi vào mùa gặt phơi lúa thì sướng phải biết….

Dù rằng đã được đọc câu chuyện của nhà văn Kim Lân mà nghe ông Hai kể chuyện tôi vẫn thấy háo hức tới lạ. Sau ấy ông kể tiếp: Kháng chiến chống pháp bùng nổ, ông muốn ở lại cộng với anh em quân nhân bám làng đánh giặc thế mà ngặt nỗi vì cảnh ngộ gia đình nên ông phải sơ tán lên đây. Ở ấy ko ngày nào ông ko nhớ quê hương mỗi lúc nhớ quá ông lại kể về làng mình cho những người sơ tán nghe. Rồi lại hi hữu chạy lên phòng thông tin nghe tin tức quân ta đánh được địch nhưng mà ông vui như mở hội. Rối ông Hai có vẻ trầm mặc: Tôi vội hỏi:

– Ông sao thế ạ? Sao ông lại ngoại trừ tiếp?

Ông Hai nhấp ngụm nước trà rồi nói tiếp. Hôm đấy ông nghe được tin làng chợ Dầu đi theo Việt Gian ông buồn như không thở được, mạch máu trong ông nhu bị đông lại. Ông nghi ngại về cái tin đấy nhưng mà người ta thì khẳng định cứng ngắc. Ông cúi gằm mặt xuống rồi đi 1 mạch về nhà. Lòng ông trĩu nặng. Có cái gì ấy đớn đau tủi hổ lúc 1 người phụ nữ dưới xuôi sơ tán lên nói: “Cả làng nó đi theo tây rồi ông ạ, từ thằng chủ tịch nhưng mà xuống”. Niềm kiêu hãnh bao xưa nay của ông như sụp đổ. Giá như cái tình yêu quê hương của ông ko sâu đậm tới thế thì ông đã ko đớn đau tới thế này.

Về nhà ông nằm vật ra giường. Ông trông thấy lũ trẻ nhưng mà nước mắt cứ trào ra. Ấy thế ra chúng nó cũng là trẻ em làng Việt gian ấy. Chúng nó cũng chịu sự hất hủi rẻ rúm ấy. Thế rồi như chẳng thể chấp thuận được sự thực ông hình dung lại trong đầu những người dân làng ông đều là những người tình nước họ yêu kháng chiến tới thế vì sao lại bán nước? thế mà những lời nói kia thì sao? Không có lửa thì làm sao có khỏi? Hôm đấy bà nhà ông về bà cũng khác biệt chỉ tới tối bà mới dám hỏi ông về cái tin tức ấy, ban đầu ông yên lặng sau ông gắt um lên còn bà im bặt.

Phcửa ải tới mấy ngày hôm sau ông mới dám bước chân ra ngoài đường ông sợ mỗi lần cái loa phát thanh đề cập tin chiến sự. Nỗi đớn đau càng trở thành cao trào trong khi ở đâu người ta cũng đuổi người dân làng Dầu vì ko muốn cho lên sơ tán. Tới ngày mụ chủ nhà ông cũng cố tình đuổi khéo vợ chồng ông. Thế mà ông cương quyết ko đi đâu cả. Đi về là bán nước, bỏ cụ Hồ ông nhất mực ko làm.

Tới đây tôi cũng thấy nghèn nghẹn đau xót. Tôi thấy có thứ gì ấy nhấp nhánh trong suốt chảy ra từ khóe mắt của ông. Lấy tay quệt vội giọt nước mắt ông 2 kể tiếp:

Thế rồi 1 hôm vào khoảng 3 giờ chiều có 1 người con trai tới nhà ông chơi ông đấy rủ ông đi tới tối mới về. về tới nhà ông như hóa thành 1 con người khác. Tới bậc cửa ông đã hét toáng lên “thằng tây nó đốt nhà mình rồi, ông chủ tịch vừa lên báo thế, ông đấy bảo cái tin làng chợ Dầu theo tây là hoàn toàn sai trái”. Cái tin này như hồi sinh ông vậy. Ông phấn chấn lắm ông sắm quà cho mấy đứa con ông lật đật đi khắp nơi để khoe cái làng ông ko theo giặc. Ông chạy sang bác Thứ và lại thao thao bất tuyệt về cái làng của mình 1 cách đầy kiêu hãnh phấn kích.

Đề cập đây ông quệt vội giọt nước mắt phấn kích mỗi lần đề cập kỉ niệm ấy. Tôi như đắm chìm trong câu chuyện của ông 1 con người cả đời dành tình yêu cho làng cho nước cho quê hương bản sứ của mình. Chỉ tới lúc nghe tiếng người gọi ngoài cổng “ Ông 2 ơi ngoài ủy ban đang nói tin về làng chợ Dầu ông kìa”. Ông Hai mới lật đật bước ra dặn tôi ngơi nghỉ, ông ra xem tin tức gì cùng lúc báo cáo về hiện trạng của tôi.

Nhìn cái dáng vẻ khắc khổ của ông đề cập quê hương nhưng mà thấy thật đáng quý thật trân trọng biết bao.

Tiếng chuông báo thức vang lên. Ôi thế là tôi đã tới khi phải dậy tới trường rồi. Hóa ra tôi đã có 1 giấc mơ thật đẹp như thế ấy. Cuộc chuyện trò với ông khiến tôi phần nào thấu hiểu cuộc sống lam lũ của người dân trong cuộc kháng chiến lớn lao mà vẫn ánh lên tình yêu nước sự tin cậy bất tử vào cách mệnh và cụ Hồ.

.

Xem thêm thông tin Văn mẫu lớp 9: Tưởng tượng gặp gỡ và trò chuyện với ông Hai trong truyện Làng

Văn mẫu lớp 9: Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai trong truyện Làng

Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai trong truyện Làng mang đến 2 dàn ý cụ thể, cùng 6 bài văn mẫu, giúp các em học trò lớp 9 tham khảo, thu thập vốn từ để hoàn thiện bài viết của mình hay hơn.

Trong truyện ngắn Làng, chúng ta bắt gặp hình ảnh ông Hai với tình yêu quê hương, yêu tổ quốc hết sức mãnh liệt. Hãy thử hình dung mình được gặp mặt, chuyện trò với đối tượng ông Hai thì sẽ như thế nào nhỉ? Mời các em cùng theo dõi bài viết dưới đây của Vik News:
Dàn ý hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai
Dàn ý 1
1. Mở bài: Tạo lập cảnh huống gặp mặt giữa bản thân với ông Hai. Thời điểm, thời kì, dẫn dắt cân đối.
2. Thân bài:
Nói được cảnh ngộ khiến đối tượng ông Hai phải sơ tán. Kể về niềm tự hào, kiêu hãnh, nỗi nhớ quê hương da diết và sự ân cần đến kháng chiến của đối tượng ông Hai
Nêu diễn biến tâm lý đối tượng ông Hai lúc nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, thấy được tình yêu làng quê hòa quyện với tình yêu tổ quốc, Non sông
Từ sự sững sờ, bàng hoàng, đến cảm giác mắc cỡ, lo âu, buồn, chán nản
Sự tuyệt vọng, thất vọng của ông Hai, sự chiến đấu nội tâm gay gắt giữa việc tuyển lựa làng, hay tuyển lựa kháng chiến, giữa đi nơi khác hay trở về làng.
Lời hàn ôn của ông Hai với đứa con trình bày tấm lòng chung tình, son sắc của ông Hai với cách mệnh và kháng chiến, tình yêu nước, yêu Tổ Quốc bao la bao trùm lên tình yêu quê hương của ông Hai
3. Kết bài
Ấn tượng, xúc cảm của em sau cuộc chuyện trò ấy.
Dàn ý 2
I. Mở bài:
– Tạo cảnh huống gặp mặt với ông Hai. Nêu về thời kì, ko gian, vị trí, đối tượng 1 cách có lí, thu hút.
II. Thân bài:
– Đề cập cảnh ngộ khiến ông Hai cùng gia đình phải đi sơ tán; Kể về niềm hãnh diện, kiêu hãnh, nỗi nhớ quê hương da diết và sự ân cần tới cuộc kháng chiến của ông Hai lúc ông ở nơi sơ tán.
– Nêu diễn biến tâm cảnh của ông Hai lúc nghe tin làng Chợ Dầu có người theo giặc làm Việt gian, từ ấy thấy rõ tình yêu làng thâm thúy hòa quyện hợp nhất với tình yêu nước, yêu Tổ Quốc, yêu cách mệnh của ông Hai:
– Từ sự sững sờ, bàng hoàng lúc mới nghe tin đấy tới cảm giác mắc cỡ, lo âu, buồn chán, chán nản rồi nó biến thành 1 nỗi ám ảnh thường xuyên nặng nề khiến ông Hai hết sức đớn đau, khổ sở.
– Sau ấy là tình thế tuyệt vọng, thất vọng của ông lúc ông và gia đình bị đuổi đi, sự chiến đấu nội tâm của ông giữa đi nơi khác hay trở về làng chợ Dầu khiến ông phải đau đầu. Nhưng ông nỗ lực ko trở về làng, vì trở về là chống lại cách mệnh, chống lại Cụ Hồ. Qua ấy thấy rõ được tình yêu nước, yêu Tổ Quốc bao la, bao trùm lên tình yêu quê hương của ông Hai.
– Lời hàn ôn của ông Hai với đứa đàn ông út trình bày tấm lòng chung thủy, son sắc của ông với cách mệnh, với kháng chiến.
– Kể về tâm cảnh vui sướng, vô bến bờ của ông Hai lúc tin làng theo giặc được đính chính.
III. Kết bài:
– Ấn tượng, xúc cảm và nghĩ suy của bản thân em sau cuộc chuyện trò đấy.
Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai – Mẫu 1
Nếu người nào đã đọc và mày mò những tác phẩm truyện của Kim Lân, chắc hẳn mọi người sẽ biết tới tôi. Tôi chính là đối tượng ông Hai trong trong tác phẩm ấy. Bữa nay tôi ở đây sẽ kể lại cho mọi người nghe tất cả diễn biến tâm cảnh và nghĩ suy của mình. Tôi biết Kim Lân đã làm việc này thay tôi rất tuyệt vời, mà tôi vẫn muốn kể lại cho mọi người nghe. Tôi là 1 con người có lòng yêu quê hương thiết tha. Quê hương với tôi đúng là chùm khế ngọt, và với tôi quê hương cũng chỉ có 1 nhưng mà thôi. Tôi yêu ngôi làng bé của mình, yêu con người nơi đây 1 cách bất tận. Với tôi, luôn có 1 niềm tin yêu thâm thúy vào làng chợ Dầu, về con người nơi tôi sinh ra và béo lên. Truyện sẽ chẳng có gì cho đến lúc tôi nghe tin làng tôi theo giặc. Khi bấy giờ tâm cảnh tôi như chẳng thể kiểm soát, có cái gì mắc cứng ở cổ họng, da mặt tê rân rân,… Không phải đợi lâu nữa, ngay sau đây tôi sẽ kể hết cho mọi người nghe toàn thể sự việc.
Ngày đấy, nghe theo Đảng, nghe theo cơ chế của Cụ Hồ. Gia đình tôi cùng bao gia đình ở làng chợ Dầu phải sơ tán để tránh đòn tấn công của kẻ thù, giảm thiểu tối đa thiệt hại về người và của nả. Bao nhiêu 5 sống và đấu tranh trên mảnh đất quê mình. Tới cả nhắm mắt nhắm mũi tôi cũng biết được ở đâu có có khúc sông, có giếng làng. Phcửa ải xa quê, ko ở lại cùng anh em đấu tranh bảo vệ làng làm tôi cũng buồn khó tả. Tôi cũng muốn ở lại với anh em, với các chú quân nhân, đào ấp, xây hầm, quyết chết sống với thằng Tây mũi lõ, dám cướp làng, cướp nước ta. Nhưng vì cảnh ngộ gia đình, mẹ nó và cả đàn con leo nhóc, tôi chẳng thể bỏ chúng được,tôi đành đi. Nhưng tôi luôn có niềm tin dân làng mình sẽ đấu tranh tới cùng để bảo vệ từng tấc đất cho quê hương. Tôi kiêu hãnh về làng mình lắm. Nói không hề khoe chứ làng tôi có nhiều cái hay lắm, nhưng mà tôi muốn cho mọi người biết. Tôi nói nhiều tới nỗi cụ Thứ còn biết hết, nhớ hết những điều tôi nói. Làng tôi, mọi người có biết ko, có cái phòng thông tin truyền thông lạc quan nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy. Làng tôi nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh. Với tôi làng tôi luôn hấp dẫn nhất, tôi kiêu hãnh về mọi thứ ở làng tôi có. Tôi luôn nói cho mọi người biết làng tôi đẹp, người dân thực thà chân chất, yêu lao động, yêu hòa bình, ghét cái bọn Tây cướp nước như thế nào, dù ko súng, ko đạn, chỉ cần cuốc, xẻng, gậy gộc, hay tay ko chúng tôi cũng đánh.
Mọi thứ vẫn diễn ra, kháng chiến vẫn đang trường kì. Tôi mong chờ 1 ngày bọn Tây nó chết hết đi, dám cướp nước, cướp làng ta, làm bao kiếp khổ. Buổi trưa hôm đấy, tôi ở nhà 1 mình, con nhỏ béo thì gánh hàng cho mẹ nó ngoài chợ bán. Còn 2 đứa bé, tôi cho nó ra vườn chơi, vừa trông bọn gà ko cho chúng phá rau. Tôi thì từ sáng đến giờ vỡ được mấy luống đất rồi, đang tính là trồng thêm mấy luống rau. Nhà mỗi người 1 việc, việc béo thì người béo làm, việc bé thì người bé làm. Đang mệt nằm giường nghỉ 1 lát, thế nào tôi lại nghĩ tới làng mình. Nghĩ đến làng, tôi vui lắm, như trẻ ra vậy. Tôi lại lẩm bẩm mấy câu hát ngày xưa, sao nhưng mà nhớ làng tới lạ. Muốn về với anh em đồng cam cộng khổ loạn đả với bọ Tây cướp nước. Ngày trước tôi có muốn đi đâu, nhưng mà bà nó giục quá, cứ bảo con nhỏ tuổi, tôi ko đi thì mẹ con chúng biết chông cậy vào người nào, thế là thương nhân đình tôi đi sơ tán, chứ có 1 mình, tôi quyết ko bao giờ bỏ làng nhưng mà đi. Nghĩ linh tinh, tôi đứng dậy ra khỏi nhà. Ghét cái bọn Tây, tôi chửi đổng.
– Nắng thế này bỏ mẹ chúng nó.
Người đi đường thấy tôi nói vậy quay lại hỏi
– Bọn nó nào?
Tôi chỉ tay về chỗ có tiếng súng
– Tây chứ còn bọn nào nữa. Ngồi trong địa điểm giờ bằng ngồi tù.
Rồi tôi lại đi tiếp, hôm nào cũng vậy, tôi lại ra phòng thông tin nghe tin tức. Tuy tôi ko biết mặt chữ in mà cũng muốn ra nghe tin tức kháng chiến lắm. Chả phải hóng hớt mà tôi thích nghe tin bữa nay mình đánh được bao lăm thằng, thắng ở đâu, như thế làm tôi vui lắm. Ra đây nghe tin tức, tôi ghét là ghét mấy anh cậy chữ đọc thầm, chẳng cho người nào nghe với. May sao bữa nay có anh độc giả mập cho mọi người cùng nghe. Cao ôi bao lăm là tin tức hay, có tìm 1 em bé trong ban truyền tin can đảm cắm lá cờ quốc kì lên nóc hồ gươm. Tuổi bé nhưng mà can đảm vậy ấy. 1 anh đội trưởng sau lúc giết thịt 7 tên giặc đã tự vẫn bằng 1 quả lựu đạn rốt cuộc. Cứ cái đà này, thì kháng chiến rồi cũng chấm dứt thôi, bọn Tây cũng phải đầu hàng.
Rời khỏi phòng thông tin, tôi ra gốc đa xù xì nơi mọi người hay ngồi nghỉ, làm điếu thuốc lào, uống ngụm nước chè tươi hot. Bao nghĩ suy vui mưng cứ múa lên trong đầu tôi. Thđấy mấy ông bà từ dưới lên. Thì ra là mấy ông bà từ gia lâm lên, cũng hỏi chuyện thóc lúa đồng áng xem như thế nào. Mấy bữa nay thấy súng bắn nhiều, tôi hỏi
– Này bác có biết mấy bữa nay súng bắn ở đâu nhưng mà rát thế.
– Nó rú từ Bắc Ninh qua chợ Dầu khủng bố ông ạ. 1 người phụ nữ đang cho con bú nói sang
Thđấy tin quê mình bị địch bắn, tôi vừa lo, vừa sợ, lắp bắp hỏi:
– Nó…nó vào chợ Dầu hả bác? Thế giết thịt được bao lăm người
– Có giết thịt được thằng nào đâu. Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây.
Như sét đánh ngang tai, cổ họng tôi nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân. Tôi tưởng như nghẹt thở. Tôi lắp bắp mãi mới hỏi lại được
– Có thật ko hay chỉ là…
– Thì chúng tôi từ đây lên. Việt gian từ thằng chủ tịch đi ông ạ. Tây nó vào chúng nó bảo nhau vác cờ thần ra hô. Thằng chánh Bệu khuân cả tủ chè, đỉnh đồng, vải vóc vác lên cam nhông, đưa cả vợ con lên địa điểm giặc nhưng mà ngồi nhưng mà.
Bầu trời như tối đi ngay trước mắt, tôi đứng dậy thanh toán nước đi về. Bao nghĩ suy cứ nhảy múa trong đầu tôi. Hai chữ việt gian nhưng mà người phụ nữ nói nó vẫn vong vỏng bên tai tôi. Đằng sau có tiếng chửi làng, tim tôi như quặn lại. Về nhà lũ trẻ thấy tôi khắc, chúng chả dám hỏi, nhìn chúng tôi lại thương. Nó là con nhà Việt gian sao, chúng nó sẽ bị mọi người xa lánh sao. Tôi nắm chặt 2 tay nhưng mà rít lên.
– Chúng mày ăn miếng cơm hay miếng gì vào miệng nhưng mà đi làm Việt gian bán nước điếm nhục thế này.
Chiều hôm đấy, bà nó đi chợ về, thấy nét mặt khác, là tôi biết lại vì cái tin đồn làng tôi theo Tây rồi. Từ khi biết tin, tôi chẳng dám ra ngoài, tôi buồn và mắc cỡ tại sao dân làng mình lại làm tương tự. Không khí trong nhà tôi như năng lề hơn bao giờ hết. Bà nó đêm ấy quay sang bảo tôi hay về làng, tôi bực lắm gắt.
– Không về làm gì cái làng đấy nữa, chúng nó theo Tây cả rồi, về làng tức bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ. Về làm tức chịu làm bầy tớ cho Tây.
Yêu làng bao lăm giờ nghe tin làng theo giặc tôi buồn bấy nhiêu. Chẳng biết hàn ôn cùng người nào, quay ra ôm thằng út vào lòng. Thằng nhỏ bạo dạn dơ tay bảo .
– Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn 5.
Nó làm tôi vui hơn, tôi tin vào con người làng mình hơn. Rồi khoảng khi đấy chắc 3h chiều, có 1 anh bạn tôi cũng ở làng chợ Dầu qua nhà, tôi quyết định phải đồng hành anh về quê xem tình hình thế nào. Và mọi thứ được minh bạch, tôi vui tươi rạng rỡ hẳn lên, khác hẳn với mấy ngày hôm trước. Tôi còn sắm cho bọn trẻ nhà tôi í kẹo bánh cơ. Tôi vui lắm, đi khoe khắp làng.
– Bác Thứ đâu rồi? Bác Thứ làm gì ấy? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ, đốt nhẵn, ông chủ tịch chỗ tôi mới lên cải chính, ông đấy cho biết, cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng tôi theo Tây, láo, quá láo.
Tôi đi khoe hết bà con lối xóm, khoe nhà tôi bị đốt, nhà bị đốt nhưng mà tôi vẫn vui, tôi vui vì làng tôi trong lành, mọi người ko người nào làm việc gian. Mọi người khó nhưng mà hiểu lòng tôi, thế nhưng mà tới tài ông Kim Lân ông ý biết.
Ấy, chuyện là như thế, tôi yêu làng mình và sẽ mãi tin cậy mọi người trong làng tôi. Cũng phải cảm ơn cái ông nhà văn Kim Lân đã viết được tác phẩm làng hay như thế, để tôi bữa nay được kể lại cho mọi người nghe.
Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông 2 – Mẫu 2
Quê hương là gì hở mẹMà cô giáo dạy phải yêuQuê hương là gì hở mẹAi đi xa cũng nhớ nhiều.
Chúng ta người nào cũng có quê hương, nơi chôn rau cắt rốn, nơi nuôi dưỡng những tâm hồn thơ nhỏ, nơi nhưng mà dù đi xa đến đâu ta đều hướng về. Riêng tôi ấy là cái làng chợ Dầu đầy nhớ thương. Mọi người thắc mắc tôi là người nào ư? Tôi chính là ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân.
Ôi cái làng chợ Dầu của tôi! Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh làng tôi có cái phòng thông tin rộng nhất vùng, cái chòi phát thanh cao tít bằng ngọn tre, chiều chiều tiếng loa gọi văng vẳng khắp cả 1 khoảng trời, ko người nào là ko nghe thấy. Rồi nhà ngói san sát nhau, sầm uất như tỉnh. Đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió thả phanh đi khắp đầu làng cuối xóm, bùn ko dính tới gót chân. Tháng 5 ngày mười phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng, ko có lấy 1 hạt thóc đất. Chẳng là tôi kiêu hãnh về cái làng của tôi lắm các bác ạ. Tôi vẫn có tính hay khoe làng như thế lâu nay. Thế nhưng mà chỉ vì cái bọn giặc đáng khinh kia nhưng mà làng chợ Dầu bị hủy hoại, dân trong làng thì phải đi sơ tán hết.
Hiện giờ khoe làng, tôi khoe khác. Tôi khoe những ngày khởi nghĩa dập dồn ở làng, nhưng mà tôi gia nhập phong trào từ thời đoạn còn bóng tối. Những buổi tập quân sự. Cả giới phụ lão có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập 1 2. Mỗi lần hô động tác, anh đào tạo viên lại phải đệm tiếng ạ… thườn thượt đằng sau: “Nghiêm ạ!… Nghỉ ạ!… Vác súng lên vai ạ!…”. Nhất là những hố, những ụ, những giao thông hào của làng tôi thì làm mướn trình ko để đâu hết. Ba chìm 7 nổi mười mấy 5 trời mới lại được trở về quê hương bản quán.
Thực tình tôi ko muốn sơ tán lên trên này 1 chút nào. Nhưng bà Hai nhà tôi cứ khóc lóc, bà nài nỉ bắt tôi phải đi, bà bảo:
-Thế ông định bỏ mẹ con tôi chết đói à? Ông phải lên coi ngó chúng nó cho tôi xoay xỏa chứ. Rồi bà khẩn khoản nói với mọi người, khẩn khoản với đồng đội thôn đội trưởng, mọi người đồng ý để tôi đi, tôi đành phải nghe theo.
Những ngày đầu ở trên này công tác ko có, trong người tôi khi nào cũng bực bõ, ko yên. Cũng tới khổ bà nhà tôi các bác ạ. Tôi quay sang cáu gắt mẹ con nhà bà đấy. Nhưng tôi nghĩ mình sinh sống ở cái làng này từ tấm nhỏ tới bây giờ. Cha ông cụ kỵ mình xưa kia cũng sinh sống ở cái làng này đã từ bao lăm đời nay rồi. Hiện giờ gặp phải cái khi hữu sự như thế này mình lại đâm đầu bỏ đi còn ra thế nào nữa. Công tác là công tác chung chứ của riêng mình người nào?
Mỗi lần tôi bước chân ra khỏi cái gian nhà tối thấp bộn bề những bồ, bị, nồi, niêu, và những dây áo quần ẩm sì đấy là tôi nhẹ nhàng, tươi tắn hẳn lên. Sao nhưng mà tôi sợ cái gian nhà đấy thế! Nhất là những buổi trưa im ắng, oi ả, có tiếng mụ chủ nhà nói léo nhéo ở bên ngoài, thì tôi ko sao chịu được. Tôi phải đi cho nó khuất. Tôi chưa thấy người phụ nữ nào tham lam, tinh khôn như mụ ta. Người thì còm cõi như thanh củi khô. Cái mồm mỏng lèo lèo, nói cứ liến đi, nhưng mà chúa thần là gian. Không vào nhà thì thôi, động vào nhà là nhòm.
Ngay từ dạo mới lên, tôi đã bực mình với mụ đấy lắm rồi. Nghe xóm giềng ở đây người ta nói, tôi biết mụ không hề là người đứng đắn.
Buổi trưa hôm đấy tôi ở nhà 1 mình. Con nhỏ béo gánh hàng ra quán cho mẹ chưa thấy về. Hai đứa nhỏ thì tôi bắt chúng nó ra vườn trồng mấy luống rau mới cấy lại chẳng gà vặt hết. Tôi hì hục vỡ 1 vạt đất rậm, ngoài bờ suối từ sáng tới bây giờ, tôi tính để trồng thêm vài trăm gốc sắn ăn vào những tháng đói sang 5. Tới lúc mỏi nhừ tôi vào nhà nằm vật lên giường vắt tay lên trán nghĩ ngợi vẩn vơ. Tôi lại nghĩ về cái làng của tôi, lại nghĩ tới những ngày cùng làm với anh em. A, sao nhưng mà độ đấy vui thế. Tôi thấy mình như trẻ ra. Cũng hát hỏng, bông phèng, cũng đào, cũng cuốc đê mê suốt ngày. Trong lòng Tôi lại thấy nô nức hẳn lên. Tôi lại muốn về làng, lại muốn được cùng anh em đào đường đắp ụ, xẻ hào, khuân đá… Không biết cái chòi gác ở đầu làng đã dựng xong chưa? Những đường hầm bí ẩn chắc là còn khướt lắm. Chao ôi! Tôi lão nhớ làng, nhớ cái làng quá. Bên ngoài, ánh nắng rọi xuống mặt sân sáng lóa, có mấy tiếng gà trưa cất lên eo óc. Gian nhà càng như lịm đi, mờ mờ hơi đất. Giờ này là mụ chủ sắp đi làm ruộng về đây. Tôi lại sắp phải nằm trong này nhưng mà nghe mụ chửi con mắng cái, kêu vại nước chóng cạn, cái bếp bừa bộn léo nhéo lên đây. Tấm liếp che cửa bỗng kêu lạch xạch, gian nhà sáng bừng lên. Tôi giật thột, ngách đầu nhìn ra. Đứa béo gồng đôi thúng ko bước vào. Tôi cất tiếng hỏi:
– Ở ngoài đấy làm gì nhưng mà lâu thế mày?
Không để đứa con kịp giải đáp, tôi nhổm dậy vơ lấy cái nón:
– Ở nhà trông em nhá! Đừng có đi đâu ấy. Tôi giơ tay chỉ lên nhà trên và bước ra ngoài.
Bên ngoài trời xanh lồng lộng, có những tảng mây sáng chói, lờ đờ. Đường vắng hẳn người qua lại. Họ rạt cả vào các khoảnh bóng cây tránh nắng. 1 vài tiếng động nhẹ khẽ gợn lên, oi ả. Tôi đi ngông nghênh giữa đường vắng, cái đầu cung cúc lao về phía trước. Hai tay vung vẩy, nhấp nhỏm. Cũng như thường lệ, tôi ghé vào trạm thông tin nghe ngóng tình hình chiến sự. Biết bao là tin hay đều được cập nhật ở đây. Ruột gan tôi cứ như múa cả lên. Nhưng chừng như hạnh phúc của con người thật là bé bỏng. Ngờ đâu cái vui vẻ đấy chỉ là 1 ngày lặng gió trước lúc giông bão nổi lên. Bước ra khỏi phòng thông tin, tôi rẽ vào dặn vợ vài việc rồi theo lối huyện cũ nhưng mà đi. Tôi tạt qua quán nước ngồi. Ở đây, những tốp người sơ tán dưới xuôi lên đứng ngồi lố nhố. Nghe 1 người phụ nữ nói bọn Tây nó vào làng chợ Dầu, nó khủng bố, tôi lo âu, quay phắt lại lắp bắp hỏi:
– Nó… Nó vào làng Dầu hở bác? Thế ta giết thịt được bao lăm thằng?
– Có giết thịt được thằng nào đâu. Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây còn giết thịt gì nữa!
Giọng người phụ nữ the thé, đầy mùi căm giận. Nó như gáo nước lã tạt thẳng vào mặt tôi. Tôi sững sờ. Cổ họng nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, tưởng như tới nghẹt thở. Khóe mắt cứ giật giật, các dây tâm thần như tê liệt. 1 khi lâu sau, tôi mới rặn è è, nuốt cái gì vương vướng ở cổ, hỏi lại, giọng lạc hẳn đi:
– Liệu có thật ko hở bác? Hay lại chỉ…
– Thì chúng tôi vừa ở dưới ấy lên đây nhưng mà…
Tôi chưa dứt lời thì người ta đã nói. Dứt khoát. Chắc như đinh đóng cột. Tôi đờ người. Hai tai ù ù. Chẳng còn nghe thấy gì cả. Giọng người kia như lẫn vào trong gió. Tôi thanh toán nước, lao đao đứng dậy. Chèm chẹp mồm, cười nhạt 1 tiếng:
– Hà, nắng gớm, về nào…
Tôi cúi gằm mặt xuống nhưng mà đi. Tôi thoáng nghĩ tới mụ chủ nhà. Về tới nhà, tôi nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy tôi bữa nay có vẻ khác, len lén đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau. Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt tôi cứ tràn ra…
– Chúng nó cũng là trẻ em làng Việt gian ấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hất hủi ấy ư? Khốn nạn, bằng đấy tuổi đầu… tôi nắm chặt 2 tay lại và rít lên:
– Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào miệng nhưng mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để điếm nhục thế này!
Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn tới thế được. Tôi kiểm điểm từng người trong óc. Không nhưng mà, họ toàn là những người có ý thức cả nhưng mà. Họ đã ở lại làng. Quyết tâm 1 sống 1 chết với giặc, có có lẽ nào lại can tâm làm điều điếm nhục đấy!… Nhưng sao lại nảy ra cái tin tương tự được? Nhưng mà thằng chánh Bệu thì đích thị là người làng ko sai rồi. Không có lửa thì sao có khói? Ai người ta hơi đâu bịa tạc ra những chuyện đấy làm gì. Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Một mai biết làm ăn, giao thương ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta giao thương mấy. Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta kinh tởm, người ta hằn thù cái giống Việt gian bán nước… Lại còn bao lăm người làng, tan tác mỗi người 1 phương nữa ko biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa?
Tối đấy ko người nào nói với người nào câu nào, ko gian tĩnh lặng tới lạ. Rồi vẫn cái giọng rầm rì như thường nhật:
– Này thày nó ạ.
Tôi nằm rũ ra trên giường ko nói gì.
– Thày nó ngủ rồi à?
– Gì? Tôi khẽ động đậy:
– Tôi thấy người ta đồn… tôi gắt lên:
– Biết rồi!
Tôi nghĩ rợn cả người. Cả cuộc đời bất minh, lầm than cũ nổi lên trong ý tưởng . Tôi chẳng thể về cái làng đấy được nữa. Về hiện thời ra tôi chịu mất hết à? Không thể được! Làng thì yêu thật, mà làng theo Tây mất rồi thì phải thù. Tôi ôm thằng con út lên lòng, vỗ nhè nhẹ vào lưng nó, khẽ hỏi:
– Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con người nào?
– Là con thầy mấy lỵ con u.
– Thế nhà con ở đâu?
– Nhà ta ở làng chợ Dầu.
– Thế con có thích về làng chợ Dầu ko? Thằng nhỏ nép đầu vào ngực tôi giải đáp khe khẽ:
– Có. Tôi ôm khít thằng nhỏ vào lòng, 1 khi lâu lại hỏi:
– À thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ người nào? Thằng nhỏ giơ tay lên, bạo gan và rành rẽ:
– Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn 5! Nước mắt tôi giàn ra, chảy ròng ròng trên 2 má. Tôi rủ rỉ:
– Ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhỉ.
Chiều hôm đấy có anh cùng làng tới chơi, cũng người chợ Dầu các bác ạ. Tôi đóng khăn áo chỉnh tề tất tưởi theo hắn đi. Tôi hấp tấp tới quên cả dặn trẻ coi nhà. Tôi đi mãi tới xẩm tối mới về. Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Miệng bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy… Vừa tới ngõ tôi đã lên tiếng:
– Chúng mày đâu rồi, ra thầy chia quà cho nào.
Rồi tôi vội sang bác Thứ khoe:
– Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn. Ông chủ tịch làng em vừa lên cải chính… Cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng em Việt gian đấy nhưng mà. Láo! Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn là sai sự mục tiêu cả!
Ấy câu chuyện là như thế ấy mọi người ạ. Cho đến nay nghĩ lại tôi vẫn ko sao quên được cảm giác lúc nghe tin cải chính. Bởi vì có niềm tin vào Đảng, vào bác Hồ và cả cái làng của tôi nữa nên kháng chiến mới chiến thắng như ngày bữa nay. Tôi mong qua câu chuyện của tôi mọi người sẽ thêm yêu quê hương của mình.
Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai – Mẫu 3
Mỗi đối tượng văn chương đều đánh dấu trong tôi nhiều ấn tượng không giống nhau. Khi câu chuyện về họ khép lại, lòng tôi lại gợi mở ra nhiều nghĩ suy. Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” có nhẽ là người gây cho tôi nhiều ám ảnh nhất. Nỗi ám ảnh đấy theo tôi cả vào giấc mơ.
Trong mơ, tôi thấy mình đang ở 1 ngôi làng bé miền trung du, mấy chục ngôi nhà đứng cạnh nhau. Không điện đường, ko khói bụi ầm ĩ, tất cả bình an trong treo trông như làng quê nhiều 5 về trước. Tôi mơ mòng bước đi trên tuyến đường đất bé. Dưới gốc đa xù xì, người đứng người ngồi, chuyện trò râm ran. Xa xa có cánh đồng lúa rộng rộng lớn, đàn cò bay lượn trắng cả 1 vùng…
Tôi lang thang hết đoạn đường dài, tới lúc chân mỏi định tìm 1 nơi nghỉ tạm. Bất thần tôi trông thấy 1 ông cụ khoảng chừng 6 mươi tuổi, dáng người mảnh mai ngồi trong quán nước vừa hút thuốc lào vừa uống nước chè, mồm tóp tép ra điều đắc chí lắm. Càng nhìn, tôi càng thấy giống dáng vẻ ông Hai nhưng mà nhà văn Kim Lân mô tả. Không lẽ tôi đi vào giấc mơ gặp ông Hai? Nghĩ vậy, tôi bạo dạn bước đến chỗ quán nước, hỏi ông:
– Cháu chào ông ạ! Ông có phải ông Hai người làng chợ Dầu ko ạ?
Nghe tôi nhắc đến làng chợ Dầu, ông liền ngửng mặt nhìn tôi, 2 mắt sáng rỡ:
– Đúng rồi cháu, ông là người làng chợ Dầu. Cháu là người nào? Cũng là người làng sơ tán lên ư? Sao ông lại chưa thấy cháu bao giờ?
Bấy giờ tôi mới vỡ vạc, ông đúng là ông Hai thật. Nhưng nơi này không hề làng của ông nhưng mà là nơi sơ tán. Tôi lễ độ đáp lại câu hỏi của ông:
– Dạ cháu từ nơi khác tới đây. Cháu có nghe đề cập làng chợ Dầu nên muốn hỏi ông vài điều ạ.
– Cháu ngồi xuống đây, uống miếng nước rồi ông cháu mình chuyện trò. – Nghe nhắc đến làng của mình, ông Hai phấn chấn ra mặt, ông rót cho tôi 1 chén nước rồi bảo tôi ngồi xuống.
Tôi ko biết khởi đầu câu chuyện từ đâu, đành hỏi ông làng Chợ Dầu của ông cách đây bao xa, làng có giống như nơi này ko. Ông như chỉ chờ có vậy, nói 1 hơi dài ko nghỉ, ông khoe:
– Làng ông có phòng thông tin tuyên truyền lạc quan phổ quát nhất vùng, chòi phát thanh cao bằng ngọn tre, chiều chiều phát thanh cả làng đều nghe thấy. Làng ông nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh. Đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió thả phanh đi khắp đầu làng cuối xóm, buồn không phải dính đến gót chân. Tháng 5 ngày mười phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng, ko có lấy 1 hạt thóc đất. – Mắt ông sang lên, nói phân minh ko sai 1 chữ, giống như ông đã ghi nhớ hết, chỉ cần có người nào hỏi là ông có thể nói ngay.
Ngừng 1 lát, như nhớ ra điều gì ấy, ông lại nói:
– Chết! Còn cái dinh cơ cụ thượng làng ông. Có lắm là của. Vườn hoa cây cảnh nom như động đấy. Có cái tượng đá ông Hoàng Thạch Công đánh rơi giày, bát tiên quá hải bằng người sứ. Cả cái cọc sắt cắm vào cái bầu rượu có đắp 4 con giơi quét vôi vàng mãi tít trên ngọn sinh phần là cột thu lôi, thu cả sấm sét vào. Khiếp lắm!
Ông mê mải khoe mãi, khoe hết mọi thứ trong làng ông. Nhân khi ông ngừng lại uống nước, tôi liền hỏi:
– Làng tốt tương tự, sao ông lại sơ tán tới đây ạ?
Không háo hức như trước ấy, bộ mặt ông như trầm hẳn xuống, ông ko giải đáp tôi ngay nhưng mà hướng ánh mắt ra xa, chậm trễ nói:
– Kháng chiến nổ ra, ông cũng ko muốn xa làng, muốn ở lại cùng anh em quân nhân và dân binh kháng chiến bảo vệ làng. Nhưng sau cuối, ông vẫn phải mang theo gia đình đi sơ tán. Ông nhớ làng, nhớ cả những tháng ngày cùng anh em đào đường đắp ụ, mệt cơ mà vui lắm… Nhớ làng nên ngày nào ông cũng ra phòng thông tin để nghe tin tức kháng chiến. Ông vừa mới từ nơi ấy ra đây ngồi thì gặp cháu.
Cảm thu được nỗi nhớ trĩu nặng qua giọng nói của ông, tôi vừa thương vừa thán phục tình yêu làng của ông. Để ông ko quá đau lòng lúc nhớ làng nhưng mà vẫn chưa thể trở về, tôi vội hỏi:
– Hẳn là có nhiều tin tức thắng trận từ làng lắm đúng ko ạ?
– Có chứ cháu, tin quân ta giết thịt địch, rồi tin thằng bé bỏng tuổi dám bơi ra giữa hồ cắm cờ của ta. Nghe nhưng mà gan ruột ông cứ múa hết cả lên. – Nét mặt ông lại rạng rỡ hẳn lên. Có nhẽ tình yêu làng thiết tha đã nung đúc lên tình yêu nước mãnh liệt trong ông.
Tôi thấy ông lại lặng người đi, ko hiểu tại sao cũng ko dám lên tiếng hỏi. 1 lát sau ấy, ông lại tiếp diễn kể:
– Cách đây ít lâu, ông nghe tin dữ từ làng Chợ Dầu. Hôm đấy, ông gặp tốp người sơ tán từ Gia Lâm, người ta nói cả làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây. Cảm giác ấy vẫn còn nguyên, cổ họng nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân. Ông lặng đi, tưởng như chẳng thể thở được. Ông cố hỏi lại mà người ta vẫn một mực ấy là sự thực. Sau ấy, người ta nói gì ông cũng ko nghe rõ, cúi mặt nhưng mà đi về.
Ông Hai yêu làng tương tự, ngày nào cũng đợi mong tin tức về làng, tới lúc nghe tin lại là tin như thế. Chắc hẳn lúc đấy, ông đớn đau sững sờ lắm. Tôi chỉ nghĩ thầm trong lòng nhưng mà ko dám ngắt lời ông. Dù là chuyện đã qua và không hề sự thực mà nỗi đau lúc đấy nhớ lại vẫn làm ông nghẹn ngào:
– Khoảng thời kì ấy rất gian truân. Ông ko tin người làng lại đổ đốn ra tới vậy. Nhưng ko có lửa làm sao có khói? Nhìn lũ con ông lại càng đớn đau hơn, nếu là thật không hề chúng là trẻ em làng Việt gian sao? Rồi ông lại hay tin người làng Chợ Dầu đi tới đâu là đuổi tới ấy. Gia đình ông cũng là người làng Chợ Dầu, lại đang sơ tán. Mụ chủ nhà hôm đấy cũng đến đuổi khéo. Ông tuyệt vọng ko biết làm thế nào cho phải…
– Ông có nghĩ sẽ trở lại làng ko ạ? – Tôi hỏi
Ông Hai lại nhấp thêm 1 ngụm chè:
– Suy nghĩ đấy có thoáng qua, mà làng thì yêu thật mà làng theo Tây mất rồi thì phải thù. Thằng con út ông đấy vậy nhưng mà sáng dạ lắm, những ngày tin làng theo giặc đồn ra, mắc cỡ điếm nhục ông nào dám đi đâu. Ở nhà, ông rủ rỉ chuyện trò với nó, thằng nhỏ muốn về làng mà nó ủng hộ cụ Hồ. Tâm bố con ông là vậy, bên trên cụ Hồ, an hem xét soi cho bố con ông.
Đoạn, nét mặt ông vui mừng hẳn lên:
– Nhưng may mắn cháu ạ, mấy hôm sau, tin làng Chợ Dầu theo Tây được cải chính. Bọn Tây nó đốt nhà ông, ông chủ tịch làng ông lên tận nơi cải chính. Ông vui quá cháu ạ.
Tôi thấy nước mắt ông tràn qua kẽ mắt, thầm cảm chạnh lòng yêu làng của ông. Dù ông nói phải thù vì làng theo Tây mất rồi, mà ông vẫn chưa từng thôi kì vọng tin tức kia là giả, làng của ông vẫn là làng kháng chiến. Tôi định hỏi tiếp thì nghe thấy tiếng loa phát thanh ở xa, ông Hai đứng dậy rồi chạy đi. Tôi gọi với theo thì chỉ nghe tiếng ông vọng lại:
– Chắc là có tin ta thắng trận, ông phải ra xem mới được…
Tôi choàng tỉnh. Nhìn bầu trời đầy sao bên ngoài cửa sổ tôi mới hay mình ngủ quên trên bàn học, quyển sách giáo khoa mở đúng truyện ngắn “ Làng”. Dù chỉ là 1 giấc mơ mà tôi vẫn cảm thu được tình cảm yêu làng, yêu nước đáng quý của ông Hai. Ông chính là đại diện cho phân khúc dân cày yêu nước, kháng chiến giành độc lập dân tộc, đáng trân trọng, truyền tụng.
Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai – Mẫu 4
Thật đúng như nhà văn I-li-a Ê-ran-bua nói: “Lòng yêu nhà, yêu thôn ấp, yêu đồng quê trở thành lòng yêu Non sông”. Quả thật, ông Hai trong truyện ngắn “ Làng” là hình ảnh đẹp của những người dân cày tầm thường mà giàu lòng yêu nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trước đây (1946-1954). Ông Hai là hình tượng người dân cày trong cuộc kháng chiến chống Pháp với những tình cảm chân thật và thắm đượm tình yêu quê hương, tổ quốc. Và kể từ được học tác phẩm “Làng” tôi thường ước mơ được gặp ông để mày mò rõ hơn điều gì đã xảy ra với ông. Điều ấy đã thành sự thực cách nay chưa lâu. Tôi chẳng thể quên được phút giây phút ấy.
Không gian mờ ảo đưa tôi đi. Khi tôi mở mắt ra thì thấy mình ở trong 1 ngôi làng trung du bé. Cái làng này chỉ có chừng vài mươi nóc nhà. Tôi mơ mòng đi trên tuyến đường đất thẳng giữa làng. Tôi thấy, những tốp người đứng ngồi lố nhố cả ở dưới mấy gốc đa xù xì, cành lá rườm rà ken vào nhau, rải xuống mặt đường và bãi cỏ 1 vùng bóng mát rộng. Tiếng quạt, tiếng thở, tiếng trẻ em khóc, cộng với tiếng cười nói râm ran 1 góc đường. Dưới chân đồi, những thửa ruộng lúa xanh mượt, uốn vòng vèo dưới trời nắng, lấp loáng như 1 khúc sông. Có mấy bóng cò trắng bay dật dờ…. Tôi giật thột. Tôi thấy cảnh này vừa lạ vừa quen. Nghe đâu tôi đã gặp đâu ấy rồi thì phải mà tôi ko nhớ được. Bỗng tôi trông thấy ông lão ngồi trong 1 cái quán gần ấy. Hút thuốc lào, uống chè tươi hot, ông tóp tép cái mồm như có bao lăm ý tưởng vui thích chen chúc trong đầu óc. Tôi bạo dạn vận động gần. Hiện giờ tôi mới nhìn rõ ấy là ông lão người mảnh mai, đầu chít khăn, dáng bộ gọn ghẽ. Tôi đoán ông độ trên dưới 6 mươi.
– Chào ông? Ông có biết đây là đâu ko? Tôi hỏi.
– Cháu ko biết mình ở nơi sơ tán à! Thầy u cháu đâu?
– Cháu ko biết vì sao cháu ở đây? Ông giúp cháu về nhà nhé?
Ông Hai đặt bát nước xuống chõng nói: Thôi cháu theo ông về nhà, để ông báo chính quyền tìm người thân cho cháu. Ông Hai thanh toán nước, đứng dậy, chem chẹp mồm 1 tiếng, vươn vai nói mập: về nào…
Tôi theo ông về nhà. Trên đường đi ông giới thiệu mình là người làng chợ Dầu và mọi người thường gọi tôi là ông Hai Thu. Khi ấy tôi mới trông thấy mình đang chuyện trò với người mình mơ gặp xưa nay. Tôi đang bâng khuâng ko biết điều này thực hay mơ đây thì đã về đến nhà. Vào nhà ông rót nước và hỏi chuyện tôi. Ông hỏi tôi từ đâu đến, tại sao lạc thầy u… Tôi chỉ giải đáp ậm ờ cho qua chuyện. Tôi nói lảng hỏi sang chuyện khác:
– Cháu nghe nói làng chợ Dầu người hùng lắm! Ông có thể kể cho cháu nghe về nó ko?
Như bắt được mạch, ông Hai kể trong say sưa. Ông chuyện trò về làng 1 cách ham mê và nô nức lạ đời. Hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mặt lay chuyển, hoạt động. Ông khoe làng ông có cái phòng thông tin tuyên truyền lạc quan phổ quát nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy. Ông khoe làng ông nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh. Đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió thả phanh đi khắp đầu làng cuối xóm, buồn ko dính tới gót chân. Tháng 5 ngày mười phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng, ko có lấy 1 hạt thóc đất.
Dù đã đọc những điều này trong truyện mà tôi vẫn cảm thấy xúc động. Tôi nhìn ông Hai say sưa kể tiếp: Kháng chiến bùng nổ ông muốn ở lại làng cùng anh em quân nhân và dân binh kháng chiến. Nhưng vì cảnh ngộ gia đình nên ông phải cùng gia đình đi sơ tán. Ở nơi sơ tán ông rất nhớ làng và thường có hay khoe về làng mình. Hôm nào ông cũng ra phòng thông tin để nghe tin tức kháng chiến. Ruột gan ông cứ múa hết cả lên lúc nghe được bao lăm tin hay – toàn tin quân ta giết thịt được địch.
Đề cập đây ông ngừng lại, trầm mặc nghĩ suy. Tôi vội hỏi:
– Chuyện gì xảy ra vậy ông? Sao ông ngừng lại ngoại trừ tiếp?
Ông Hai nhìn tôi với cặp mắt đầy suy tư
– Từ từ chứ! Chờ ông uống miếng nước đã. Nói xong ông lấy ly nước uống 1 ngụm. Uống xong ông kể tiếp: Hôm đấy đang trong tâm cảnh nô nức thì ông nghe được tin làng chợ Dầu của ông theo Tây làm Việt gian. Khi ấy cổ họng ông nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân. Ông lặng đi, tưởng như nghẹt thở. 1 khi lâu ông mới rặn è è, nuốt 1 cái gì vướng ở cổ, ông hỏi lại về cái tin đấy thì người ta đã khẳng định 1 cách vững chắc. Ông vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác rồi đi thẳng về nhà.
Nghe ông kể tôi có thể cảm thu được tâm cảnh ông khi ấy. Có gì đớn đau, tủi hổ cho ông Hai bằng lúc nghe 1 người phụ nữ sơ tán từ dưới xuôi lên nói: “Cả làng chúng nó (làng Dầu) việt gian theo Tây”, “Việt gian từ thằng chủ tịch nhưng mà đi cơ ông à!”, Niềm kiêu hãnh bao lâu bỗng chốc tan nát, sụp đổ. Giá ko yêu nơi sinh trưởng của mình, ông đâu cảm thấy đớn đau và điếm nhục tới thế. Ông Hai vẫn đang kể:
– Về tới nhà, ông nằm vật ra giường nhìn lũ con nhưng mà thấy tủi thân, nước mắt ông cứ tràn ra. Chúng nó cũng là trẻ em làng Việt gian ấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hất hủi ấy ư? Ông ngờ ngợ chả nhẽ bọn ở làng lại đốn tới thế ư rồi ông tự kiểm điểm trong óc thấy họ đều là những người có ý thức yêu nước, yêu kháng chiến chẳng nhẽ lại đi làm cái điều điếm nhục đấy? Nhưng ko có lửa làm sao có khói. Ông cảm thấy tủi hổ. Chiều hôm đấy vợ ông về cũng có vẻ khác. Trong nhà có cái sự yên lặng thật là khó chịu. Mãi tới khuya vợ ông mới hỏi ông về cái tin đấy. Ông yên lặng rồi gắt lên vậy là bà đấy im bặt. Ba 4 ngày hôm sau ông ko dám bước chân ra ngoài chỉ ở trong gian nhà chật chội để nghe ngóng tin tức. Khi nào ông cũng thom thóp lo sợ, hễ nghe tới chuyện đấy là ông lại giật thột. Ông thù ghét bọn phản bội làng, phản bội Non sông. Nỗi đớn đau và điếm nhục và lo sợ của ông lên đến cao độ lúc nghe tin dân chúng địa phương có người làng Dầu sơ tán tới là họ tẩy chay dân làng ông, “tới đâu có người chợ Dầu người ta cũng đuổi như đuổi hủi”, ngay mụ chủ nhà cũng đã đuổi khéo vợ chồng, con cái ông ra khỏi nhà. Trước hoàn cảnh đấy, ông tuyệt vọng mà ông nhất mực ko chịu trở về làng: “Về làng là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ”. Cũng chẳng thể đi đâu, ở đâu, người ta cũng đuổi người làng chợ Dầu của ông. Trong tâm cảnh đớn đau tủi hờn, ông hàn ôn với thằng con út. Sau lúc hàn ôn xong, nỗi khổ của ông với đi phần nào.
Tôi lặng đi trong xúc động. Thật thương cho ông Hai. Không hiểu sao nước mắt đã nhòe trên mặt tôi. Ông Hai lấy tay quệt nước mắt cho tôi cười nói: Coi cháu kìa! Mau nước mắt quá! Nghe ông nói tôi chỉ biết cười ngượng. Vội hỏi cho đỡ ngượng:
– Vậy tin làng chợ dầu theo tây được cải chính lúc nào?
Nghe tôi hỏi ông Hai ngẩn người ra. Tôi biết mình đã lỡ lời. Nhưng 1 thoáng yên lặng trôi qua, ông nói với giọng xúc động:
– 1 hôm khoảng 3 giờ chiều, có người con trai tới nhà ông chơi. Ông đấy rủ ông đi theo ông đấy, tới sẩm tối ông mới về. Khi đấy ông rất vui. Tới bực cửa ông đã bô bô khoe rằng Tây nó đốt nhà mình rồi, ông chủ tịch làng ông vừa mới lên cải chính, ông đấy cho biết cái tin làng ông theo Tây làm Việt gian là sai. Nỗi vui tươi của ông thật vô bến bờ. Ông phóng khoáng sắm quà cho các con, ông muốn chia sẻ thú vui sướng đấy cho mọi người trong ấy có cả mụ chủ nhà từng gieo cho ông nhiều nỗi bực dọc, căm tức. Cứ thế ông lật đật đi khoe khắp nơi, tối hôm đấy ông còn sang gian bác Thứ chuyện trò về làng của mình.
Nói xong ông đưa tay quệt nước mắt đã rơi lúc đề cập kỉ niệm ấy. Tôi cảm thấy mình thật bé nhỏ lúc nghĩ tới ông. Ông Hai đã gắn tình yêu si mê làng mạc của mình với tình yêu tổ quốc. Điều này làm nên con người lớn lao trong ông. Cũng chính vì vậy nhưng mà làng Dầu của ông có như thế nào đi nữa, ông vẫn 1 lòng, 1 dạ ủng hộ kháng chiến, ủng hộ Cụ Hồ. Đang trầm mặc với nghĩ suy của mình tôi nghe tiếng gọi
– Ông Hai ơi ngoài ủy ban có tin về làng chợ Dầu kìa?
Nghe tiếng gọi ông Hai mau chóng bảo tôi ngơi nghỉ còn ông sẽ chay ra ủy ban báo cáo về trường hợp của tôi. Nhìn dáng hối hả của ông nhưng mà tôi trào dâng niềm mến thương.
Reng! Reng! Tiếng chuông báo thức vang lên. Giờ tôi mới trông thấy mình đã có 1 giấc mơ thật đẹp. Ông Hai đã giúp hiểu thêm về vẻ đẹp tâm hồn của người dân cày Việt Nam thời đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lăng: Yêu làng, yêu nước và gắn bó với kháng chiến. Có nhẽ vì vậy nhưng mà tác phẩm “Làng” xứng đáng là 1 trong những truyện ngắn tuyệt vời của văn chương Việt Nam đương đại.
Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai – Mẫu 5
Hình ảnh ông Hai trong truyện “Làng” là 1 trong những hình ảnh đẹp đại diện cho người dân cày tầm thường, chân lấm tay bùn mà giàu lòng yêu nước trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hình tượng Ông Hai với những tình cảm chân thật và thắm đượm tình yêu quê hương, tổ quốc. Tính từ lúc đọc truyện ngắn “Làng” tôi thường ước mơ 1 lần được gặp ông để cùng chuyện trò với ông và mày mò điều gì đã xảy ra với ông. Và vào 1 ban đêm nọ, sau lúc đọc lại câu chuyện, tắt đèn và lên giường đi ngủ, điều tôi ước mơ đã thành sự thực. Tôi đã được gặp mặt và chuyện trò với ông Hai, ấy là những khoảnh khắc nhưng mà tôi chẳng thể quên được.
Trong ko gian mờ mờ ảo ảo tôi đã tới đây, ngôi làng nơi ông Hai ở. Tôi đưa mắt ra xa tôi thấy mình đang ở trong 1 ngôi làng bé của miền trung du. Cái làng này bé lắm, chỉ chừng mấy mươi nóc nhà thôi. Tôi mơ mòng đặt chân đi trên tuyến đường đất nằm giữa làng. Tôi thấy hàng tốp người đang đứng, ngồi dưới mấy gốc đa xù xì, cành lá sum sê đan vào nhau, trải bóng mát xuống mặt đường và bãi cỏ bao la. Tiếng người béo, tiếng trẻ em cộng với tiếng cười nói râm ran. Uốn vòng vèo phía dưới chân đồi là những thửa ruộng lúa xanh mượt, lấp loáng như 1 khúc sông quê. Thấp thoáng đâu ấy là mấy bóng cò trắng bay dật dờ….
Bỗng tôi giật thột, tôi cảm thấy cảnh này vừa lạ lạ vừa quen quen. Nghe đâu khung cảnh này tôi đã gặp đâu ấy rồi thì phải mà tôi chẳng thể nào nhớ được. Bỗng tôi trông thấy 1 ông lão ngồi trong 1 cái quán nước vừa qua. Vừa hút 1 điếu thuốc lào, uống 1 bát nước chè tươi hot, ông tóp tép cái mồm như đang đắc chí 1 điều gì ấy trong đầu. Tôi bạo dạn tiến lại gần. Bấy giờ tôi mới nhìn rõ ấy là 1 ông lão với dáng người mảnh mai, đầu chít khăn gọn ghẽ. Tôi đoán ông độ trên dưới 6 mươi tuổi. À, ông Hai thì phải? Nghe đâu đã có lần tôi được gặp mặt và chuyện trò với ông Hai rồi thì phải? Tôi thấy ông quen lắm.
– Cháu chào ông? Ông có phải là ông Hai ko ạ? Ông có thể cho cháu biết đây là đâu ko ạ? Tôi hỏi.
– Ừ, ông là ông Hải. Cháu ko biết mình đang ở nơi sơ tán à! Thầy u cháu đâu rồi? – Ông đáp
– Cháu ko biết vì sao cháu lại ở đây? Ông có thể giúp cháu về nhà được ko ạ?
Ông Hai đặt bát nước chè tươi xuống chõng và nói: Thôi, tốt nhất là cháu theo ông về nhà ông, rồi ông sẽ đi báo chính quyền đưa lên loa phát thanh của xã để tìm người thân cho cháu. Ông Hai đứng dậy, thanh toán nước, chèm chẹp mồm vài tiếng và vươn vai nói mập: về nhà nào…
Tôi đi theo ông về nhà. Trên đường đi về ông giới thiệu với tôi ông là người làng chợ Dầu và mọi người thường gọi ông với cái tên thân tình là ông Hai Thu. Khi ấy tôi mới công nhận đúng là mình đã gặp ông Hai thật. Tôi đang bâng khuâng ko biết điều này thực hay mơ đây thì đã về đến nhà ông. Vào nhà ông rót cho tôi 1 chén nước và hỏi chuyện tôi. Ông hỏi tôi từ đâu đến đây, tại sao tôi bị lạc thầy u…Tôi nhận thấy dường như ông ko thấy tôi quen thì phải hay ông ko nhớ…? Tôi chỉ giải đáp ậm ờ cho qua chuyện, vì tôi cũng ko rõ đang có chuyện gì xảy ra. Tôi bèn nói lảng hỏi sang chuyện khác:
– Cháu nghe nói làng mình nhiều người hùng lắm ông nhỉ! Ông có thể kể cho cháu nghe được ko?
Như bắt được mạch, ông Hai kể chuyện say sưa. Ông kể chuyện về làng, về những con người nơi đây 1 cách ham mê và nô nức lạ đời. Hai con mắt ông sáng lên, cái mặt lay chuyển lúc từ khi sự việc này sang sự việc khác. Ông khoe ở làng có cái phòng thông tin – tuyên truyền được xây dựng lạc quan, phổ quát nhất vùng này, cột phát thanh thì cao bằng ngọn tre, cứ chiều chiều loa nói cả làng đều nghe thấy. Ông khoe làng ông có nhiều nhà ngói nằm san sát, cả làng sầm uất như trên tỉnh. Đường trong làng toàn lát bằng đá xanh, trời mưa gió nhưng mà phải đi khắp đầu làng cuối ngõ cũng ko sợ bùn dính tới gót chân. Tháng 5 ngày mười vào mùa gặt nhà nhà phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng, ko có lấy 1 hạt thóc bị dính đất.
Dù những điều này tôi đã đọc thuộc lòng trong truyện mà lúc nghe ông kể tôi vẫn cảm thấy xúc động. Ông Hai nhìn tôi say sưa kể tiếp: Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, người người đi tản cư, nhà nhà đi tản cư mà ông thì muốn ở lại làng cùng anh em quân nhân và dân binh kháng chiến bám làng để đánh giặc. Nhưng vì cảnh ngộ gia đình nên ông vẫn phải cùng gia đình đi sơ tán. Ở nơi sơ tán, ông rất nhớ quê hương và thường hay kể về làng mình cho những người nơi sơ tán nghe. Ngày nào ông cũng ra phòng thông tin để nghe tin tức kháng chiến ở quê hương mình. Tâm can ông cứ nhảy múa hết cả lên lúc nghe được tin hay, tin quân ta đánh được địch.
Kể tới đây ông ngừng lại, có vẻ trầm mặc nghĩ suy. Tôi vội hỏi:
– Chuyện gì xảy ra vậy ông? Sao ông ngoại trừ tiếp?
Ông Hai nhìn tôi với cặp mắt đầy suy tư, tâm cảnh:
– Cứ từ chứ! Chờ ông uống miếng nước.
Nói xong ông lấy cốc nước uống 1 ngụm. Ông kể tiếp: Hôm đấy ông nghe được tin có người dân làng chợ Dầu của ông theo giặc làm Việt gian. Cổ họng ông nghẹn đắng lại, mặt ông trĩu nặng. Ông lặng đi, tưởng như không thở được. 1 khi lâu ông mới đằng hắn 1 cái, nuốt vào trong lòng có cái gì ấy vướng ở cổ, ông chạy đi hỏi lại về cái tin đấy, thì người ta đã khẳng định lại 1 cách vững chắc. Ông cúi gằm mặt xuống, đứng lảng ra chỗ khác rồi đi thẳng 1 mạch về nhà về nhà. Ông buồn quá, buồn tận trong đáy lòng.
Cuộc gặp mặt và chuyện trò với ông Hai của tôi như đang khởi đầu vào cao trào. Nghe ông kể tới đây tôi có thể cảm thu được tâm cảnh ông lúc ấy. Có gì ấy đớn đau, tủi hổ cho ông Hai lúc nghe được 1 người phụ nữ sơ tán từ dưới xuôi lên nói: “Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây rồi”, “Việt gian từ thằng chủ tịch nhưng mà đi cơ ông à!”, Niềm kiêu hãnh bao xưa nay bỗng chốc tan nát, sụp đổ ngay trước mặt ông. Giá như ông ko yêu nơi sinh trưởng của mình tới thế, ngày giờ đây ông đâu cảm thấy đớn đau và điếm nhục tới tương tự. Ông Hai kể tiếp:
– Về tới nhà, ông nằm vật ra giường trông thấy lũ con nhưng mà tủi thân quá, nước mắt ông cứ chảy ràn rụa ra. Bọn trẻ chúng nó cũng là trẻ em làng Việt gian ấy ư? Chúng nó bị người ta rẻ rúm, hất hủi ấy ư? Ông ngờ ngợ chả nhẽ những người hầu lại làng lại đốn tới thế ư? rồi ông tự điểm lại trong đầu thấy họ đều là những người đều có ý thức yêu nước, yêu quê hương, yêu kháng chiến, chẳng nhẽ lại đi làm cái điều điếm nhục đấy sao? Ông do dự, nghĩ suy mà “ko có lửa làm sao có khói”. Ông cảm thấy tủi hổ hết sức. Chiều hôm đấy bà nhà ông về, bà đấy cũng có vẻ khác biệt. Trong nhà còn đó cái sự yên lặng thật là khó chịu. Mãi tới khuya bà đấy mới hỏi ông về cái tin tức đấy. Ông nghe bà hỏi, ban đầu ông yên lặng, rồi sau ấy ông gắt lên vậy là bà im bặt. Phcửa ải tới 3 4 ngày hôm sau ông vẫn ko dám bước chân ra ngoài đường chỉ ở trong gian nhà chật chội để nghe ngóng tin tức từ cái loa phóng thanh của xã. Khi nào ông cũng trong hiện trạng thom thóp lo sợ, hễ nghe tới tin chiến sự là ông lại giật thột. Ông thù ghét bọn phản bội bán làng, bán Non sông. Nỗi đớn đau, điếm nhục và lo sợ của ông lên đến cực điểm lúc nghe tin dân chúng địa phương có người làng Dầu sơ tán tới là họ tẩy chay người dân làng ông, “đi tới đâu có người làng Dầu người ta cũng đuổi như đuổi hủi”, ngay mụ chủ nhà cũng đã đuổi khéo vợ chồng, con cái nhà ông ra khỏi nhà. Trước hoàn cảnh đấy, tuyệt vọng lắm mà ông nhất mực ko chịu trở về làng: “Về làng là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ”. Cũng chẳng thể đi đâu, đâu đâu người ta cũng đuổi người làng ông. Trong tâm cảnh đớn đau, tủi hổ, ông hàn ôn với thằng đàn ông út. Như trút được bầu hàn ôn xưa nay nay, nỗi khổ của ông cũng vơi đi phần nào.
Tuy được gặp mặt và chuyện trò với ông Hai tới đây, tôi cũng lặng đi trong xúc động. Thật thương cho ông Hai. Không hiểu sao nước mắt đã nhòe trong khóe mắt và chỉ trực tràn ra trên bộ mặt tôi. Ông Hai lấy tay quệt nước mắt cho tôi và cười nói: Xem cháu kìa! Mau nước mắt quá! Nghe ông nói vậy tôi chỉ biết cười ngượng. Tôi hỏi ông:
– Vậy tin làng Chợ Dầu theo Tây được đính chính lúc nào hả ông?
Nghe tôi hỏi vậy ông Hai ngẩn người ra. Tôi biết mình đã lỡ lời. Thoáng chút yên lặng trôi qua, ông nói với tôi, giọng xúc động:
– Vào 1 hôm khoảng 3 giờ chiều, có 1 người con trai tới nhà ông chơi. Ông đấy rủ ông đi theo ông đấy nhưng mà ko biết ông đi đâu, tới sẩm tối ông mới về nhà. Khi đấy tâm cảnh ông rất vui. Tới bậc cửa ông đã bô bô khoe rằng thằng Tây nó đốt nhà mình rồi, ông chủ tịch làng ông vừa mới lên khu sơ tán để cải chính, ông đấy cho biết cái tin làng chợ Dầu của ông theo Tây làm Việt gian là sai hoàn toàn. Niềm vui tươi của ông thật vô bến bờ biết bao. Ông sắm quà cho các con, ông muốn san sẻ thú vui sướng đấy cho mọi người trong ấy có cả mụ chủ nhà từng gieo cho ông bao nỗi bực dọc, căm tức. Cứ thế ông lật đật đi khoe khắp nơi, tối hôm đấy ông còn sang gian bác Thứ kể chuyện về làng của mình trong tâm cảnh kiêu hãnh, vui sướng.
Nói xong ông đưa tay quệt nước mắt đã rơi trên gò má lúc đề cập kỉ niệm ấy. Tôi cảm thấy mình thật bé nhỏ trước ông Hai. Ông đã gắn tình yêu si mê quê hương, làng mạc của mình với tình yêu tổ quốc. Điều này đã làm nên con người lớn lao trong ông. Cũng chính vì vậy nhưng mà có như thế nào đi nữa, ông vẫn 1 lòng, 1 dạ ủng hộ kháng chiến, ủng hộ Cụ Hồ. Đang trầm mặc với nghĩ suy của mình tôi nghe tiếng gọi
– Ông Hai ơi ngoài ủy ban đang nói tin về làng chợ Dầu của ông kìa?
Nghe tiếng gọi ông Hai vội vã đứng dậy, ông bảo tôi ngơi nghỉ còn ông mau chóng chạy ra ủy ban nghe tin cùng lúc báo cáo về trường hợp của tôi. Nhìn cái dáng hối hả của ông nhưng mà tôi trào dâng niềm mến thương.
Reng! Reng! Reng! Tiếng chuông báo thức vang lên làm tôi giật thột tỉnh dậy. Giờ tôi mới trông thấy mình đã có 1 giấc mơ thật đẹp. Cuộc gặp mặt và chuyện trò với ông Hai đã giúp tôi hiểu thêm về vẻ đẹp tâm hồn của người dân cày Việt Nam thời đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lăng nước ta. Ấy là lòng yêu làng, yêu nước và gắn bó với kháng chiến. Có nhẽ vì vậy nhưng mà tác phẩm “Làng” xứng đáng là 1 trong những truyện ngắn tuyệt vời của văn chương Việt Nam quá trình văn chương đương đại.
Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai – Mẫu 6
Nhắc tới đối tượng ông 2 trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân là đề cập hình ảnh 1 người dân cày chịu thương cần cù, 1 hình ảnh đại diện cho phân khúc dân cày Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp lớn lao của dân tộc. Ấy là hình ảnh của những người dân yêu nước da diết, yêu nơi chôn nhau cắt rốn của mình bằng 1 tình cảm thiêng liêng. Đã bao lần tôi ước mơ được 1 lần gặp đối tượng ông Hai để chuyện trò với ông về câu chuyện cuộc đời ông. Thế rồi 1 hôm lúc vừa khép lại trang truyện, đi ngủ tôi mơ mòng thấy mình được chuyện trò cùng đối tượng ông Hai. Đây quả thật là 1 giấc mơ chẳng thể nào quên được.
Tôi đứng giữa 1 khoảng ko mờ ảo cảnh vật khắp nơi đều rất đơn sơ mộc mạc nó giống với ngôi làng của nhà ông nội tôi vậy. À dường như tôi nhớ ra một mai chính là ngôi làng của ông Hai trong truyện ngắn của nhà văn Kim Lân. Ngôi làng bé lắm áng chừng chỉ được khoảng mấy mươi nóc nhà. Tôi bước đi trong tuyến đường gạch bé giữa làng, bao quanh là dăm 3 tốp người đang xì xầm nói chuyện nào thì ruộng con trâu cái cày, nào là chuyện ruộng lúa trỗ bông… Tiếng cười nói của tụi trẻ em đang đùa nhau râm ran. Xa xa đàn cò đang sải cánh bay rập rờn….
Tôi đi tới gốc đa ven đường thì trông thấy 1 người con trai khoảng trên dưới 6 chục tuổi đang ngồi rít điếu cày trong quán nước gần ấy. Người con trai hớp miếng nước chè tươi rồi tóp tép cái mồm. Tôi tới gần, khi này mới thấy rõ được dạng hình của ông, người mảnh mai đầu chít khăn gọn ghẽ. Tôi nhớ dường như đây chính là ông Hai. Tôi liền bạo dạn hỏi:
– Ông là ông Hai có phải ko ạ? Cháu thấy quen lắm ạ?
– Ừ ông là ông Hai. Ôi dào quen gì đây là nơi sơ tán đấy nhưng mà. Bao nhiêu người tới người đi. Thế ba má cháu đâu nhưng mà đi lạc thế này? Ông giải đáp.
– Cháu ko nhớ ạ. Ông có thể đưa cháu về được ko?
Ông Hai nhón trong túi thanh toán nước chè rồi dẫn tôi theo sau. Vừa đi ông vừa bảo: “được rồi tôi cứ dẫn cháu về nhà tôi nghỉ lát tí tôi lên báo cho phòng thông tin xã để tìm người thân cho cháu.
Tôi nối bước theo ông Hai về nhà ông. Dọc đường đi tôi thấy ông chào hỏi mọi người nhiệt tình à hóa ra mọi người thường gọi ông là ông Hai Thu ấy. Thế là mong ước của tôi đã thành sự thực rồi tôi đã gặp được ông Hai thật rồi. Về tới nhà ông Hai hỏi tôi tại sao lại bị lạc, ở đâu nhưng mà tới đây? Tôi cũng chẳng biết chuyện gì đang xảy ra nên cũng chỉ ậm ờ trước câu hỏi của ông. Tôi bèn hỏi ông chuyện khác: “Ông ơi dường như làng mình nhiều người hùng lắm ạ? Ông có thể kể cho cháu nghe chuyện các chú đấy đánh giặc thế nào ko ạ?
Như được chạm đúng vào mạch ông Hai thao thao bất tuyệt kể cho tôi nghe về làng ông, với 1 nỗi lòng ham mê tới lạ. Ông khoe nào thì làng ông có cái phòng thông tin tuyên truyền lạc quan phổ quát, cột phát thanh cao quá ngọn tre, mỗi chiều loa gọi cả làng nghe thấy. Nào là cái làng của ông nhiều nhà ngói san sát, cả làng sầm uất như trên tỉnh. Đường trong làng lát toàn đá xanh mưa gió đi chân chẳng dính bùn. Tháng 5 ngày mươi vào mùa gặt phơi lúa thì sướng phải biết….
Dù rằng đã được đọc câu chuyện của nhà văn Kim Lân mà nghe ông Hai kể chuyện tôi vẫn thấy háo hức tới lạ. Sau ấy ông kể tiếp: Kháng chiến chống pháp bùng nổ, ông muốn ở lại cộng với anh em quân nhân bám làng đánh giặc thế mà ngặt nỗi vì cảnh ngộ gia đình nên ông phải sơ tán lên đây. Ở ấy ko ngày nào ông ko nhớ quê hương mỗi lúc nhớ quá ông lại kể về làng mình cho những người sơ tán nghe. Rồi lại hi hữu chạy lên phòng thông tin nghe tin tức quân ta đánh được địch nhưng mà ông vui như mở hội. Rối ông Hai có vẻ trầm mặc: Tôi vội hỏi:
– Ông sao thế ạ? Sao ông lại ngoại trừ tiếp?
Ông Hai nhấp ngụm nước trà rồi nói tiếp. Hôm đấy ông nghe được tin làng chợ Dầu đi theo Việt Gian ông buồn như không thở được, mạch máu trong ông nhu bị đông lại. Ông nghi ngại về cái tin đấy nhưng mà người ta thì khẳng định cứng ngắc. Ông cúi gằm mặt xuống rồi đi 1 mạch về nhà. Lòng ông trĩu nặng. Có cái gì ấy đớn đau tủi hổ lúc 1 người phụ nữ dưới xuôi sơ tán lên nói: “Cả làng nó đi theo tây rồi ông ạ, từ thằng chủ tịch nhưng mà xuống”. Niềm kiêu hãnh bao xưa nay của ông như sụp đổ. Giá như cái tình yêu quê hương của ông ko sâu đậm tới thế thì ông đã ko đớn đau tới thế này.
Về nhà ông nằm vật ra giường. Ông trông thấy lũ trẻ nhưng mà nước mắt cứ trào ra. Ấy thế ra chúng nó cũng là trẻ em làng Việt gian ấy. Chúng nó cũng chịu sự hất hủi rẻ rúm ấy. Thế rồi như chẳng thể chấp thuận được sự thực ông hình dung lại trong đầu những người dân làng ông đều là những người tình nước họ yêu kháng chiến tới thế vì sao lại bán nước? thế mà những lời nói kia thì sao? Không có lửa thì làm sao có khỏi? Hôm đấy bà nhà ông về bà cũng khác biệt chỉ tới tối bà mới dám hỏi ông về cái tin tức ấy, ban đầu ông yên lặng sau ông gắt um lên còn bà im bặt.
Phcửa ải tới mấy ngày hôm sau ông mới dám bước chân ra ngoài đường ông sợ mỗi lần cái loa phát thanh đề cập tin chiến sự. Nỗi đớn đau càng trở thành cao trào trong khi ở đâu người ta cũng đuổi người dân làng Dầu vì ko muốn cho lên sơ tán. Tới ngày mụ chủ nhà ông cũng cố tình đuổi khéo vợ chồng ông. Thế mà ông cương quyết ko đi đâu cả. Đi về là bán nước, bỏ cụ Hồ ông nhất mực ko làm.
Tới đây tôi cũng thấy nghèn nghẹn đau xót. Tôi thấy có thứ gì ấy nhấp nhánh trong suốt chảy ra từ khóe mắt của ông. Lấy tay quệt vội giọt nước mắt ông 2 kể tiếp:
Thế rồi 1 hôm vào khoảng 3 giờ chiều có 1 người con trai tới nhà ông chơi ông đấy rủ ông đi tới tối mới về. về tới nhà ông như hóa thành 1 con người khác. Tới bậc cửa ông đã hét toáng lên “thằng tây nó đốt nhà mình rồi, ông chủ tịch vừa lên báo thế, ông đấy bảo cái tin làng chợ Dầu theo tây là hoàn toàn sai trái”. Cái tin này như hồi sinh ông vậy. Ông phấn chấn lắm ông sắm quà cho mấy đứa con ông lật đật đi khắp nơi để khoe cái làng ông ko theo giặc. Ông chạy sang bác Thứ và lại thao thao bất tuyệt về cái làng của mình 1 cách đầy kiêu hãnh phấn kích.
Đề cập đây ông quệt vội giọt nước mắt phấn kích mỗi lần đề cập kỉ niệm ấy. Tôi như đắm chìm trong câu chuyện của ông 1 con người cả đời dành tình yêu cho làng cho nước cho quê hương bản sứ của mình. Chỉ tới lúc nghe tiếng người gọi ngoài cổng “ Ông 2 ơi ngoài ủy ban đang nói tin về làng chợ Dầu ông kìa”. Ông Hai mới lật đật bước ra dặn tôi ngơi nghỉ, ông ra xem tin tức gì cùng lúc báo cáo về hiện trạng của tôi.
Nhìn cái dáng vẻ khắc khổ của ông đề cập quê hương nhưng mà thấy thật đáng quý thật trân trọng biết bao.
Tiếng chuông báo thức vang lên. Ôi thế là tôi đã tới khi phải dậy tới trường rồi. Hóa ra tôi đã có 1 giấc mơ thật đẹp như thế ấy. Cuộc chuyện trò với ông khiến tôi phần nào thấu hiểu cuộc sống lam lũ của người dân trong cuộc kháng chiến lớn lao mà vẫn ánh lên tình yêu nước sự tin cậy bất tử vào cách mệnh và cụ Hồ.

TagsKim Lân Làng Văn mẫu lớp

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Văn #mẫu #lớp #Tưởng #tượng #gặp #gỡ #và #trò #chuyện #với #ông #Hai #trong #truyện #Làng

Văn mẫu lớp 9: Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai trong truyện Làng

Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai trong truyện Làng mang đến 2 dàn ý cụ thể, cùng 6 bài văn mẫu, giúp các em học trò lớp 9 tham khảo, thu thập vốn từ để hoàn thiện bài viết của mình hay hơn.

Trong truyện ngắn Làng, chúng ta bắt gặp hình ảnh ông Hai với tình yêu quê hương, yêu tổ quốc hết sức mãnh liệt. Hãy thử hình dung mình được gặp mặt, chuyện trò với đối tượng ông Hai thì sẽ như thế nào nhỉ? Mời các em cùng theo dõi bài viết dưới đây của Vik News:
Dàn ý hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai
Dàn ý 1
1. Mở bài: Tạo lập cảnh huống gặp mặt giữa bản thân với ông Hai. Thời điểm, thời kì, dẫn dắt cân đối.
2. Thân bài:
Nói được cảnh ngộ khiến đối tượng ông Hai phải sơ tán. Kể về niềm tự hào, kiêu hãnh, nỗi nhớ quê hương da diết và sự ân cần đến kháng chiến của đối tượng ông Hai
Nêu diễn biến tâm lý đối tượng ông Hai lúc nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, thấy được tình yêu làng quê hòa quyện với tình yêu tổ quốc, Non sông
Từ sự sững sờ, bàng hoàng, đến cảm giác mắc cỡ, lo âu, buồn, chán nản
Sự tuyệt vọng, thất vọng của ông Hai, sự chiến đấu nội tâm gay gắt giữa việc tuyển lựa làng, hay tuyển lựa kháng chiến, giữa đi nơi khác hay trở về làng.
Lời hàn ôn của ông Hai với đứa con trình bày tấm lòng chung tình, son sắc của ông Hai với cách mệnh và kháng chiến, tình yêu nước, yêu Tổ Quốc bao la bao trùm lên tình yêu quê hương của ông Hai
3. Kết bài
Ấn tượng, xúc cảm của em sau cuộc chuyện trò ấy.
Dàn ý 2
I. Mở bài:
– Tạo cảnh huống gặp mặt với ông Hai. Nêu về thời kì, ko gian, vị trí, đối tượng 1 cách có lí, thu hút.
II. Thân bài:
– Đề cập cảnh ngộ khiến ông Hai cùng gia đình phải đi sơ tán; Kể về niềm hãnh diện, kiêu hãnh, nỗi nhớ quê hương da diết và sự ân cần tới cuộc kháng chiến của ông Hai lúc ông ở nơi sơ tán.
– Nêu diễn biến tâm cảnh của ông Hai lúc nghe tin làng Chợ Dầu có người theo giặc làm Việt gian, từ ấy thấy rõ tình yêu làng thâm thúy hòa quyện hợp nhất với tình yêu nước, yêu Tổ Quốc, yêu cách mệnh của ông Hai:
– Từ sự sững sờ, bàng hoàng lúc mới nghe tin đấy tới cảm giác mắc cỡ, lo âu, buồn chán, chán nản rồi nó biến thành 1 nỗi ám ảnh thường xuyên nặng nề khiến ông Hai hết sức đớn đau, khổ sở.
– Sau ấy là tình thế tuyệt vọng, thất vọng của ông lúc ông và gia đình bị đuổi đi, sự chiến đấu nội tâm của ông giữa đi nơi khác hay trở về làng chợ Dầu khiến ông phải đau đầu. Nhưng ông nỗ lực ko trở về làng, vì trở về là chống lại cách mệnh, chống lại Cụ Hồ. Qua ấy thấy rõ được tình yêu nước, yêu Tổ Quốc bao la, bao trùm lên tình yêu quê hương của ông Hai.
– Lời hàn ôn của ông Hai với đứa đàn ông út trình bày tấm lòng chung thủy, son sắc của ông với cách mệnh, với kháng chiến.
– Kể về tâm cảnh vui sướng, vô bến bờ của ông Hai lúc tin làng theo giặc được đính chính.
III. Kết bài:
– Ấn tượng, xúc cảm và nghĩ suy của bản thân em sau cuộc chuyện trò đấy.
Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai – Mẫu 1
Nếu người nào đã đọc và mày mò những tác phẩm truyện của Kim Lân, chắc hẳn mọi người sẽ biết tới tôi. Tôi chính là đối tượng ông Hai trong trong tác phẩm ấy. Bữa nay tôi ở đây sẽ kể lại cho mọi người nghe tất cả diễn biến tâm cảnh và nghĩ suy của mình. Tôi biết Kim Lân đã làm việc này thay tôi rất tuyệt vời, mà tôi vẫn muốn kể lại cho mọi người nghe. Tôi là 1 con người có lòng yêu quê hương thiết tha. Quê hương với tôi đúng là chùm khế ngọt, và với tôi quê hương cũng chỉ có 1 nhưng mà thôi. Tôi yêu ngôi làng bé của mình, yêu con người nơi đây 1 cách bất tận. Với tôi, luôn có 1 niềm tin yêu thâm thúy vào làng chợ Dầu, về con người nơi tôi sinh ra và béo lên. Truyện sẽ chẳng có gì cho đến lúc tôi nghe tin làng tôi theo giặc. Khi bấy giờ tâm cảnh tôi như chẳng thể kiểm soát, có cái gì mắc cứng ở cổ họng, da mặt tê rân rân,… Không phải đợi lâu nữa, ngay sau đây tôi sẽ kể hết cho mọi người nghe toàn thể sự việc.
Ngày đấy, nghe theo Đảng, nghe theo cơ chế của Cụ Hồ. Gia đình tôi cùng bao gia đình ở làng chợ Dầu phải sơ tán để tránh đòn tấn công của kẻ thù, giảm thiểu tối đa thiệt hại về người và của nả. Bao nhiêu 5 sống và đấu tranh trên mảnh đất quê mình. Tới cả nhắm mắt nhắm mũi tôi cũng biết được ở đâu có có khúc sông, có giếng làng. Phcửa ải xa quê, ko ở lại cùng anh em đấu tranh bảo vệ làng làm tôi cũng buồn khó tả. Tôi cũng muốn ở lại với anh em, với các chú quân nhân, đào ấp, xây hầm, quyết chết sống với thằng Tây mũi lõ, dám cướp làng, cướp nước ta. Nhưng vì cảnh ngộ gia đình, mẹ nó và cả đàn con leo nhóc, tôi chẳng thể bỏ chúng được,tôi đành đi. Nhưng tôi luôn có niềm tin dân làng mình sẽ đấu tranh tới cùng để bảo vệ từng tấc đất cho quê hương. Tôi kiêu hãnh về làng mình lắm. Nói không hề khoe chứ làng tôi có nhiều cái hay lắm, nhưng mà tôi muốn cho mọi người biết. Tôi nói nhiều tới nỗi cụ Thứ còn biết hết, nhớ hết những điều tôi nói. Làng tôi, mọi người có biết ko, có cái phòng thông tin truyền thông lạc quan nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy. Làng tôi nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh. Với tôi làng tôi luôn hấp dẫn nhất, tôi kiêu hãnh về mọi thứ ở làng tôi có. Tôi luôn nói cho mọi người biết làng tôi đẹp, người dân thực thà chân chất, yêu lao động, yêu hòa bình, ghét cái bọn Tây cướp nước như thế nào, dù ko súng, ko đạn, chỉ cần cuốc, xẻng, gậy gộc, hay tay ko chúng tôi cũng đánh.
Mọi thứ vẫn diễn ra, kháng chiến vẫn đang trường kì. Tôi mong chờ 1 ngày bọn Tây nó chết hết đi, dám cướp nước, cướp làng ta, làm bao kiếp khổ. Buổi trưa hôm đấy, tôi ở nhà 1 mình, con nhỏ béo thì gánh hàng cho mẹ nó ngoài chợ bán. Còn 2 đứa bé, tôi cho nó ra vườn chơi, vừa trông bọn gà ko cho chúng phá rau. Tôi thì từ sáng đến giờ vỡ được mấy luống đất rồi, đang tính là trồng thêm mấy luống rau. Nhà mỗi người 1 việc, việc béo thì người béo làm, việc bé thì người bé làm. Đang mệt nằm giường nghỉ 1 lát, thế nào tôi lại nghĩ tới làng mình. Nghĩ đến làng, tôi vui lắm, như trẻ ra vậy. Tôi lại lẩm bẩm mấy câu hát ngày xưa, sao nhưng mà nhớ làng tới lạ. Muốn về với anh em đồng cam cộng khổ loạn đả với bọ Tây cướp nước. Ngày trước tôi có muốn đi đâu, nhưng mà bà nó giục quá, cứ bảo con nhỏ tuổi, tôi ko đi thì mẹ con chúng biết chông cậy vào người nào, thế là thương nhân đình tôi đi sơ tán, chứ có 1 mình, tôi quyết ko bao giờ bỏ làng nhưng mà đi. Nghĩ linh tinh, tôi đứng dậy ra khỏi nhà. Ghét cái bọn Tây, tôi chửi đổng.
– Nắng thế này bỏ mẹ chúng nó.
Người đi đường thấy tôi nói vậy quay lại hỏi
– Bọn nó nào?
Tôi chỉ tay về chỗ có tiếng súng
– Tây chứ còn bọn nào nữa. Ngồi trong địa điểm giờ bằng ngồi tù.
Rồi tôi lại đi tiếp, hôm nào cũng vậy, tôi lại ra phòng thông tin nghe tin tức. Tuy tôi ko biết mặt chữ in mà cũng muốn ra nghe tin tức kháng chiến lắm. Chả phải hóng hớt mà tôi thích nghe tin bữa nay mình đánh được bao lăm thằng, thắng ở đâu, như thế làm tôi vui lắm. Ra đây nghe tin tức, tôi ghét là ghét mấy anh cậy chữ đọc thầm, chẳng cho người nào nghe với. May sao bữa nay có anh độc giả mập cho mọi người cùng nghe. Cao ôi bao lăm là tin tức hay, có tìm 1 em bé trong ban truyền tin can đảm cắm lá cờ quốc kì lên nóc hồ gươm. Tuổi bé nhưng mà can đảm vậy ấy. 1 anh đội trưởng sau lúc giết thịt 7 tên giặc đã tự vẫn bằng 1 quả lựu đạn rốt cuộc. Cứ cái đà này, thì kháng chiến rồi cũng chấm dứt thôi, bọn Tây cũng phải đầu hàng.
Rời khỏi phòng thông tin, tôi ra gốc đa xù xì nơi mọi người hay ngồi nghỉ, làm điếu thuốc lào, uống ngụm nước chè tươi hot. Bao nghĩ suy vui mưng cứ múa lên trong đầu tôi. Thđấy mấy ông bà từ dưới lên. Thì ra là mấy ông bà từ gia lâm lên, cũng hỏi chuyện thóc lúa đồng áng xem như thế nào. Mấy bữa nay thấy súng bắn nhiều, tôi hỏi
– Này bác có biết mấy bữa nay súng bắn ở đâu nhưng mà rát thế.
– Nó rú từ Bắc Ninh qua chợ Dầu khủng bố ông ạ. 1 người phụ nữ đang cho con bú nói sang
Thđấy tin quê mình bị địch bắn, tôi vừa lo, vừa sợ, lắp bắp hỏi:
– Nó…nó vào chợ Dầu hả bác? Thế giết thịt được bao lăm người
– Có giết thịt được thằng nào đâu. Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây.
Như sét đánh ngang tai, cổ họng tôi nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân. Tôi tưởng như nghẹt thở. Tôi lắp bắp mãi mới hỏi lại được
– Có thật ko hay chỉ là…
– Thì chúng tôi từ đây lên. Việt gian từ thằng chủ tịch đi ông ạ. Tây nó vào chúng nó bảo nhau vác cờ thần ra hô. Thằng chánh Bệu khuân cả tủ chè, đỉnh đồng, vải vóc vác lên cam nhông, đưa cả vợ con lên địa điểm giặc nhưng mà ngồi nhưng mà.
Bầu trời như tối đi ngay trước mắt, tôi đứng dậy thanh toán nước đi về. Bao nghĩ suy cứ nhảy múa trong đầu tôi. Hai chữ việt gian nhưng mà người phụ nữ nói nó vẫn vong vỏng bên tai tôi. Đằng sau có tiếng chửi làng, tim tôi như quặn lại. Về nhà lũ trẻ thấy tôi khắc, chúng chả dám hỏi, nhìn chúng tôi lại thương. Nó là con nhà Việt gian sao, chúng nó sẽ bị mọi người xa lánh sao. Tôi nắm chặt 2 tay nhưng mà rít lên.
– Chúng mày ăn miếng cơm hay miếng gì vào miệng nhưng mà đi làm Việt gian bán nước điếm nhục thế này.
Chiều hôm đấy, bà nó đi chợ về, thấy nét mặt khác, là tôi biết lại vì cái tin đồn làng tôi theo Tây rồi. Từ khi biết tin, tôi chẳng dám ra ngoài, tôi buồn và mắc cỡ tại sao dân làng mình lại làm tương tự. Không khí trong nhà tôi như năng lề hơn bao giờ hết. Bà nó đêm ấy quay sang bảo tôi hay về làng, tôi bực lắm gắt.
– Không về làm gì cái làng đấy nữa, chúng nó theo Tây cả rồi, về làng tức bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ. Về làm tức chịu làm bầy tớ cho Tây.
Yêu làng bao lăm giờ nghe tin làng theo giặc tôi buồn bấy nhiêu. Chẳng biết hàn ôn cùng người nào, quay ra ôm thằng út vào lòng. Thằng nhỏ bạo dạn dơ tay bảo .
– Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn 5.
Nó làm tôi vui hơn, tôi tin vào con người làng mình hơn. Rồi khoảng khi đấy chắc 3h chiều, có 1 anh bạn tôi cũng ở làng chợ Dầu qua nhà, tôi quyết định phải đồng hành anh về quê xem tình hình thế nào. Và mọi thứ được minh bạch, tôi vui tươi rạng rỡ hẳn lên, khác hẳn với mấy ngày hôm trước. Tôi còn sắm cho bọn trẻ nhà tôi í kẹo bánh cơ. Tôi vui lắm, đi khoe khắp làng.
– Bác Thứ đâu rồi? Bác Thứ làm gì ấy? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ, đốt nhẵn, ông chủ tịch chỗ tôi mới lên cải chính, ông đấy cho biết, cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng tôi theo Tây, láo, quá láo.
Tôi đi khoe hết bà con lối xóm, khoe nhà tôi bị đốt, nhà bị đốt nhưng mà tôi vẫn vui, tôi vui vì làng tôi trong lành, mọi người ko người nào làm việc gian. Mọi người khó nhưng mà hiểu lòng tôi, thế nhưng mà tới tài ông Kim Lân ông ý biết.
Ấy, chuyện là như thế, tôi yêu làng mình và sẽ mãi tin cậy mọi người trong làng tôi. Cũng phải cảm ơn cái ông nhà văn Kim Lân đã viết được tác phẩm làng hay như thế, để tôi bữa nay được kể lại cho mọi người nghe.
Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông 2 – Mẫu 2
Quê hương là gì hở mẹMà cô giáo dạy phải yêuQuê hương là gì hở mẹAi đi xa cũng nhớ nhiều.
Chúng ta người nào cũng có quê hương, nơi chôn rau cắt rốn, nơi nuôi dưỡng những tâm hồn thơ nhỏ, nơi nhưng mà dù đi xa đến đâu ta đều hướng về. Riêng tôi ấy là cái làng chợ Dầu đầy nhớ thương. Mọi người thắc mắc tôi là người nào ư? Tôi chính là ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân.
Ôi cái làng chợ Dầu của tôi! Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh làng tôi có cái phòng thông tin rộng nhất vùng, cái chòi phát thanh cao tít bằng ngọn tre, chiều chiều tiếng loa gọi văng vẳng khắp cả 1 khoảng trời, ko người nào là ko nghe thấy. Rồi nhà ngói san sát nhau, sầm uất như tỉnh. Đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió thả phanh đi khắp đầu làng cuối xóm, bùn ko dính tới gót chân. Tháng 5 ngày mười phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng, ko có lấy 1 hạt thóc đất. Chẳng là tôi kiêu hãnh về cái làng của tôi lắm các bác ạ. Tôi vẫn có tính hay khoe làng như thế lâu nay. Thế nhưng mà chỉ vì cái bọn giặc đáng khinh kia nhưng mà làng chợ Dầu bị hủy hoại, dân trong làng thì phải đi sơ tán hết.
Hiện giờ khoe làng, tôi khoe khác. Tôi khoe những ngày khởi nghĩa dập dồn ở làng, nhưng mà tôi gia nhập phong trào từ thời đoạn còn bóng tối. Những buổi tập quân sự. Cả giới phụ lão có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập 1 2. Mỗi lần hô động tác, anh đào tạo viên lại phải đệm tiếng ạ… thườn thượt đằng sau: “Nghiêm ạ!… Nghỉ ạ!… Vác súng lên vai ạ!…”. Nhất là những hố, những ụ, những giao thông hào của làng tôi thì làm mướn trình ko để đâu hết. Ba chìm 7 nổi mười mấy 5 trời mới lại được trở về quê hương bản quán.
Thực tình tôi ko muốn sơ tán lên trên này 1 chút nào. Nhưng bà Hai nhà tôi cứ khóc lóc, bà nài nỉ bắt tôi phải đi, bà bảo:
-Thế ông định bỏ mẹ con tôi chết đói à? Ông phải lên coi ngó chúng nó cho tôi xoay xỏa chứ. Rồi bà khẩn khoản nói với mọi người, khẩn khoản với đồng đội thôn đội trưởng, mọi người đồng ý để tôi đi, tôi đành phải nghe theo.
Những ngày đầu ở trên này công tác ko có, trong người tôi khi nào cũng bực bõ, ko yên. Cũng tới khổ bà nhà tôi các bác ạ. Tôi quay sang cáu gắt mẹ con nhà bà đấy. Nhưng tôi nghĩ mình sinh sống ở cái làng này từ tấm nhỏ tới bây giờ. Cha ông cụ kỵ mình xưa kia cũng sinh sống ở cái làng này đã từ bao lăm đời nay rồi. Hiện giờ gặp phải cái khi hữu sự như thế này mình lại đâm đầu bỏ đi còn ra thế nào nữa. Công tác là công tác chung chứ của riêng mình người nào?
Mỗi lần tôi bước chân ra khỏi cái gian nhà tối thấp bộn bề những bồ, bị, nồi, niêu, và những dây áo quần ẩm sì đấy là tôi nhẹ nhàng, tươi tắn hẳn lên. Sao nhưng mà tôi sợ cái gian nhà đấy thế! Nhất là những buổi trưa im ắng, oi ả, có tiếng mụ chủ nhà nói léo nhéo ở bên ngoài, thì tôi ko sao chịu được. Tôi phải đi cho nó khuất. Tôi chưa thấy người phụ nữ nào tham lam, tinh khôn như mụ ta. Người thì còm cõi như thanh củi khô. Cái mồm mỏng lèo lèo, nói cứ liến đi, nhưng mà chúa thần là gian. Không vào nhà thì thôi, động vào nhà là nhòm.
Ngay từ dạo mới lên, tôi đã bực mình với mụ đấy lắm rồi. Nghe xóm giềng ở đây người ta nói, tôi biết mụ không hề là người đứng đắn.
Buổi trưa hôm đấy tôi ở nhà 1 mình. Con nhỏ béo gánh hàng ra quán cho mẹ chưa thấy về. Hai đứa nhỏ thì tôi bắt chúng nó ra vườn trồng mấy luống rau mới cấy lại chẳng gà vặt hết. Tôi hì hục vỡ 1 vạt đất rậm, ngoài bờ suối từ sáng tới bây giờ, tôi tính để trồng thêm vài trăm gốc sắn ăn vào những tháng đói sang 5. Tới lúc mỏi nhừ tôi vào nhà nằm vật lên giường vắt tay lên trán nghĩ ngợi vẩn vơ. Tôi lại nghĩ về cái làng của tôi, lại nghĩ tới những ngày cùng làm với anh em. A, sao nhưng mà độ đấy vui thế. Tôi thấy mình như trẻ ra. Cũng hát hỏng, bông phèng, cũng đào, cũng cuốc đê mê suốt ngày. Trong lòng Tôi lại thấy nô nức hẳn lên. Tôi lại muốn về làng, lại muốn được cùng anh em đào đường đắp ụ, xẻ hào, khuân đá… Không biết cái chòi gác ở đầu làng đã dựng xong chưa? Những đường hầm bí ẩn chắc là còn khướt lắm. Chao ôi! Tôi lão nhớ làng, nhớ cái làng quá. Bên ngoài, ánh nắng rọi xuống mặt sân sáng lóa, có mấy tiếng gà trưa cất lên eo óc. Gian nhà càng như lịm đi, mờ mờ hơi đất. Giờ này là mụ chủ sắp đi làm ruộng về đây. Tôi lại sắp phải nằm trong này nhưng mà nghe mụ chửi con mắng cái, kêu vại nước chóng cạn, cái bếp bừa bộn léo nhéo lên đây. Tấm liếp che cửa bỗng kêu lạch xạch, gian nhà sáng bừng lên. Tôi giật thột, ngách đầu nhìn ra. Đứa béo gồng đôi thúng ko bước vào. Tôi cất tiếng hỏi:
– Ở ngoài đấy làm gì nhưng mà lâu thế mày?
Không để đứa con kịp giải đáp, tôi nhổm dậy vơ lấy cái nón:
– Ở nhà trông em nhá! Đừng có đi đâu ấy. Tôi giơ tay chỉ lên nhà trên và bước ra ngoài.
Bên ngoài trời xanh lồng lộng, có những tảng mây sáng chói, lờ đờ. Đường vắng hẳn người qua lại. Họ rạt cả vào các khoảnh bóng cây tránh nắng. 1 vài tiếng động nhẹ khẽ gợn lên, oi ả. Tôi đi ngông nghênh giữa đường vắng, cái đầu cung cúc lao về phía trước. Hai tay vung vẩy, nhấp nhỏm. Cũng như thường lệ, tôi ghé vào trạm thông tin nghe ngóng tình hình chiến sự. Biết bao là tin hay đều được cập nhật ở đây. Ruột gan tôi cứ như múa cả lên. Nhưng chừng như hạnh phúc của con người thật là bé bỏng. Ngờ đâu cái vui vẻ đấy chỉ là 1 ngày lặng gió trước lúc giông bão nổi lên. Bước ra khỏi phòng thông tin, tôi rẽ vào dặn vợ vài việc rồi theo lối huyện cũ nhưng mà đi. Tôi tạt qua quán nước ngồi. Ở đây, những tốp người sơ tán dưới xuôi lên đứng ngồi lố nhố. Nghe 1 người phụ nữ nói bọn Tây nó vào làng chợ Dầu, nó khủng bố, tôi lo âu, quay phắt lại lắp bắp hỏi:
– Nó… Nó vào làng Dầu hở bác? Thế ta giết thịt được bao lăm thằng?
– Có giết thịt được thằng nào đâu. Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây còn giết thịt gì nữa!
Giọng người phụ nữ the thé, đầy mùi căm giận. Nó như gáo nước lã tạt thẳng vào mặt tôi. Tôi sững sờ. Cổ họng nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, tưởng như tới nghẹt thở. Khóe mắt cứ giật giật, các dây tâm thần như tê liệt. 1 khi lâu sau, tôi mới rặn è è, nuốt cái gì vương vướng ở cổ, hỏi lại, giọng lạc hẳn đi:
– Liệu có thật ko hở bác? Hay lại chỉ…
– Thì chúng tôi vừa ở dưới ấy lên đây nhưng mà…
Tôi chưa dứt lời thì người ta đã nói. Dứt khoát. Chắc như đinh đóng cột. Tôi đờ người. Hai tai ù ù. Chẳng còn nghe thấy gì cả. Giọng người kia như lẫn vào trong gió. Tôi thanh toán nước, lao đao đứng dậy. Chèm chẹp mồm, cười nhạt 1 tiếng:
– Hà, nắng gớm, về nào…
Tôi cúi gằm mặt xuống nhưng mà đi. Tôi thoáng nghĩ tới mụ chủ nhà. Về tới nhà, tôi nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy tôi bữa nay có vẻ khác, len lén đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau. Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt tôi cứ tràn ra…
– Chúng nó cũng là trẻ em làng Việt gian ấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hất hủi ấy ư? Khốn nạn, bằng đấy tuổi đầu… tôi nắm chặt 2 tay lại và rít lên:
– Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào miệng nhưng mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để điếm nhục thế này!
Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn tới thế được. Tôi kiểm điểm từng người trong óc. Không nhưng mà, họ toàn là những người có ý thức cả nhưng mà. Họ đã ở lại làng. Quyết tâm 1 sống 1 chết với giặc, có có lẽ nào lại can tâm làm điều điếm nhục đấy!… Nhưng sao lại nảy ra cái tin tương tự được? Nhưng mà thằng chánh Bệu thì đích thị là người làng ko sai rồi. Không có lửa thì sao có khói? Ai người ta hơi đâu bịa tạc ra những chuyện đấy làm gì. Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Một mai biết làm ăn, giao thương ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta giao thương mấy. Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta kinh tởm, người ta hằn thù cái giống Việt gian bán nước… Lại còn bao lăm người làng, tan tác mỗi người 1 phương nữa ko biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa?
Tối đấy ko người nào nói với người nào câu nào, ko gian tĩnh lặng tới lạ. Rồi vẫn cái giọng rầm rì như thường nhật:
– Này thày nó ạ.
Tôi nằm rũ ra trên giường ko nói gì.
– Thày nó ngủ rồi à?
– Gì? Tôi khẽ động đậy:
– Tôi thấy người ta đồn… tôi gắt lên:
– Biết rồi!
Tôi nghĩ rợn cả người. Cả cuộc đời bất minh, lầm than cũ nổi lên trong ý tưởng . Tôi chẳng thể về cái làng đấy được nữa. Về hiện thời ra tôi chịu mất hết à? Không thể được! Làng thì yêu thật, mà làng theo Tây mất rồi thì phải thù. Tôi ôm thằng con út lên lòng, vỗ nhè nhẹ vào lưng nó, khẽ hỏi:
– Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con người nào?
– Là con thầy mấy lỵ con u.
– Thế nhà con ở đâu?
– Nhà ta ở làng chợ Dầu.
– Thế con có thích về làng chợ Dầu ko? Thằng nhỏ nép đầu vào ngực tôi giải đáp khe khẽ:
– Có. Tôi ôm khít thằng nhỏ vào lòng, 1 khi lâu lại hỏi:
– À thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ người nào? Thằng nhỏ giơ tay lên, bạo gan và rành rẽ:
– Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn 5! Nước mắt tôi giàn ra, chảy ròng ròng trên 2 má. Tôi rủ rỉ:
– Ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhỉ.
Chiều hôm đấy có anh cùng làng tới chơi, cũng người chợ Dầu các bác ạ. Tôi đóng khăn áo chỉnh tề tất tưởi theo hắn đi. Tôi hấp tấp tới quên cả dặn trẻ coi nhà. Tôi đi mãi tới xẩm tối mới về. Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Miệng bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy… Vừa tới ngõ tôi đã lên tiếng:
– Chúng mày đâu rồi, ra thầy chia quà cho nào.
Rồi tôi vội sang bác Thứ khoe:
– Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn. Ông chủ tịch làng em vừa lên cải chính… Cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng em Việt gian đấy nhưng mà. Láo! Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn là sai sự mục tiêu cả!
Ấy câu chuyện là như thế ấy mọi người ạ. Cho đến nay nghĩ lại tôi vẫn ko sao quên được cảm giác lúc nghe tin cải chính. Bởi vì có niềm tin vào Đảng, vào bác Hồ và cả cái làng của tôi nữa nên kháng chiến mới chiến thắng như ngày bữa nay. Tôi mong qua câu chuyện của tôi mọi người sẽ thêm yêu quê hương của mình.
Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai – Mẫu 3
Mỗi đối tượng văn chương đều đánh dấu trong tôi nhiều ấn tượng không giống nhau. Khi câu chuyện về họ khép lại, lòng tôi lại gợi mở ra nhiều nghĩ suy. Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” có nhẽ là người gây cho tôi nhiều ám ảnh nhất. Nỗi ám ảnh đấy theo tôi cả vào giấc mơ.
Trong mơ, tôi thấy mình đang ở 1 ngôi làng bé miền trung du, mấy chục ngôi nhà đứng cạnh nhau. Không điện đường, ko khói bụi ầm ĩ, tất cả bình an trong treo trông như làng quê nhiều 5 về trước. Tôi mơ mòng bước đi trên tuyến đường đất bé. Dưới gốc đa xù xì, người đứng người ngồi, chuyện trò râm ran. Xa xa có cánh đồng lúa rộng rộng lớn, đàn cò bay lượn trắng cả 1 vùng…
Tôi lang thang hết đoạn đường dài, tới lúc chân mỏi định tìm 1 nơi nghỉ tạm. Bất thần tôi trông thấy 1 ông cụ khoảng chừng 6 mươi tuổi, dáng người mảnh mai ngồi trong quán nước vừa hút thuốc lào vừa uống nước chè, mồm tóp tép ra điều đắc chí lắm. Càng nhìn, tôi càng thấy giống dáng vẻ ông Hai nhưng mà nhà văn Kim Lân mô tả. Không lẽ tôi đi vào giấc mơ gặp ông Hai? Nghĩ vậy, tôi bạo dạn bước đến chỗ quán nước, hỏi ông:
– Cháu chào ông ạ! Ông có phải ông Hai người làng chợ Dầu ko ạ?
Nghe tôi nhắc đến làng chợ Dầu, ông liền ngửng mặt nhìn tôi, 2 mắt sáng rỡ:
– Đúng rồi cháu, ông là người làng chợ Dầu. Cháu là người nào? Cũng là người làng sơ tán lên ư? Sao ông lại chưa thấy cháu bao giờ?
Bấy giờ tôi mới vỡ vạc, ông đúng là ông Hai thật. Nhưng nơi này không hề làng của ông nhưng mà là nơi sơ tán. Tôi lễ độ đáp lại câu hỏi của ông:
– Dạ cháu từ nơi khác tới đây. Cháu có nghe đề cập làng chợ Dầu nên muốn hỏi ông vài điều ạ.
– Cháu ngồi xuống đây, uống miếng nước rồi ông cháu mình chuyện trò. – Nghe nhắc đến làng của mình, ông Hai phấn chấn ra mặt, ông rót cho tôi 1 chén nước rồi bảo tôi ngồi xuống.
Tôi ko biết khởi đầu câu chuyện từ đâu, đành hỏi ông làng Chợ Dầu của ông cách đây bao xa, làng có giống như nơi này ko. Ông như chỉ chờ có vậy, nói 1 hơi dài ko nghỉ, ông khoe:
– Làng ông có phòng thông tin tuyên truyền lạc quan phổ quát nhất vùng, chòi phát thanh cao bằng ngọn tre, chiều chiều phát thanh cả làng đều nghe thấy. Làng ông nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh. Đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió thả phanh đi khắp đầu làng cuối xóm, buồn không phải dính đến gót chân. Tháng 5 ngày mười phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng, ko có lấy 1 hạt thóc đất. – Mắt ông sang lên, nói phân minh ko sai 1 chữ, giống như ông đã ghi nhớ hết, chỉ cần có người nào hỏi là ông có thể nói ngay.
Ngừng 1 lát, như nhớ ra điều gì ấy, ông lại nói:
– Chết! Còn cái dinh cơ cụ thượng làng ông. Có lắm là của. Vườn hoa cây cảnh nom như động đấy. Có cái tượng đá ông Hoàng Thạch Công đánh rơi giày, bát tiên quá hải bằng người sứ. Cả cái cọc sắt cắm vào cái bầu rượu có đắp 4 con giơi quét vôi vàng mãi tít trên ngọn sinh phần là cột thu lôi, thu cả sấm sét vào. Khiếp lắm!
Ông mê mải khoe mãi, khoe hết mọi thứ trong làng ông. Nhân khi ông ngừng lại uống nước, tôi liền hỏi:
– Làng tốt tương tự, sao ông lại sơ tán tới đây ạ?
Không háo hức như trước ấy, bộ mặt ông như trầm hẳn xuống, ông ko giải đáp tôi ngay nhưng mà hướng ánh mắt ra xa, chậm trễ nói:
– Kháng chiến nổ ra, ông cũng ko muốn xa làng, muốn ở lại cùng anh em quân nhân và dân binh kháng chiến bảo vệ làng. Nhưng sau cuối, ông vẫn phải mang theo gia đình đi sơ tán. Ông nhớ làng, nhớ cả những tháng ngày cùng anh em đào đường đắp ụ, mệt cơ mà vui lắm… Nhớ làng nên ngày nào ông cũng ra phòng thông tin để nghe tin tức kháng chiến. Ông vừa mới từ nơi ấy ra đây ngồi thì gặp cháu.
Cảm thu được nỗi nhớ trĩu nặng qua giọng nói của ông, tôi vừa thương vừa thán phục tình yêu làng của ông. Để ông ko quá đau lòng lúc nhớ làng nhưng mà vẫn chưa thể trở về, tôi vội hỏi:
– Hẳn là có nhiều tin tức thắng trận từ làng lắm đúng ko ạ?
– Có chứ cháu, tin quân ta giết thịt địch, rồi tin thằng bé bỏng tuổi dám bơi ra giữa hồ cắm cờ của ta. Nghe nhưng mà gan ruột ông cứ múa hết cả lên. – Nét mặt ông lại rạng rỡ hẳn lên. Có nhẽ tình yêu làng thiết tha đã nung đúc lên tình yêu nước mãnh liệt trong ông.
Tôi thấy ông lại lặng người đi, ko hiểu tại sao cũng ko dám lên tiếng hỏi. 1 lát sau ấy, ông lại tiếp diễn kể:
– Cách đây ít lâu, ông nghe tin dữ từ làng Chợ Dầu. Hôm đấy, ông gặp tốp người sơ tán từ Gia Lâm, người ta nói cả làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây. Cảm giác ấy vẫn còn nguyên, cổ họng nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân. Ông lặng đi, tưởng như chẳng thể thở được. Ông cố hỏi lại mà người ta vẫn một mực ấy là sự thực. Sau ấy, người ta nói gì ông cũng ko nghe rõ, cúi mặt nhưng mà đi về.
Ông Hai yêu làng tương tự, ngày nào cũng đợi mong tin tức về làng, tới lúc nghe tin lại là tin như thế. Chắc hẳn lúc đấy, ông đớn đau sững sờ lắm. Tôi chỉ nghĩ thầm trong lòng nhưng mà ko dám ngắt lời ông. Dù là chuyện đã qua và không hề sự thực mà nỗi đau lúc đấy nhớ lại vẫn làm ông nghẹn ngào:
– Khoảng thời kì ấy rất gian truân. Ông ko tin người làng lại đổ đốn ra tới vậy. Nhưng ko có lửa làm sao có khói? Nhìn lũ con ông lại càng đớn đau hơn, nếu là thật không hề chúng là trẻ em làng Việt gian sao? Rồi ông lại hay tin người làng Chợ Dầu đi tới đâu là đuổi tới ấy. Gia đình ông cũng là người làng Chợ Dầu, lại đang sơ tán. Mụ chủ nhà hôm đấy cũng đến đuổi khéo. Ông tuyệt vọng ko biết làm thế nào cho phải…
– Ông có nghĩ sẽ trở lại làng ko ạ? – Tôi hỏi
Ông Hai lại nhấp thêm 1 ngụm chè:
– Suy nghĩ đấy có thoáng qua, mà làng thì yêu thật mà làng theo Tây mất rồi thì phải thù. Thằng con út ông đấy vậy nhưng mà sáng dạ lắm, những ngày tin làng theo giặc đồn ra, mắc cỡ điếm nhục ông nào dám đi đâu. Ở nhà, ông rủ rỉ chuyện trò với nó, thằng nhỏ muốn về làng mà nó ủng hộ cụ Hồ. Tâm bố con ông là vậy, bên trên cụ Hồ, an hem xét soi cho bố con ông.
Đoạn, nét mặt ông vui mừng hẳn lên:
– Nhưng may mắn cháu ạ, mấy hôm sau, tin làng Chợ Dầu theo Tây được cải chính. Bọn Tây nó đốt nhà ông, ông chủ tịch làng ông lên tận nơi cải chính. Ông vui quá cháu ạ.
Tôi thấy nước mắt ông tràn qua kẽ mắt, thầm cảm chạnh lòng yêu làng của ông. Dù ông nói phải thù vì làng theo Tây mất rồi, mà ông vẫn chưa từng thôi kì vọng tin tức kia là giả, làng của ông vẫn là làng kháng chiến. Tôi định hỏi tiếp thì nghe thấy tiếng loa phát thanh ở xa, ông Hai đứng dậy rồi chạy đi. Tôi gọi với theo thì chỉ nghe tiếng ông vọng lại:
– Chắc là có tin ta thắng trận, ông phải ra xem mới được…
Tôi choàng tỉnh. Nhìn bầu trời đầy sao bên ngoài cửa sổ tôi mới hay mình ngủ quên trên bàn học, quyển sách giáo khoa mở đúng truyện ngắn “ Làng”. Dù chỉ là 1 giấc mơ mà tôi vẫn cảm thu được tình cảm yêu làng, yêu nước đáng quý của ông Hai. Ông chính là đại diện cho phân khúc dân cày yêu nước, kháng chiến giành độc lập dân tộc, đáng trân trọng, truyền tụng.
Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai – Mẫu 4
Thật đúng như nhà văn I-li-a Ê-ran-bua nói: “Lòng yêu nhà, yêu thôn ấp, yêu đồng quê trở thành lòng yêu Non sông”. Quả thật, ông Hai trong truyện ngắn “ Làng” là hình ảnh đẹp của những người dân cày tầm thường mà giàu lòng yêu nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trước đây (1946-1954). Ông Hai là hình tượng người dân cày trong cuộc kháng chiến chống Pháp với những tình cảm chân thật và thắm đượm tình yêu quê hương, tổ quốc. Và kể từ được học tác phẩm “Làng” tôi thường ước mơ được gặp ông để mày mò rõ hơn điều gì đã xảy ra với ông. Điều ấy đã thành sự thực cách nay chưa lâu. Tôi chẳng thể quên được phút giây phút ấy.
Không gian mờ ảo đưa tôi đi. Khi tôi mở mắt ra thì thấy mình ở trong 1 ngôi làng trung du bé. Cái làng này chỉ có chừng vài mươi nóc nhà. Tôi mơ mòng đi trên tuyến đường đất thẳng giữa làng. Tôi thấy, những tốp người đứng ngồi lố nhố cả ở dưới mấy gốc đa xù xì, cành lá rườm rà ken vào nhau, rải xuống mặt đường và bãi cỏ 1 vùng bóng mát rộng. Tiếng quạt, tiếng thở, tiếng trẻ em khóc, cộng với tiếng cười nói râm ran 1 góc đường. Dưới chân đồi, những thửa ruộng lúa xanh mượt, uốn vòng vèo dưới trời nắng, lấp loáng như 1 khúc sông. Có mấy bóng cò trắng bay dật dờ…. Tôi giật thột. Tôi thấy cảnh này vừa lạ vừa quen. Nghe đâu tôi đã gặp đâu ấy rồi thì phải mà tôi ko nhớ được. Bỗng tôi trông thấy ông lão ngồi trong 1 cái quán gần ấy. Hút thuốc lào, uống chè tươi hot, ông tóp tép cái mồm như có bao lăm ý tưởng vui thích chen chúc trong đầu óc. Tôi bạo dạn vận động gần. Hiện giờ tôi mới nhìn rõ ấy là ông lão người mảnh mai, đầu chít khăn, dáng bộ gọn ghẽ. Tôi đoán ông độ trên dưới 6 mươi.
– Chào ông? Ông có biết đây là đâu ko? Tôi hỏi.
– Cháu ko biết mình ở nơi sơ tán à! Thầy u cháu đâu?
– Cháu ko biết vì sao cháu ở đây? Ông giúp cháu về nhà nhé?
Ông Hai đặt bát nước xuống chõng nói: Thôi cháu theo ông về nhà, để ông báo chính quyền tìm người thân cho cháu. Ông Hai thanh toán nước, đứng dậy, chem chẹp mồm 1 tiếng, vươn vai nói mập: về nào…
Tôi theo ông về nhà. Trên đường đi ông giới thiệu mình là người làng chợ Dầu và mọi người thường gọi tôi là ông Hai Thu. Khi ấy tôi mới trông thấy mình đang chuyện trò với người mình mơ gặp xưa nay. Tôi đang bâng khuâng ko biết điều này thực hay mơ đây thì đã về đến nhà. Vào nhà ông rót nước và hỏi chuyện tôi. Ông hỏi tôi từ đâu đến, tại sao lạc thầy u… Tôi chỉ giải đáp ậm ờ cho qua chuyện. Tôi nói lảng hỏi sang chuyện khác:
– Cháu nghe nói làng chợ Dầu người hùng lắm! Ông có thể kể cho cháu nghe về nó ko?
Như bắt được mạch, ông Hai kể trong say sưa. Ông chuyện trò về làng 1 cách ham mê và nô nức lạ đời. Hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mặt lay chuyển, hoạt động. Ông khoe làng ông có cái phòng thông tin tuyên truyền lạc quan phổ quát nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy. Ông khoe làng ông nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh. Đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió thả phanh đi khắp đầu làng cuối xóm, buồn ko dính tới gót chân. Tháng 5 ngày mười phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng, ko có lấy 1 hạt thóc đất.
Dù đã đọc những điều này trong truyện mà tôi vẫn cảm thấy xúc động. Tôi nhìn ông Hai say sưa kể tiếp: Kháng chiến bùng nổ ông muốn ở lại làng cùng anh em quân nhân và dân binh kháng chiến. Nhưng vì cảnh ngộ gia đình nên ông phải cùng gia đình đi sơ tán. Ở nơi sơ tán ông rất nhớ làng và thường có hay khoe về làng mình. Hôm nào ông cũng ra phòng thông tin để nghe tin tức kháng chiến. Ruột gan ông cứ múa hết cả lên lúc nghe được bao lăm tin hay – toàn tin quân ta giết thịt được địch.
Đề cập đây ông ngừng lại, trầm mặc nghĩ suy. Tôi vội hỏi:
– Chuyện gì xảy ra vậy ông? Sao ông ngừng lại ngoại trừ tiếp?
Ông Hai nhìn tôi với cặp mắt đầy suy tư
– Từ từ chứ! Chờ ông uống miếng nước đã. Nói xong ông lấy ly nước uống 1 ngụm. Uống xong ông kể tiếp: Hôm đấy đang trong tâm cảnh nô nức thì ông nghe được tin làng chợ Dầu của ông theo Tây làm Việt gian. Khi ấy cổ họng ông nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân. Ông lặng đi, tưởng như nghẹt thở. 1 khi lâu ông mới rặn è è, nuốt 1 cái gì vướng ở cổ, ông hỏi lại về cái tin đấy thì người ta đã khẳng định 1 cách vững chắc. Ông vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác rồi đi thẳng về nhà.
Nghe ông kể tôi có thể cảm thu được tâm cảnh ông khi ấy. Có gì đớn đau, tủi hổ cho ông Hai bằng lúc nghe 1 người phụ nữ sơ tán từ dưới xuôi lên nói: “Cả làng chúng nó (làng Dầu) việt gian theo Tây”, “Việt gian từ thằng chủ tịch nhưng mà đi cơ ông à!”, Niềm kiêu hãnh bao lâu bỗng chốc tan nát, sụp đổ. Giá ko yêu nơi sinh trưởng của mình, ông đâu cảm thấy đớn đau và điếm nhục tới thế. Ông Hai vẫn đang kể:
– Về tới nhà, ông nằm vật ra giường nhìn lũ con nhưng mà thấy tủi thân, nước mắt ông cứ tràn ra. Chúng nó cũng là trẻ em làng Việt gian ấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hất hủi ấy ư? Ông ngờ ngợ chả nhẽ bọn ở làng lại đốn tới thế ư rồi ông tự kiểm điểm trong óc thấy họ đều là những người có ý thức yêu nước, yêu kháng chiến chẳng nhẽ lại đi làm cái điều điếm nhục đấy? Nhưng ko có lửa làm sao có khói. Ông cảm thấy tủi hổ. Chiều hôm đấy vợ ông về cũng có vẻ khác. Trong nhà có cái sự yên lặng thật là khó chịu. Mãi tới khuya vợ ông mới hỏi ông về cái tin đấy. Ông yên lặng rồi gắt lên vậy là bà đấy im bặt. Ba 4 ngày hôm sau ông ko dám bước chân ra ngoài chỉ ở trong gian nhà chật chội để nghe ngóng tin tức. Khi nào ông cũng thom thóp lo sợ, hễ nghe tới chuyện đấy là ông lại giật thột. Ông thù ghét bọn phản bội làng, phản bội Non sông. Nỗi đớn đau và điếm nhục và lo sợ của ông lên đến cao độ lúc nghe tin dân chúng địa phương có người làng Dầu sơ tán tới là họ tẩy chay dân làng ông, “tới đâu có người chợ Dầu người ta cũng đuổi như đuổi hủi”, ngay mụ chủ nhà cũng đã đuổi khéo vợ chồng, con cái ông ra khỏi nhà. Trước hoàn cảnh đấy, ông tuyệt vọng mà ông nhất mực ko chịu trở về làng: “Về làng là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ”. Cũng chẳng thể đi đâu, ở đâu, người ta cũng đuổi người làng chợ Dầu của ông. Trong tâm cảnh đớn đau tủi hờn, ông hàn ôn với thằng con út. Sau lúc hàn ôn xong, nỗi khổ của ông với đi phần nào.
Tôi lặng đi trong xúc động. Thật thương cho ông Hai. Không hiểu sao nước mắt đã nhòe trên mặt tôi. Ông Hai lấy tay quệt nước mắt cho tôi cười nói: Coi cháu kìa! Mau nước mắt quá! Nghe ông nói tôi chỉ biết cười ngượng. Vội hỏi cho đỡ ngượng:
– Vậy tin làng chợ dầu theo tây được cải chính lúc nào?
Nghe tôi hỏi ông Hai ngẩn người ra. Tôi biết mình đã lỡ lời. Nhưng 1 thoáng yên lặng trôi qua, ông nói với giọng xúc động:
– 1 hôm khoảng 3 giờ chiều, có người con trai tới nhà ông chơi. Ông đấy rủ ông đi theo ông đấy, tới sẩm tối ông mới về. Khi đấy ông rất vui. Tới bực cửa ông đã bô bô khoe rằng Tây nó đốt nhà mình rồi, ông chủ tịch làng ông vừa mới lên cải chính, ông đấy cho biết cái tin làng ông theo Tây làm Việt gian là sai. Nỗi vui tươi của ông thật vô bến bờ. Ông phóng khoáng sắm quà cho các con, ông muốn chia sẻ thú vui sướng đấy cho mọi người trong ấy có cả mụ chủ nhà từng gieo cho ông nhiều nỗi bực dọc, căm tức. Cứ thế ông lật đật đi khoe khắp nơi, tối hôm đấy ông còn sang gian bác Thứ chuyện trò về làng của mình.
Nói xong ông đưa tay quệt nước mắt đã rơi lúc đề cập kỉ niệm ấy. Tôi cảm thấy mình thật bé nhỏ lúc nghĩ tới ông. Ông Hai đã gắn tình yêu si mê làng mạc của mình với tình yêu tổ quốc. Điều này làm nên con người lớn lao trong ông. Cũng chính vì vậy nhưng mà làng Dầu của ông có như thế nào đi nữa, ông vẫn 1 lòng, 1 dạ ủng hộ kháng chiến, ủng hộ Cụ Hồ. Đang trầm mặc với nghĩ suy của mình tôi nghe tiếng gọi
– Ông Hai ơi ngoài ủy ban có tin về làng chợ Dầu kìa?
Nghe tiếng gọi ông Hai mau chóng bảo tôi ngơi nghỉ còn ông sẽ chay ra ủy ban báo cáo về trường hợp của tôi. Nhìn dáng hối hả của ông nhưng mà tôi trào dâng niềm mến thương.
Reng! Reng! Tiếng chuông báo thức vang lên. Giờ tôi mới trông thấy mình đã có 1 giấc mơ thật đẹp. Ông Hai đã giúp hiểu thêm về vẻ đẹp tâm hồn của người dân cày Việt Nam thời đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lăng: Yêu làng, yêu nước và gắn bó với kháng chiến. Có nhẽ vì vậy nhưng mà tác phẩm “Làng” xứng đáng là 1 trong những truyện ngắn tuyệt vời của văn chương Việt Nam đương đại.
Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai – Mẫu 5
Hình ảnh ông Hai trong truyện “Làng” là 1 trong những hình ảnh đẹp đại diện cho người dân cày tầm thường, chân lấm tay bùn mà giàu lòng yêu nước trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hình tượng Ông Hai với những tình cảm chân thật và thắm đượm tình yêu quê hương, tổ quốc. Tính từ lúc đọc truyện ngắn “Làng” tôi thường ước mơ 1 lần được gặp ông để cùng chuyện trò với ông và mày mò điều gì đã xảy ra với ông. Và vào 1 ban đêm nọ, sau lúc đọc lại câu chuyện, tắt đèn và lên giường đi ngủ, điều tôi ước mơ đã thành sự thực. Tôi đã được gặp mặt và chuyện trò với ông Hai, ấy là những khoảnh khắc nhưng mà tôi chẳng thể quên được.
Trong ko gian mờ mờ ảo ảo tôi đã tới đây, ngôi làng nơi ông Hai ở. Tôi đưa mắt ra xa tôi thấy mình đang ở trong 1 ngôi làng bé của miền trung du. Cái làng này bé lắm, chỉ chừng mấy mươi nóc nhà thôi. Tôi mơ mòng đặt chân đi trên tuyến đường đất nằm giữa làng. Tôi thấy hàng tốp người đang đứng, ngồi dưới mấy gốc đa xù xì, cành lá sum sê đan vào nhau, trải bóng mát xuống mặt đường và bãi cỏ bao la. Tiếng người béo, tiếng trẻ em cộng với tiếng cười nói râm ran. Uốn vòng vèo phía dưới chân đồi là những thửa ruộng lúa xanh mượt, lấp loáng như 1 khúc sông quê. Thấp thoáng đâu ấy là mấy bóng cò trắng bay dật dờ….
Bỗng tôi giật thột, tôi cảm thấy cảnh này vừa lạ lạ vừa quen quen. Nghe đâu khung cảnh này tôi đã gặp đâu ấy rồi thì phải mà tôi chẳng thể nào nhớ được. Bỗng tôi trông thấy 1 ông lão ngồi trong 1 cái quán nước vừa qua. Vừa hút 1 điếu thuốc lào, uống 1 bát nước chè tươi hot, ông tóp tép cái mồm như đang đắc chí 1 điều gì ấy trong đầu. Tôi bạo dạn tiến lại gần. Bấy giờ tôi mới nhìn rõ ấy là 1 ông lão với dáng người mảnh mai, đầu chít khăn gọn ghẽ. Tôi đoán ông độ trên dưới 6 mươi tuổi. À, ông Hai thì phải? Nghe đâu đã có lần tôi được gặp mặt và chuyện trò với ông Hai rồi thì phải? Tôi thấy ông quen lắm.
– Cháu chào ông? Ông có phải là ông Hai ko ạ? Ông có thể cho cháu biết đây là đâu ko ạ? Tôi hỏi.
– Ừ, ông là ông Hải. Cháu ko biết mình đang ở nơi sơ tán à! Thầy u cháu đâu rồi? – Ông đáp
– Cháu ko biết vì sao cháu lại ở đây? Ông có thể giúp cháu về nhà được ko ạ?
Ông Hai đặt bát nước chè tươi xuống chõng và nói: Thôi, tốt nhất là cháu theo ông về nhà ông, rồi ông sẽ đi báo chính quyền đưa lên loa phát thanh của xã để tìm người thân cho cháu. Ông Hai đứng dậy, thanh toán nước, chèm chẹp mồm vài tiếng và vươn vai nói mập: về nhà nào…
Tôi đi theo ông về nhà. Trên đường đi về ông giới thiệu với tôi ông là người làng chợ Dầu và mọi người thường gọi ông với cái tên thân tình là ông Hai Thu. Khi ấy tôi mới công nhận đúng là mình đã gặp ông Hai thật. Tôi đang bâng khuâng ko biết điều này thực hay mơ đây thì đã về đến nhà ông. Vào nhà ông rót cho tôi 1 chén nước và hỏi chuyện tôi. Ông hỏi tôi từ đâu đến đây, tại sao tôi bị lạc thầy u…Tôi nhận thấy dường như ông ko thấy tôi quen thì phải hay ông ko nhớ…? Tôi chỉ giải đáp ậm ờ cho qua chuyện, vì tôi cũng ko rõ đang có chuyện gì xảy ra. Tôi bèn nói lảng hỏi sang chuyện khác:
– Cháu nghe nói làng mình nhiều người hùng lắm ông nhỉ! Ông có thể kể cho cháu nghe được ko?
Như bắt được mạch, ông Hai kể chuyện say sưa. Ông kể chuyện về làng, về những con người nơi đây 1 cách ham mê và nô nức lạ đời. Hai con mắt ông sáng lên, cái mặt lay chuyển lúc từ khi sự việc này sang sự việc khác. Ông khoe ở làng có cái phòng thông tin – tuyên truyền được xây dựng lạc quan, phổ quát nhất vùng này, cột phát thanh thì cao bằng ngọn tre, cứ chiều chiều loa nói cả làng đều nghe thấy. Ông khoe làng ông có nhiều nhà ngói nằm san sát, cả làng sầm uất như trên tỉnh. Đường trong làng toàn lát bằng đá xanh, trời mưa gió nhưng mà phải đi khắp đầu làng cuối ngõ cũng ko sợ bùn dính tới gót chân. Tháng 5 ngày mười vào mùa gặt nhà nhà phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng, ko có lấy 1 hạt thóc bị dính đất.
Dù những điều này tôi đã đọc thuộc lòng trong truyện mà lúc nghe ông kể tôi vẫn cảm thấy xúc động. Ông Hai nhìn tôi say sưa kể tiếp: Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, người người đi tản cư, nhà nhà đi tản cư mà ông thì muốn ở lại làng cùng anh em quân nhân và dân binh kháng chiến bám làng để đánh giặc. Nhưng vì cảnh ngộ gia đình nên ông vẫn phải cùng gia đình đi sơ tán. Ở nơi sơ tán, ông rất nhớ quê hương và thường hay kể về làng mình cho những người nơi sơ tán nghe. Ngày nào ông cũng ra phòng thông tin để nghe tin tức kháng chiến ở quê hương mình. Tâm can ông cứ nhảy múa hết cả lên lúc nghe được tin hay, tin quân ta đánh được địch.
Kể tới đây ông ngừng lại, có vẻ trầm mặc nghĩ suy. Tôi vội hỏi:
– Chuyện gì xảy ra vậy ông? Sao ông ngoại trừ tiếp?
Ông Hai nhìn tôi với cặp mắt đầy suy tư, tâm cảnh:
– Cứ từ chứ! Chờ ông uống miếng nước.
Nói xong ông lấy cốc nước uống 1 ngụm. Ông kể tiếp: Hôm đấy ông nghe được tin có người dân làng chợ Dầu của ông theo giặc làm Việt gian. Cổ họng ông nghẹn đắng lại, mặt ông trĩu nặng. Ông lặng đi, tưởng như không thở được. 1 khi lâu ông mới đằng hắn 1 cái, nuốt vào trong lòng có cái gì ấy vướng ở cổ, ông chạy đi hỏi lại về cái tin đấy, thì người ta đã khẳng định lại 1 cách vững chắc. Ông cúi gằm mặt xuống, đứng lảng ra chỗ khác rồi đi thẳng 1 mạch về nhà về nhà. Ông buồn quá, buồn tận trong đáy lòng.
Cuộc gặp mặt và chuyện trò với ông Hai của tôi như đang khởi đầu vào cao trào. Nghe ông kể tới đây tôi có thể cảm thu được tâm cảnh ông lúc ấy. Có gì ấy đớn đau, tủi hổ cho ông Hai lúc nghe được 1 người phụ nữ sơ tán từ dưới xuôi lên nói: “Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây rồi”, “Việt gian từ thằng chủ tịch nhưng mà đi cơ ông à!”, Niềm kiêu hãnh bao xưa nay bỗng chốc tan nát, sụp đổ ngay trước mặt ông. Giá như ông ko yêu nơi sinh trưởng của mình tới thế, ngày giờ đây ông đâu cảm thấy đớn đau và điếm nhục tới tương tự. Ông Hai kể tiếp:
– Về tới nhà, ông nằm vật ra giường trông thấy lũ con nhưng mà tủi thân quá, nước mắt ông cứ chảy ràn rụa ra. Bọn trẻ chúng nó cũng là trẻ em làng Việt gian ấy ư? Chúng nó bị người ta rẻ rúm, hất hủi ấy ư? Ông ngờ ngợ chả nhẽ những người hầu lại làng lại đốn tới thế ư? rồi ông tự điểm lại trong đầu thấy họ đều là những người đều có ý thức yêu nước, yêu quê hương, yêu kháng chiến, chẳng nhẽ lại đi làm cái điều điếm nhục đấy sao? Ông do dự, nghĩ suy mà “ko có lửa làm sao có khói”. Ông cảm thấy tủi hổ hết sức. Chiều hôm đấy bà nhà ông về, bà đấy cũng có vẻ khác biệt. Trong nhà còn đó cái sự yên lặng thật là khó chịu. Mãi tới khuya bà đấy mới hỏi ông về cái tin tức đấy. Ông nghe bà hỏi, ban đầu ông yên lặng, rồi sau ấy ông gắt lên vậy là bà im bặt. Phcửa ải tới 3 4 ngày hôm sau ông vẫn ko dám bước chân ra ngoài đường chỉ ở trong gian nhà chật chội để nghe ngóng tin tức từ cái loa phóng thanh của xã. Khi nào ông cũng trong hiện trạng thom thóp lo sợ, hễ nghe tới tin chiến sự là ông lại giật thột. Ông thù ghét bọn phản bội bán làng, bán Non sông. Nỗi đớn đau, điếm nhục và lo sợ của ông lên đến cực điểm lúc nghe tin dân chúng địa phương có người làng Dầu sơ tán tới là họ tẩy chay người dân làng ông, “đi tới đâu có người làng Dầu người ta cũng đuổi như đuổi hủi”, ngay mụ chủ nhà cũng đã đuổi khéo vợ chồng, con cái nhà ông ra khỏi nhà. Trước hoàn cảnh đấy, tuyệt vọng lắm mà ông nhất mực ko chịu trở về làng: “Về làng là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ”. Cũng chẳng thể đi đâu, đâu đâu người ta cũng đuổi người làng ông. Trong tâm cảnh đớn đau, tủi hổ, ông hàn ôn với thằng đàn ông út. Như trút được bầu hàn ôn xưa nay nay, nỗi khổ của ông cũng vơi đi phần nào.
Tuy được gặp mặt và chuyện trò với ông Hai tới đây, tôi cũng lặng đi trong xúc động. Thật thương cho ông Hai. Không hiểu sao nước mắt đã nhòe trong khóe mắt và chỉ trực tràn ra trên bộ mặt tôi. Ông Hai lấy tay quệt nước mắt cho tôi và cười nói: Xem cháu kìa! Mau nước mắt quá! Nghe ông nói vậy tôi chỉ biết cười ngượng. Tôi hỏi ông:
– Vậy tin làng Chợ Dầu theo Tây được đính chính lúc nào hả ông?
Nghe tôi hỏi vậy ông Hai ngẩn người ra. Tôi biết mình đã lỡ lời. Thoáng chút yên lặng trôi qua, ông nói với tôi, giọng xúc động:
– Vào 1 hôm khoảng 3 giờ chiều, có 1 người con trai tới nhà ông chơi. Ông đấy rủ ông đi theo ông đấy nhưng mà ko biết ông đi đâu, tới sẩm tối ông mới về nhà. Khi đấy tâm cảnh ông rất vui. Tới bậc cửa ông đã bô bô khoe rằng thằng Tây nó đốt nhà mình rồi, ông chủ tịch làng ông vừa mới lên khu sơ tán để cải chính, ông đấy cho biết cái tin làng chợ Dầu của ông theo Tây làm Việt gian là sai hoàn toàn. Niềm vui tươi của ông thật vô bến bờ biết bao. Ông sắm quà cho các con, ông muốn san sẻ thú vui sướng đấy cho mọi người trong ấy có cả mụ chủ nhà từng gieo cho ông bao nỗi bực dọc, căm tức. Cứ thế ông lật đật đi khoe khắp nơi, tối hôm đấy ông còn sang gian bác Thứ kể chuyện về làng của mình trong tâm cảnh kiêu hãnh, vui sướng.
Nói xong ông đưa tay quệt nước mắt đã rơi trên gò má lúc đề cập kỉ niệm ấy. Tôi cảm thấy mình thật bé nhỏ trước ông Hai. Ông đã gắn tình yêu si mê quê hương, làng mạc của mình với tình yêu tổ quốc. Điều này đã làm nên con người lớn lao trong ông. Cũng chính vì vậy nhưng mà có như thế nào đi nữa, ông vẫn 1 lòng, 1 dạ ủng hộ kháng chiến, ủng hộ Cụ Hồ. Đang trầm mặc với nghĩ suy của mình tôi nghe tiếng gọi
– Ông Hai ơi ngoài ủy ban đang nói tin về làng chợ Dầu của ông kìa?
Nghe tiếng gọi ông Hai vội vã đứng dậy, ông bảo tôi ngơi nghỉ còn ông mau chóng chạy ra ủy ban nghe tin cùng lúc báo cáo về trường hợp của tôi. Nhìn cái dáng hối hả của ông nhưng mà tôi trào dâng niềm mến thương.
Reng! Reng! Reng! Tiếng chuông báo thức vang lên làm tôi giật thột tỉnh dậy. Giờ tôi mới trông thấy mình đã có 1 giấc mơ thật đẹp. Cuộc gặp mặt và chuyện trò với ông Hai đã giúp tôi hiểu thêm về vẻ đẹp tâm hồn của người dân cày Việt Nam thời đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lăng nước ta. Ấy là lòng yêu làng, yêu nước và gắn bó với kháng chiến. Có nhẽ vì vậy nhưng mà tác phẩm “Làng” xứng đáng là 1 trong những truyện ngắn tuyệt vời của văn chương Việt Nam quá trình văn chương đương đại.
Hình dung gặp mặt và chuyện trò với ông Hai – Mẫu 6
Nhắc tới đối tượng ông 2 trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân là đề cập hình ảnh 1 người dân cày chịu thương cần cù, 1 hình ảnh đại diện cho phân khúc dân cày Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp lớn lao của dân tộc. Ấy là hình ảnh của những người dân yêu nước da diết, yêu nơi chôn nhau cắt rốn của mình bằng 1 tình cảm thiêng liêng. Đã bao lần tôi ước mơ được 1 lần gặp đối tượng ông Hai để chuyện trò với ông về câu chuyện cuộc đời ông. Thế rồi 1 hôm lúc vừa khép lại trang truyện, đi ngủ tôi mơ mòng thấy mình được chuyện trò cùng đối tượng ông Hai. Đây quả thật là 1 giấc mơ chẳng thể nào quên được.
Tôi đứng giữa 1 khoảng ko mờ ảo cảnh vật khắp nơi đều rất đơn sơ mộc mạc nó giống với ngôi làng của nhà ông nội tôi vậy. À dường như tôi nhớ ra một mai chính là ngôi làng của ông Hai trong truyện ngắn của nhà văn Kim Lân. Ngôi làng bé lắm áng chừng chỉ được khoảng mấy mươi nóc nhà. Tôi bước đi trong tuyến đường gạch bé giữa làng, bao quanh là dăm 3 tốp người đang xì xầm nói chuyện nào thì ruộng con trâu cái cày, nào là chuyện ruộng lúa trỗ bông… Tiếng cười nói của tụi trẻ em đang đùa nhau râm ran. Xa xa đàn cò đang sải cánh bay rập rờn….
Tôi đi tới gốc đa ven đường thì trông thấy 1 người con trai khoảng trên dưới 6 chục tuổi đang ngồi rít điếu cày trong quán nước gần ấy. Người con trai hớp miếng nước chè tươi rồi tóp tép cái mồm. Tôi tới gần, khi này mới thấy rõ được dạng hình của ông, người mảnh mai đầu chít khăn gọn ghẽ. Tôi nhớ dường như đây chính là ông Hai. Tôi liền bạo dạn hỏi:
– Ông là ông Hai có phải ko ạ? Cháu thấy quen lắm ạ?
– Ừ ông là ông Hai. Ôi dào quen gì đây là nơi sơ tán đấy nhưng mà. Bao nhiêu người tới người đi. Thế ba má cháu đâu nhưng mà đi lạc thế này? Ông giải đáp.
– Cháu ko nhớ ạ. Ông có thể đưa cháu về được ko?
Ông Hai nhón trong túi thanh toán nước chè rồi dẫn tôi theo sau. Vừa đi ông vừa bảo: “được rồi tôi cứ dẫn cháu về nhà tôi nghỉ lát tí tôi lên báo cho phòng thông tin xã để tìm người thân cho cháu.
Tôi nối bước theo ông Hai về nhà ông. Dọc đường đi tôi thấy ông chào hỏi mọi người nhiệt tình à hóa ra mọi người thường gọi ông là ông Hai Thu ấy. Thế là mong ước của tôi đã thành sự thực rồi tôi đã gặp được ông Hai thật rồi. Về tới nhà ông Hai hỏi tôi tại sao lại bị lạc, ở đâu nhưng mà tới đây? Tôi cũng chẳng biết chuyện gì đang xảy ra nên cũng chỉ ậm ờ trước câu hỏi của ông. Tôi bèn hỏi ông chuyện khác: “Ông ơi dường như làng mình nhiều người hùng lắm ạ? Ông có thể kể cho cháu nghe chuyện các chú đấy đánh giặc thế nào ko ạ?
Như được chạm đúng vào mạch ông Hai thao thao bất tuyệt kể cho tôi nghe về làng ông, với 1 nỗi lòng ham mê tới lạ. Ông khoe nào thì làng ông có cái phòng thông tin tuyên truyền lạc quan phổ quát, cột phát thanh cao quá ngọn tre, mỗi chiều loa gọi cả làng nghe thấy. Nào là cái làng của ông nhiều nhà ngói san sát, cả làng sầm uất như trên tỉnh. Đường trong làng lát toàn đá xanh mưa gió đi chân chẳng dính bùn. Tháng 5 ngày mươi vào mùa gặt phơi lúa thì sướng phải biết….
Dù rằng đã được đọc câu chuyện của nhà văn Kim Lân mà nghe ông Hai kể chuyện tôi vẫn thấy háo hức tới lạ. Sau ấy ông kể tiếp: Kháng chiến chống pháp bùng nổ, ông muốn ở lại cộng với anh em quân nhân bám làng đánh giặc thế mà ngặt nỗi vì cảnh ngộ gia đình nên ông phải sơ tán lên đây. Ở ấy ko ngày nào ông ko nhớ quê hương mỗi lúc nhớ quá ông lại kể về làng mình cho những người sơ tán nghe. Rồi lại hi hữu chạy lên phòng thông tin nghe tin tức quân ta đánh được địch nhưng mà ông vui như mở hội. Rối ông Hai có vẻ trầm mặc: Tôi vội hỏi:
– Ông sao thế ạ? Sao ông lại ngoại trừ tiếp?
Ông Hai nhấp ngụm nước trà rồi nói tiếp. Hôm đấy ông nghe được tin làng chợ Dầu đi theo Việt Gian ông buồn như không thở được, mạch máu trong ông nhu bị đông lại. Ông nghi ngại về cái tin đấy nhưng mà người ta thì khẳng định cứng ngắc. Ông cúi gằm mặt xuống rồi đi 1 mạch về nhà. Lòng ông trĩu nặng. Có cái gì ấy đớn đau tủi hổ lúc 1 người phụ nữ dưới xuôi sơ tán lên nói: “Cả làng nó đi theo tây rồi ông ạ, từ thằng chủ tịch nhưng mà xuống”. Niềm kiêu hãnh bao xưa nay của ông như sụp đổ. Giá như cái tình yêu quê hương của ông ko sâu đậm tới thế thì ông đã ko đớn đau tới thế này.
Về nhà ông nằm vật ra giường. Ông trông thấy lũ trẻ nhưng mà nước mắt cứ trào ra. Ấy thế ra chúng nó cũng là trẻ em làng Việt gian ấy. Chúng nó cũng chịu sự hất hủi rẻ rúm ấy. Thế rồi như chẳng thể chấp thuận được sự thực ông hình dung lại trong đầu những người dân làng ông đều là những người tình nước họ yêu kháng chiến tới thế vì sao lại bán nước? thế mà những lời nói kia thì sao? Không có lửa thì làm sao có khỏi? Hôm đấy bà nhà ông về bà cũng khác biệt chỉ tới tối bà mới dám hỏi ông về cái tin tức ấy, ban đầu ông yên lặng sau ông gắt um lên còn bà im bặt.
Phcửa ải tới mấy ngày hôm sau ông mới dám bước chân ra ngoài đường ông sợ mỗi lần cái loa phát thanh đề cập tin chiến sự. Nỗi đớn đau càng trở thành cao trào trong khi ở đâu người ta cũng đuổi người dân làng Dầu vì ko muốn cho lên sơ tán. Tới ngày mụ chủ nhà ông cũng cố tình đuổi khéo vợ chồng ông. Thế mà ông cương quyết ko đi đâu cả. Đi về là bán nước, bỏ cụ Hồ ông nhất mực ko làm.
Tới đây tôi cũng thấy nghèn nghẹn đau xót. Tôi thấy có thứ gì ấy nhấp nhánh trong suốt chảy ra từ khóe mắt của ông. Lấy tay quệt vội giọt nước mắt ông 2 kể tiếp:
Thế rồi 1 hôm vào khoảng 3 giờ chiều có 1 người con trai tới nhà ông chơi ông đấy rủ ông đi tới tối mới về. về tới nhà ông như hóa thành 1 con người khác. Tới bậc cửa ông đã hét toáng lên “thằng tây nó đốt nhà mình rồi, ông chủ tịch vừa lên báo thế, ông đấy bảo cái tin làng chợ Dầu theo tây là hoàn toàn sai trái”. Cái tin này như hồi sinh ông vậy. Ông phấn chấn lắm ông sắm quà cho mấy đứa con ông lật đật đi khắp nơi để khoe cái làng ông ko theo giặc. Ông chạy sang bác Thứ và lại thao thao bất tuyệt về cái làng của mình 1 cách đầy kiêu hãnh phấn kích.
Đề cập đây ông quệt vội giọt nước mắt phấn kích mỗi lần đề cập kỉ niệm ấy. Tôi như đắm chìm trong câu chuyện của ông 1 con người cả đời dành tình yêu cho làng cho nước cho quê hương bản sứ của mình. Chỉ tới lúc nghe tiếng người gọi ngoài cổng “ Ông 2 ơi ngoài ủy ban đang nói tin về làng chợ Dầu ông kìa”. Ông Hai mới lật đật bước ra dặn tôi ngơi nghỉ, ông ra xem tin tức gì cùng lúc báo cáo về hiện trạng của tôi.
Nhìn cái dáng vẻ khắc khổ của ông đề cập quê hương nhưng mà thấy thật đáng quý thật trân trọng biết bao.
Tiếng chuông báo thức vang lên. Ôi thế là tôi đã tới khi phải dậy tới trường rồi. Hóa ra tôi đã có 1 giấc mơ thật đẹp như thế ấy. Cuộc chuyện trò với ông khiến tôi phần nào thấu hiểu cuộc sống lam lũ của người dân trong cuộc kháng chiến lớn lao mà vẫn ánh lên tình yêu nước sự tin cậy bất tử vào cách mệnh và cụ Hồ.

TagsKim Lân Làng Văn mẫu lớp

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Văn #mẫu #lớp #Tưởng #tượng #gặp #gỡ #và #trò #chuyện #với #ông #Hai #trong #truyện #Làng


#Văn #mẫu #lớp #Tưởng #tượng #gặp #gỡ #và #trò #chuyện #với #ông #Hai #trong #truyện #Làng

Vik News

Vik News

Viknews Việt Nam chuyên chia sẻ những kiến thức hữu ích về hôn nhân – gia đình, làm đẹp, kinh nghiệm làm mẹ, chăm sóc dinh dưỡng khi mang thai kỳ, trước sau sinh, son môi , sữa ong chúa, nhà cửa nội thất (cửa gỗ, đèn chùm trang trí, bàn ăn, tủ bếp..)……

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button